ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ HUYỀN
MAHATHIR MOHAMAD VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ
TÔN GIÁO CỦA MALAYSIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Mai Ngọc Chừ
HÀ NỘI - 2005
Lê Thị Huyền
1
MỤC LỤC
2
2.4.1. Những thách thức từ vấn đề tộc người ở Sabah 69
2.4.2. Luận cứ hai mươi điểm hay là những cam kết của chính phủ về các vấn đề nội bộ của
Sabah 75
2.4.3. Tái thiết sự cân bằng tộc người thông qua chính sách di dân và sự thắng thế của UMNO
ở Sabah 78
Chương 3: 87
MAHATHIR VỚI VẤN ĐỀ TÔN GIÁO 87
3.1. Hồi giáo ở Malaysia – Một vấn đề nhạy cảm 87
3.1.1. Sự thống trị của đạo Hồi 87
3.1.2 Dấu ấn Hồi giáo trong xã hội, chính trị, văn hoá Malaysia 90
3.1.3 Mahathir và sự nghiệp xây dựng một cái nhìn đúng đắn về Hồi giáo của ông 93
3.2 Hồi giáo hoá chính phủ dưới thời Mahathir 99
3.3. Hồi giáo ở Kelantan và nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo ở đây 109
3.4. Ummah – Cộng đồng các tín đồ Hồi giáo trong thế giới Melayu và ước mơ xây dựng một
nhà nước Melayu rộng lớn 118
KẾT LUẬN: 131
2
sách này luôn gắn liền với tên tuổi của những nhà lãnh đạo nổi tiếng trong
việc thay đổi thân phận của một dân tộc.
Phương Tây vẫn không hết bàng hoàng về sự vươn lên của một số quốc
gia Đông Nam Á trong những năm cuối của thế kỉ 20. Họ gọi đó là “Sự phát
triền thần kì” như một sự thừa nhận sức mạnh châu Á mà trước đó họ chưa hề
nghĩ đến cũng như không thể nào lý giải nổi. Malaysia là một minh chứng
hùng hồn cho sức mạnh đó. Giành độc lập năm 1957 từ tay thực dân Anh,
nhưng niềm vui tự do chưa được trọn vẹn thì Malaysia đã phải trải qua cuộc
đại phẫu lớn vào năm 1965 khi họ buộc phải cắt bỏ Singapore ra khỏi cơ thể
mình và luôn nằm trong trạng thái đe doạ bị tách biệt tiếp với Sabah và
Sarawak. Sự thống nhất của quốc gia này càng trở nên mỏng manh sau cuộc
xung đột và bạo loạn sắc tộc năm 1969 khi mà người Malay và những người
không phải Malay trở nên đối đầu và thù nghịch hơn là hoà hợp và cùng phát
triển. Đạo Hồi bị tộc người hoá, chính trị hoá chồng chéo. Nền kinh tế què
quặt với cơ cấu công nghiệp biến dạng theo toan tính của thực dân Anh những
năm trước đó và nền nông nghiệp lạc hậu lỗi thời là toàn bộ gia sản Malaysia
có khi bắt đầu công cuộc tái thiết đất nước. Không ai tin Malaysia chỉ mấy
chục năm sau đã trở thành quốc gia phát triển nhất trong những nước đang
phát triển ở Đông Nam Á, là thành trì của Hồi giáo thế giới, là biểu tượng của
hợp tác dân tộc cùng chung sống hoà bình. Hơn 20 năm lãnh đạo Malaysia,
Mahathir Mohamad đã viết nên câu chuyện huyền thoại về sự phát triển của
đất nước này. Sự kính trọng của nhân dân thế giới đối với Malaysia không chỉ
bắt nguồn từ sự ngưỡng mộ những thành quả Malaysia đã đạt được mà còn là
sự ngưỡng mộ những kì tích mà với tiềm năng hiện có Malaysia sẽ còn đạt
được trong tương lai. Chưa bao giờ Hồi giáo lại có vai trò tích cực trong xã
hội Malaysia như những năm vừa qua và chưa bao giờ có một thế hệ công dân
Malaysia biết đặt lòng trung thành với tổ quốc cao hơn lòng trung thành với
Lê Thị Huyền
4
rất xuất sắc trong Luận án Tiến sĩ lịch sử năm 2001 [28] và gần đây đáng kể
đến phải là Công trình nghiên cứu cấp Nhà nước của Tiến sĩ Ngô Văn Doanh
về đạo Hồi trong đời sống chính trị Đông Nam Á [30]. Những thông tin ít ỏi
về Mahathir đăng tải bằng tiếng Việt mới chỉ chưa đầy một trang ngắn ngủi
trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á [41] chứng tỏ đây vẫn còn là một nhân
vật quen thuộc trong đời sống chính trị hàng ngày những chưa được nghiên
cứu một cách khái quát và quy chuẩn ở Việt Nam. Đó thực sự là một điều
đáng tiếc mà người viết mong muốn được khắc phục phần nào.
