ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HẠNH
M
M
Ộ
Ộ
T
TS
S
Ố
ỐB
B
I
I
Ệ
Ệ
C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
GT
T
R
R
Ì
Ì
N
N
H
HĐ
Đ
À
À
C
C
A
A
O
OC
C
H
H
Ấ
Ấ
T
TL
L
Ư
Ư
Ợ
Ợ
N
N
G
G
Ư
Ư
Ờ
Ờ
N
N
G
GC
C
A
A
O
OĐ
Đ
Ẳ
Ẳ
N
N
G
GT
T
C
CT
T
H
H
Ố
Ố
N
N
G
GK
K
Ê
Ê LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngµnh
Mã số:
Quản lý giáo dục
1.2. Quản lý chƣơng trình đào tạo 20
1.2.1.Các cách tiếp cận xây dựng chương trình 20
1.2.2. Quy trình phát triển chương trình đào tạo 22
1.2.3. Nội dung quản lý chương trình đào tạo: 27
1.2.4. Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo 32
1.3. Chiến lƣợc phát triển ngành Thống kê và trƣờng Cao đẳng Thống kê 33
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý chƣơng trình đào tạo các trƣờng
đại học, cao đẳng 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG THỐNG KÊ - TỔNG CỤC THỐNG KÊ 37
3
2.1. Vài nét về cơ quan Tổng cục Thống kê 37
2.2. Khái quát sự hình thành và phát triển của trƣờng Cao đẳng
Thống kê 38
2.2.1. Vị trí, chức năng 40
2.2.2. Nhiệm vụ. 41
2.2.3. Cơ cấu tổ chức của trường 42
2.2.4. Hệ thống cơ sở vật chất 43
2.2.5. Quy mô ngành nghề và chất lượng đào tạo 44
2.2.6. Đặc điểm chung và cấu trúc của chương trình đào tạo 47
2.2.7. Các nguồn kinh phí 48
2.2.8 Những điểm mạnh và tồn tại 48
2.3. Quản lý chƣơng trình đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Thống kê 49
2.3.1. Thực trạng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Thống kê 49
2.3.2. Nhận thức của cán bộ, giảng viên trường Cao đẳng Thống kê 52
2.3.3. Phân cấp quản lý chương trinh đào tạo 53
2.3.4. Thiết kế chương trình đào tạo 57
2.3.5. Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo 60
2.3.6. Giám sát đánh giá chương trình 61
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Tại đại hội toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã xác định trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất văn hóa tinh thần của nhân
dân, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại hóa”, “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong
những động lực quan trọng trong thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Đảng, Nhà nước ta coi phát triển giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, và
giáo dục đại học được xem là “quốc sách kép” vì nó thực hiện đồng thời 2
nhiệm vụ “đào tạo và nghiên cứu khoa học”
Trong bối cảnh mới của quốc tế và trong nước, với những đổi thay to
lớn trong đời sống kinh tế xã hội, hơn bao giờ hết, chất lượng của giáo dục và
đào tạo trở thành vấn đề sống còn, quyết định sự thành bại của cả một quốc
gia trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới. Yếu tố quyết định chất lượng
của giáo dục đại học là chương trình giáo dục – chương trình một khoá học,
chương trình một môn học.
Trong số nhiều nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục đại học, có giải
pháp đổi mới nội dung, phương pháp và qui trình đào tạo. Nghị quyết chỉ rõ phải
- Cơ cấu lại khung chương trình; bảo đảm sự liên thông của các cấp
học, giải quyết tốt mối quan hệ về khối lượng kiến thức và thời lượng học tập
giữa các môn giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao hiệu
quả đào tạo từng môn học v.v.
2
- Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách
học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư liệu giáo dục
nhu cầu thực tiễn của xã hội, chương trình đào tạo đã trở thành vấn đề sống
còn của các cơ sở đào tạo. Chỉ có xây dựng và nâng cao chất lượng đào tạo
mới nâng cao được chất lượng giáo dục.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 do Thủ tướng chính phủ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhận định rằng trong thời gian vừa
qua, quản lý là một khâu yếu và là nguyên nhân của những yếu kém khác
trong giáo dục nước ta. Vì vậy, trong bảy giải pháp chiến lược phát triển giáo
dục trong thập niên tới, đổi mới quản lý giáo dục được coi là khâu đột phá.
