Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Dân tộc là sản phẩm của của 1 quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người. trước khi dân tộc xuất hiện thì loài người đã traỉ qua những hình thức cộng
đồng người từ thấp đến cao như : thị tộc, bộ lạc, bộ tộc…Theo Mac-Lênin thì dân
tộc là 1 nội dung có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề
thực tiễn nóng bóng và thận trọng đòi hỏi phải được giải quyết 1 cách đúng đắn
và thận trọng.
Tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiêu.
Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:
- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
người”.
- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào
cái siêu nhiên”.
- Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân
trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì
anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
- Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn
giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có
trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn
giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng
bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”
NỘI DUNG
PHẦN I: DÂN TỘC
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
I. DÂN TỘC VÀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN CỦA DÂN TỘC
1. Khái niệm dân tộc
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:
các quan hện dân tộc ( về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…)
Trên phạm vi thế giới, sự thức tỉnh ý thức dân tộc đã làm bùng lên phong trào
đấu tranh đòi giải phóng dân tôc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế
quốc và chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức, đấu tranh chống kỳ thị dân tộc,
phân biệt chủng tộc. Trong thời đại ngày nay, các dân tộc còn bị cuốn hút vào xu
hướng liên minh, liên kết quốc tế và khu vực vì các lợi ích kinh tế, chính trị, văn
hóa, khoa học kỹ thuật… mở cửa, hòa nhập cũng là một xu thế chủ yếu trong mối
quan hệ giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Đảng lập, tự chủ đi đôi với mở Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Giữ vững độc
rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” là nguyên
tắc thống nhất lối ngoại của Đảng và Nhà nước ta ( Văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, HN 1996, tr 84).
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC
VN ta có hơn 60 dân tộc anh em,mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng
tạo nên sự khác biệt với các dân tộc khác. Có 4 tiêu chí của tộc người.:
1.Ngôn ngữ dân tộc là 1 giá trị văn hoá đặc biệt
Ngôn ngữ là công cụ cơ bản cho sự cộng đồng các cá nhân bao gồm vào 1 tộc
người phù hợp, phân định họ với đại bộ phận các tộc người khác.Hay nói 1 cách
dể hiểu thì ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản để người ta phân biệt các dân tộc khác
nhau. Thật vậy, nếu ta lắng nghe ngưởi khác nói tiếng việt đúng,hay thì ta cho
người đó là người Việt. Hoặc khi những người không quen biết nhưng cùng
chung 1 tộc người gặp nhau đâu đó ngoài biên giới quốc gia thì người ta dễ nhận
biết nhau qua ngôn ngữ.
Như 1 quy tắc, tất cả các thành viên gắn bó với nhau trong 1 tộc người thì cùng
nói 1 thứ tiếng. Đó được gọi là tiếng mẹ đẻ. Nhưng đều đó không có nghĩa trên
thế giới có bao nhiêu tộc người thì có bay nhiêu ngôn ngữ.
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
Thực tế cho thấy, có nhiều ngôn ngữ của tộc người khác lại được sữ dụng với
đất đai của các cư dân bản đại Bắc và Nam Mĩ, châu Phi, châu Đại Dương.
Có nước mở rộng lãnh thổ thì sẽ cĩ nước bị thu hẹp lãnh thổ vì theo quy luật.
Lãnh thổ bị suy giảm do nguyên nhân chiến tranh hủy diệt, dịch bệnh… hoặc l bị
tiêu vong của đại bộ các dân tộc ở các nước châu Mỹ, châu Phi và châu Đại
Dương.
Trong lịch sử có tình trạng một dân tộc đã hình thành trên một lãnh thổ xác
định, rồi trong bước tiếp theo, một bộ phận và có khi là bộ dân tộc phải rời bỏ
lãnh thổ cư trú ở những nước khác.
3. Cơ sở kinh tế của dân tộc
Để hình thành một tập thể lớn những con người nói một ngôn ngữ, điều cần
thiết không chỉ có một lãnh thổ chung m giữa họ cịn cĩ sự cộng đồng kinh tế rộng
lớn.
Mỗi dân tộc trong cơ cấu tập thể của nhân lọai có mối liên hệ với nhau về mặt
kinh tế.
Vd: Người Tasman có khỏang 30 – 40 người, có nhiều ở chu Đại Dương là 50
– 60 người. Các nhóm này du cư trong một lãnh thổ xác định. Chỉ có trên lãnh
thổ địa phương mới có thể săn bắn, đánh cá và hái lượm.
Ngày nay, không có một tộc người nào và không có ngay cả một nhóm địa
phương nào lại chỉ điểu chỉnh về mặt kinh tế từ phía những láng giềng của mình.
Song, trong quan hệ kinh tế với tộc người đã xuất hiện sự đứt gẫy do tác động của
những điều kiện khách quan và chủ quan. Ngay cả những cư dân giữ gìn và mở
rộng vng cư trú của mình thì những nhĩm riêng biệt của họ, đặc biệt là những
nhóm sống ngòai đất nước thường mất đi những mối liên hệ kinh tế trực tiếp.
Chẳng hạn, những người Nga sống ngòai lãnh thổ Nga, người Anh sống ngòai
lãnh thổ Anh từ có mối liên hệ vế mặt kinh tế nhiều với cư dân láng giềng khác
hơn là giữa họ với nhau.
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
Vậy: Sự hiện diên của các mối liên hệ kinh tế mặc dù là điều kiện bắt buộc của
lợi dụng vấn đề dân tộc để hoạt động trái với Chính sách và Pháp luật của Đảng
và Nhà nước ta, hòng kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh
quốc gia.
Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ "nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc
cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam". Các dân tộc thực hiện quyền làm chủ
của mình bằng hai hình thức, trực tiếp và đại diện. Dân chủ đại diện qua hệ thống
cơ quan dân cử cho thấy: Đại biểu Quốc hội khóa X là người dân tộc thiểu số
chiếm 17,3%, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chiếm 18,2%, huyện chiếm
18,7%, xã chiếm 22,7% so với tổng số đại biểu dân cử cấp đó. Điều đó đã thể
hiện được sự bình đẳng giữa các dân tộc trong việc tham gia quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, so với đồng bằng và vùng đã phát triển tương đối thì miền núi và
vùng dân tộc thiểu số còn là vùng khó khăn nhất, hãy còn nhiều kẽ hở để bọn
phản động dễ lợi dụng, khoảng cách còn khá xa, tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào
dân tộc thiểu số còn cao; đã xuất hiện những hiện tượng chệch hướng, nếu trong
thời gian tới không có những giải pháp hữu hiệu có thể khoảng cách đó còn xa
hơn nữa sẽ không có lợicho sự ổn định phát triển bền vững của đất nước.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội IX ở vùng dân tộc thiểu số, chúng tôi
hoàn toàn tán thành với những nội dụng đã được trình bày trong bản báo cáo
Chính trị của Ban chấp hành Trung ương. Xin kiến nghị và nhấn mạnh một số
vấn đề sau:
1. Phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số phải tăng trưởng với tốc độ
cao hơn mức bình quân chung của cả nước mới có thể từng bước thu hẹp khoảng
cách giữa các dân tộc và các vùng, quan tâm đến từng vùng và từng dân tộc, tiến
tới sự bình đẳng thực sự trên bình diện kinh tế-chính trị, xã hội…
2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Văn hóa dân
tộc có được bảo tồn và phát huy thì dân tộc mới phát triển. Giữ gìn và làm giầu
tiếng nói của mỗi dân tộc là cốt lõi của văn hóa, phát triển văn học nghệ thuật của
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí địa lý
nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong
mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập
các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới.
2. Bản chất tôn giáo
- Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt
ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần
đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được
đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá
sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX Tôn
giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng
định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”.
Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có
nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt
nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên
các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối
làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể
hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…- Rất khó có thể đưa ra được
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn
giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa
hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách
bạch. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăng nghen đã có một nhận xét làm
cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng
qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực
lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những
lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”.
ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với
cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái
siêu nhiên thần thánh được. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã
đạt tới một trình độ nhận thức nhất định. Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên
kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới
dạng hư ảo. Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ
nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản
thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Nhưng mỗi một hình thức
mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế
giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó.
Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm
chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người,
biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”,
nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh
3.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố
tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm”
“Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của
các nhà duy vật cổ đại - đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không
chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
khổ, cô đơn ) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu,
sự kính trọng ), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng,
nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo.Các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của
tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó. Nếu như các nhà
duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực
lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự
nghiêm câm mọi hành vi miệt thị và chia rẽ dân tộc
Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời giáo
dục tinh thần kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc. bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù
hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất
nước, trong công cuộc đó , không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ
xuất thân từ dân tộc, cần sự hỗ trợ lẫn nhau trong cả nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
đã đề ra chính sách dân tộc là " Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các
dân tộc, cùng tiến bộ". Chính sách đó đã được thể chế vào Hiến pháp, các luật cơ
bản của Nhà Nước Việt Nam.
Việc thực hiện Chính sách dân tộc đã đạt được một số kết quả như từ chỗ đều
bị áp bức bóc lột đã trở thành người làm chủ đất nước; đã tạo ra cơ sở hạ tầng
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
phục vụ sản xuất và đời sống rộng khắp trên mọi miền của đất nước; từ chỗ tự
cung tự túc đã hình thành một số vùng sản xuất có tính chất hàng hóa với quy mô
ngày càng lớn; sự nghiệp giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe đã được phát triển
rất mạnh so với trước; hệ thống chính trị đã được xây dựng củng cố vững mạnh;
đội ngũ cán bộ và trí thức người dân tộc thiểu số đã được hình thành.
2. Chính sách tôn giáo
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo từng bước được
hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi
mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo trong tình
hình mới, ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo.
Sau gần 10 thực hiện Nghị quyết 24, Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành
tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37-CT/TƯ
ngày 02-7-1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Cho đến Nghị quyết
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bẩy, khoá IX về công tác tôn
giaó (Nghị quyết 25-NQ/TƯ ngày 12-3-2003) quan điểm, chính sách của Đảng
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh
Trường Đại Học Công Nghiêp TP HCM
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
PHẦN I: DÂN TỘC
I.DÂN TỘC VÀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN CỦA DÂN TỘC
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC
1.Ngôn ngữ dân tộc là 1 giá trị văn hoá đặc biệt
2. Lãnh thổ dân tộc
3. Cơ sở kinh tế của dân tộc
4. Các đặc trưng sinh họat văn hóa và ý thức tự giác dân tộc
PHẦN II. TÔN GIÁO
PHẦN III. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CỦA NƯỚC TA
HIỆN NAY
1. chính sách dân tộc
2. Chính sách tôn giáo
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lenin
2. báo lao động
3. Cổng thông tin điện tử chinhphu.vn
4. Giáo trình chính trị
5. Tạp chí cộng sản
6. Trang web tailieu.vn
GVHD: Lê Ngọc Tòng Lớp: CDKT13ATH
SVTT: Nguyễn Thị Quỳnh