Các học giả nước ngoài đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để
nghiên cứu về Mahathir. Từ năm 1975, những cuốn sách đầu tiên về Mahathir
được xuất bản thể hiện sự quan tâm của các học giả đến cuộc đời và sự nghiệp
chính trị của ông từ rất sớm. Khó có thể thống kê hết được những công trình
nghiên cứu của Tây phương cũng như của người dân châu Á về những vấn đề
có tính nghị sự dưới thời ông nắm quyền. Tiểu sử của ông được cung cấp chi
tiết trong các cuốn sách của Anthony S. K. Shome [51]; Aziz Zariza Ahmad
[55]; J. Victor Morais [66]; Hasan Hji Hamzat [67]; Zainuddin Maidin [90]…
Nhiều cuốn sách tìm hiểu về chu trình chính sách dân tộc và tôn giáo như một
hệ thống hoàn chỉnh như của Chung Kek Yoong [56]; Gullick [58]; In Won
Hwang [60]; Jan Stark [63] nhưng các công trình này dựa vào cách tiếp cận
truyền thống của khoa học chính trị, chủ yếu chú trọng đến việc đánh giá các
chương trình nghị sự một cách khô cứng. Một số tác phẩm có đề cập đến ảnh
hưởng của nhân cách cá nhân Mahathir (tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, bản lĩnh)
tới việc quyết định chính sách như của John Funston [64]; Ho Khai Loeng,
James Chin [68]; M.Rajendran [79]; Yao Souchou [91]… tuy nhiên những
nghiên cứu này lại bỏ qua việc thực thi chính sách mà điều này cực kì quan
trọng vì với một người có thâm niên lãnh đạo lâu đời như Mahathir thì việc
thực thi chính sách sẽ góp phần khẳng định sự nhất quán trong việc ra quyết
Lê Thị Huyền
6
dàng. Mục đích của luận văn không phải là dựng lại chân dung tiểu sử con
người Mahathir cũng như không đi vào phân tích đánh giá sự thành công hay
thất bại của các chính sách dân tộc và tôn giáo mà người viết muốn gắn kết
vai trò của Mahathir trong hoạch định các chính sách ấy và sự áp dụng chính
sách vào trong từng bối cảnh cụ thể của Malaysia.
3. Các nguồn tư liệu
Đề tài của luận văn được người viết xác định trong quá trình tiếp cận
với hệ thống tư liệu chung về Mahathir và các chính sách dân tộc, tôn giáo
của Malaysia được bắt đầu ngay từ những nghiên cứu nhỏ trong thời gian sau
đại học. Vì vậy, vấn đề có điểm tựa là một nền tảng bao gồm những thành quả
nghiên cứu cơ bản hết sức đồ sộ của giới học thuật phương Tây và các nhà
nghiên cứu Đông Nam Á. Nguồn tư liệu người viết khảo sát có thể được phân
loại thành hai hình thức sau:
- Nguồn tư liệu sơ cấp: Các chương trình nghị sự về các chính
sách dân tộc và tôn giáo của Malaysia từ khi giành độc lập đến
nay; các bài diễn văn quan trọng của Mahathir từ năm 1981,
những số liệu bảng biểu thống kê có liên quan đến vấn đề dân
tộc và tôn giáo của Malaysia… Hầu hết nguồn tư liệu này do
trang web của Chính phủ Malaysia cung cấp tại địa chỉ
website http://www.pmo.gov.my.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu của các học
giả trên toàn thế giới do người viết thu thập được trong chuyến
đi thực tế của mình tại Malaysia cũng như việc tìm kiếm các
nguồn tài liệu tại Thư viện Viện nghiên cứu Châu Á ARI, Viện
nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS của Đại học Quốc gia
Singapore, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Quân đội,
Lê Thị Huyền
7
hưởng to lớn của ông đến chính sách dân tộc và tôn giáo của Malaysia. Đi sâu
nghiên cứu diễn tiến lịch sử của vấn đề dân tộc và tôn giáo của Malaysia,
người viết muốn lý giải những quyết định của Mahathir về việc hoạch định
chính sách cho sự phát triển của Malaysia những năm vừa qua và chắc chắn
sẽ còn thể nghiệm trong nhiều năm tới.