Bên cạnh đó, đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục cũng là giải
pháp trọng tâm trong bảy giải pháp được nêu trong chiến lược phát triển giáo
dục. Chiến lược cũng nêu ra những yêu cầu như nâng cao hiệu lực chỉ đạo của
Chính phủ, đổi mới cơ chế và phương thức quản lý giáo dục.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Tại điều 39 Luật giáo dục ghi rõ “Đào tạo trình độ Cao đẳng giúp sinh
viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết
những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo.
Ngày 28/12/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
201/2001/QD-TTg về chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010, trong phần
mục tiêu chung có ghi “ tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo
dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực
tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập. Phấn
đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh
vực so với các nước phát triển trong khu vực ” và mục tiêu phát triển giáo
dục đại học, cao đẳng là: “giáo dục đại học, cao đẳng đáp ứng nhu cầu
nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế xã hội của thời kỳ
4
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và
hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện
với mong muốn góp phần vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ làm công tác Thống kê, kế toán, tin học cho ngành và cho đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những biện pháp quản lý chương trình đào tạo nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học tại trường Cao đẳng Thống kê
3. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Thống kê
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu:
Công tác quản lý chương trình đào tạo tại trường Cao đẳng Thống kê
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường
4. Giả thuyết khoa học
Muốn nâng cao chất lượng, phát huy được hiệu quả của việc đào tạo tại
trường Cao đẳng Thống kê cần sử dụng những biện pháp quản lý khoa học
đồng bộ chương trình đào tạo tại trường Cao đẳng Thống kê.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận
Hệ thống các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
Cơ sở lý luận về phát triển chương trình và quản lý chương trình.
Một số nội dung, phương pháp, công cụ quản lý nhà trường liên quan
đến đề tài.
5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng chƣơng trình đào tạo và quản lý
chƣơng trình đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Thống kê.
5.3 Đề xuất những biện pháp quản lý chƣơng trình đào tạo góp phần
nâng cao chất lƣợng đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Thống kê
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu biện pháp quản lý chương trình đào tạo
tại trường Cao đẳng Thống kê và đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác này trong giai đoạn hiện nay.
1.1.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt buộc sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng
suất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều tra,
kiểm tra… và phải có người đứng đầu.
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra nhiều khái
niệm về quản lý
- F.W. Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết quản
lý khoa học” đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc
dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông:
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế
nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
- Henry Fayon (1841-1925) cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông khẳng định: “Khi con
người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công
việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt
lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”.
Ở nước ta cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu khái
niệm quản lý.
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể những người quản lý đến tập thể những người lao động
(khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [22;tr 12]
8
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10]
Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan
trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy - học được dự kiến
trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một
hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh
giá một cách tối ưu việc dạy - học”. Đây là định nghĩa được nhiều nhà nghiên
cứu và thực hành quan tâm [10; tr. 14]
Ngày nay, chương trình giáo dục hiện nay được xem như là tập hợp các
mục tiêu và giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động
được kế hoạch hoá và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với đời sống xã hội.
Mức độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một chương trình giáo
dục. Mục đích của việc thiết kế một chương trình giáo dục phụ thuộc vào đối
tượng người học của chương trình giáo dục đó. Và quan niệm về chương trình
giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và
bảng danh mục các nội dung giảng dạy. Chương trình vừa cần cụ thể hơn, bao
quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm các bộ phận cấu thành:
- Mục tiêu học tập
- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập
- Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập
- Đánh giá kết quả học tập.
Như vậy, cấu trúc của chương trình bao gồm hai thành phần chính: sự
hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian
học tập và cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở
thành hiện thực.
Có thể xem định nghĩa sau đây đã bao hàm được những ý đó:
Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các
mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi,
10
mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức
học tập, cách đánh giá kết quả học tập v.v nhằm đạt được các mục tiêu học
Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy chương trình đào tạo là tài liệu
quan trọng nhất trong mọi quy trình đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, vì vậy
muốn hoàn thành tốt một chương trình đào tạo cần phải có sự quản lý sao cho
trong quá trình triển khai nó luôn đi đúng theo mong muốn của người thiết kế.
Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (chương trình khung) được
quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục, các tổ chức
xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một
khóa đào tạo, nó phản ánh cụ thể mục tiêu nội dung, cấu trúc, trình tự, cách
thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn
khóa đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng.
Chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình
đào tạo các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.1.3. Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường
1.1.3.1 Quản lý giáo dục
Trong cuốn“Những khái niệm về quản lý giáo dục” của Nguyễn Ngọc
Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học. Giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [22; tr. 12]
Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hành
động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2; tr. 31]
12
Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể QL
đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động/công tác giáo dục. Nói
một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục
quy định cụ thể của Chính phủ.
Luật giáo dục của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
số 38/2005 ngày 14/6/2005 nêu rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc
dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà
nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để trường
công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:
a, Trường công lập do nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.
b, Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động
c, Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân
thành lập đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài
ngân sách nhà nước [29]
Theo Đặng Quốc Bảo, nhà trường theo quan điểm giáo dục học và quản
lý giáo dục như sau [3; tr. 133]
Sơ đồ 1.1. Nhà trƣờng theo quan điểm giáo dục học. a, Nhóm các nhân tố cơ bản:
Quản
lý
TH
M
TR
L
H
E
QL
L
MO: Môi trường đào tạo(bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội)
BO: Bộ máy tổ chức đào tạo
QI: Quy chế đào tạo
HE: Hệ thống tạo ra các mối cân bằng
L: Kỹ năng lãnh đạo của người lãnh đạo
d, Nhân tố phát năng
3T: Yếu tố quản lý với 3 nhân tố: Tiền- Tài- Tâm.
Có thể bố trí 10 nhân tố trên trong một hình ngôi sao mà nút bấm
quản lý ở trung tâm ngôi sao. Quản lý nhà trường là sự liên kết 10 nhân tố
trên làm cho chúng vận động đồng bộ tạo ra sự phát triển toàn vẹn của quá
trình đào tạo
Mối liên hệ trong cấu trúc một nhà trường
15
Tam giác MNP là mối quan hệ biện chứng với nhau giữa các đỉnh và
trong giáo dục, mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo được
thể hiện trong thực tế đào tạo ở Th, Tr, Đ. Đó là lực lượng đào tạo (thầy cô
giáo).
Và để tích hợp được MNP và Th, Tr, Đ thì cần nhớ 6 nhân tố gắn kết:
H-hình thức đào tạo, MO, BO, QI,HE. Các nhân tố động lực tạo nên khối cấu
trúc nhà trường. Nhân tố làm cho toàn bộ cấu trúc vận động tạo ra sự phát
triển toàn vẹn quá trình đào tạo là nhân tố quản lý với 3 tố chất quan trọng là
Tiền – Tài - Tâm.
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm tất cả các tác động của chủ thể
quản lý đến hoạt động trong cấu trúc nhà trường, nhằm vận hành hệ thống tổ
chức nhà trường đạt tới các mục tiêu của chính nhà trường đề ra và các mục
tiêu của nhà nước và xã hội đòi hỏi.
1.1.4. Chất lượng, chất lượng đào tạo, Quản lý chất lượng đào tạo
1.1.4.1. Chất lượng
Nếu xem xét chất là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì chất lượng
của quá trình đào tạo lại được quyết định bằng sự thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng trong giáo dục. đó có thể là sinh viên, phụ huynh học sinh, hay chính
phủ, doanh nghiệp - những người trả tiền cho dịch vụ đào tạo.
Theo Nguyễn Đức Chính trong cuốn “Kiểm định chất lượng trong giáo
dục đại học thì hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm về chất lượng. Chất
lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các trường đại học và việc
phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ
quan trọng của tất cả các trường đại học và việc phấn đấu nâng cao chất lượng
đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất trong bất kỳ cơ
sở đào tạo đại học nào. Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng
như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác
17
định, khó đo lường và cách hiểu của người này khác với cách hiểu của người
kia. Hiện nay tồn tại 7 quan điểm về chất lượng trong giáo dục đại học:
- Chất lượng đánh giá bằng đầu vào: một số nước phương Tây có quan
điểm cho rằng “chất lượng của một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng
hay số lượng đầu vào của trường đó”
- Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra: một quan điểm khác về chất
lượng giáo dục đại học cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan
trọng hơn nhiều so với “đầu vào”của quá trình đào tạo. “Đầu ra” chính là sản
phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc
của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của
trường đó.