Nếu thực hiện thành công và đạt được mục đích nghiên cứu, về mặt
khoa học và thực tiễn đề tài sẽ có những đóng góp như sau:
- Xây dựng chân dung Mahathir – con người của sự quả cảm và
quyết đoán, nhà lãnh đạo lâu đời nhất của Châu Á.
- Đưa ra những nghiên cứu có hệ thống về chính sách dân tộc và
tôn giáo của Malaysia dưới thời Mahathir và kiểm nghiệm sự
áp dụng chính sách trong trường hợp của Sabah và Kelantan.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định chính
sách quản lý dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam vì những kinh
nghiệm Malaysia đạt được cũng thích hợp và có thể áp dụng
vào trường hợp Việt nam và ngược lại những sai lầm mà
Malaysia gặp phải nếu không được phát hiện sớm cũng rất dễ
lặp lại ở Việt Nam.
- Những lập luận rút ra trong quá trình thực hiện đề tài có thể sử
dụng như những thông tin bổ trợ, tham khảo cho việc nghiên
cứu và giảng dạy về Đông Nam Á nói chung và Malaysia nói
riêng.
6. Bố cục của luận văn
Lê Thị Huyền
9
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1: Mahathir chân dung nhà lãnh đạo kiệt xuất của Malaysia
Trong chương này, người viết tập trung xây dựng chân dung Mahathir
với tư cách là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Malaysia thông qua việc khảo lược
người Hoa thống trị nền kinh tế Malaysia dẫn đến sự kiện bạo loạn 1969.
1970: Viết tác phẩm “Cuộc khủng hoảng Malay” phê phán những cản trở
của người Malay để vươn tới sự tiến bộ. Tác phẩm là một sự mở màn đối với
những cố gắng của Mahathir trong nỗ lực của người bác sĩ muốn bắt mạch,
kê đơn và chữa những căn bệnh cỗ hữu của người Malay.
1972: Phục hồi lại tư cách thành viên của UMNO sau khi Tunku từ chức.
1974: Được lựa chọn là thành viên quốc hội và nhanh chóng nhận được sự
tín nhiệm của công chúng, tham gia đảm nhiệm rất nhiều vị trí bộ trưởng của
các ban ngành khác nhau.
1978: Trở thành Phó chủ tịch UMNO.
1981: Đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng thứ tư của Malaysia.
1982: Giới thiệu chính sách “Nhìn về phương Tây”, coi Nhật Bản là một mẫu
hình về phát triển kinh tế.
1985: Malaysia rơi vào cuộc suy thoái. Mahathir thiết lập các biện pháp thắt
lưng buộc bụng và giảm bớt các chính sách, điều luật ưu đãi người Malay.
Lê Thị Huyền
11
1986: Phó thủ tướng của Mahathir từ chức vì những xung đột cá nhân.
1987: Mahathir từng bước sát sao đẩy lùi những thách thức đe doạ đến việc
nắm quyền lãnh đạo của ông từ bộ trưởng thương mại Razaleigh Hamzah
1987: Chính phủ tấn công vào các lực lượng đối lập tháng 10/1987, bắt giữ
hơn 100 người, đình bản ba tờ báo và ngăn chặn những căng thẳng dân tộc
đang ngày một cao trào xung quanh các vấn đề giáo dục của người Hoa.
1988: Mahathir phải tiến hành một cuộc phẫu thuật vì bệnh tim.
1991: Đưa ra những phác hoạ cho Tầm nhìn 2020 với tham vọng đưa
Malaysia thành một nước phát triển.