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”: Quan điểm thứ 3
về chất lượng giáo dục đại học cho rằng một trường đại học có tác động tích
cực tới sinh viên khi ra trường đó tạo sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ
cá nhân của sinh viên. “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu
ra” mà trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà
Theo định nghĩa thứ 1, cần có bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục đại học về
tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa
vào bộ tiêu chuẩn đó. Khi không có bộ tiêu chí chuẩn đó thì việc kiểm định
chất lượng giáo dục đại học sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh
giá. Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế
xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó.
1.1.4.3. Nâng cao chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo phụ thuộc ở nhiều khâu. Nâng cao chất lượng đào
tạo chính là sự cải tiến các tác động vào các khâu trong quá trình đào tạo
nhằm tạo ra sản phẩm đào tạo có những năng lực phẩm chất mà xã hội
mong đợi.
19
Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo chính là cải tiến hệ thống tổ hợp
các biện pháp để tăng hiệu quả hiệu suất của mọi khâu trong quá trình đào tạo
nhằm đạt kết quả cao nhất, có lợi cho người học, cho xã hội.
Nâng cao chất lượng đào tạo chính là cải tiến liên tục ở mọi khâu, mọi
công đoạn, mọi yếu tố có liên quan đến người dạy, người học, người quản lý,
người phục vụ.
1.1.4.4. Quản lý chất lượng
Từ những vấn đề nêu trên thì nhiệm vụ, nội dung quản lý giáo dục đào
tạp tập trung vào các khâu: khâu phát hiện có nhiệm vụ tìm ra được những
yếu tố, khía cạnh yếu kém trong toàn bộ quá trình giáo dục và đào tạo, những
học sinh yếu kém toàn diện, từng mặt, từng khâu xử lý có nhiệm vụ đề ra
những biện pháp và tổ chức thực hiện các biện pháp đó nhằm khắc phục
những yếu kém đã phát hiện ở khâu trước. Việc thực hiện 2 khâu trên được
tiến hành theo các bước sau: “kiểm tra - đánh giá mức độ đạt được. Xác định
nguyên nhân- đề ra biện pháp - tổ chức thực hiện.
Khi quản lý chất lượng cần thiết phải có sự phân công phối hợp. Phân
công ngang là phân công giữa các giảng viên bộ môn, giảng viên chủ nhiệm,
động của giảng viên, học sinh, sinh viên và các tổ chức sư phạm của nhà trường
trong việc thực hiện các mục tiêu đào tạo đã được cụ thể hóa thành kế hoạch và
các chương trình môn học nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã quy định.
Mục tiêu của quản lý chương trình đào tạo là bảo đảm thực hiện đầy đủ
các mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy theo đúng
tiến độ thời gian quy định; bảo đảm quá trình đào tạo đạt được kết quả tốt và
chất lượng cao.
1.2.1.Các cách tiếp cận xây dựng chương trình
1.2.1.1 Tiếp cận nội dung
Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung-kiến thức,
chương trình đào tạo chú trọng hình thành hệ thống nội dung đào tạo và
21
việc trang bị cho người học hệ thống tri thức. Cách tiếp cận này dễ gây
hiện tượng dạy học thụ động, quá tải, nhồi nhét nội dung trong một thời
gian đào tạo hạn chế, không phù hợp với sự phát triển nhanh chóng về khoa
học và công nghệ hiện nay.
Chương trình đào tạo chỉ là bản phác thảo nội dung đào tạo, chính vì
vậy cách tiếp cận nội dung cho đến nay đã trở nên lạc hậu, phần lớn các
trường đại học ở các quốc gia phát triển không còn sử dụng cách tiếp cận này
trong việc xây dựng chương trình đào tạo [10;tr. 16]
1.2.1.2 Tiếp cận mục tiêu
Chương trình đào tạo được thiết kế xuất phát từ mục tiêu đào tạo.
Chương trình thể hiện cả quá trình đào tạo (mục tiêu, nội dung, phương pháp,
quy trình, đánh giá) và chú trọng kết quả đầu ra (mục tiêu) của quá trình đào
tạo. Mục tiêu được xác định rõ ràng, cụ thể, có thể định lượng được để là cơ sở
đánh giá. Ưu điểm cơ bản của cách tiếp cận này là tạo sự tường minh và quy
trình chặt chẽ, quy chuẩn của cả quá trình đào tạo, dễ kiểm tra, đánh giá nhưng
cũng có nhược điểm là tạo ra sự cứng nhắc, khuôn mẫu, đồng nhất trong quá
trình đào tạo chưa quan tâm đến tính đa dạng và nhiều khác biệt của các nhân