1993: Ra lệnh bỏ quyền truy tố trước pháp luật của giới hoàng tộc sau sự
kiện một tiểu vương hành hạ huấn luyện viên hockey trong lâu đài của ông ta.
1994: Ra lệnh cấm 07 tháng đối với các hãng phim của Anh để phản kháng
Lê Thị Huyền
13
Chương 1:
MAHATHIR MOHAMAD- CHÂN DUNG NHÀ LÃNH ĐẠO KIỆT
XUẤT CỦA MALAYSIA
1.1. Mahathir và bốn giai đoạn thăng trầm trong sự nghiệp chính
trị của ông
Không phải chỉ vì sự hùng vĩ sừng sững ngay trước mắt của tháp đôi
Petronas, không chỉ vì sự hoành tráng của sân bay Sepang, cũng không phải
sự hiện đại của Putra Jaya làm người ta choáng ngợp và hào phóng lời khen
với Mahathir mà chính những gì ông làm được cho đất nước, cho dân tộc
Malaysia lớn hơn rất nhiều những tượng đài kinh tế đã được xây dựng trong
những năm ông nắm quyền lãnh đạo.
Mahathir sinh ngày 10 tháng 7 năm 1925 tại Alor Star, Kedah, là con út
của Mohamad Iskandar, giáo viên dạy tiếng Anh rất nổi tiếng về tính nghiêm
khắc và kỷ luật và bà Wan Tampawan, một phụ nữ người Malay đức độ và
mẫu mực.
và cả đi nhờ bạn bè. Lòng tốt và sự tận tuỵ với mọi người của ông đã giúp
ông nhanh chóng được biết đến với cái tên trìu mến “bác sĩ UMNO” hơn là
chính tên tuổi thật của ông. Abdullah Pa' Chik là người đã sát cánh bên ông từ
những năm tháng ông mới lập phòng khám Maha đã nhận xét rằng ông là một
Lê Thị Huyền
15
người rất hào hiệp. Vấn đề tài chính của phòng khám toàn do mọi người quản
lý hộ còn bản thân ông chỉ tập trung vào công việc chuyên môn. Abdullah nói
“Đây là một trong những đức tính đáng được ngưỡng mộ của Mahathir, khi
ông đã tin tưởng ai đó thì ông có thể tín nhiệm giao phó mọi thứ, kể cả vấn đề
tiền bạc” [66; 43].
Sự nghiệp chính trị
Mahathir sớm có những quan tâm về chính trị từ thời còn ngồi trên ghế
nhà trường nhưng chỉ thực sự tham gia từ sau sự liên đới của ông với phong
trào chống khối Malaya được gọi là Massa Melayu. Ông lãnh đạo một nhóm
sinh viên tham gia các cuộc biểu tình và gia nhập đảng UMNO năm 1945 khi
mới 20 tuổi, cái tuổi còn quá trẻ để sớm trăn trở với những vấn đề của quốc
gia dân tộc.
Năm 1959, Mahathir từ chối đề xuất trở thành uỷ viên hội đồng lập
pháp bang Kedah và đến năm 1964 thì giành thắng lợi trong cuộc bầu cử và là
thành viên của quốc hội Kota Star Selantan, nơi ông được ghi nhận như là
một chính trị gia trẻ tuổi nhưng sớm bộc lộ tính kiên định và quyết tâm theo
đuổi mục đích của mình. Khoảng thời gian làm việc dưới thời Tunku là những
năm tháng đầu tiên Mahathir làm quen với các vấn đề chính trị. Mahathir có
nhiều quan điểm khác với Tunku Abdul Rahman “Không có gì là sự chỉ trích
cá nhân ở đây, chỉ là những khác biệt về tầm nhìn mà thôi. Chúng ta không
phản đối quan điểm của từng người nhưng chúng ta đối lập với họ về những
gì họ đã làm hoặc không làm. Tôi hoàn toàn ủng hộ vai trò lãnh đạo của
Tunku nhưng tôi không đồng ý với một số chính sách của ông” [68;17].
Quay trở lại UMNO
Một nhóm UMNO tiến bộ mà đứng đầu là Datuk Harun Hidris đã tích
cực hoà giải và tạo áp lực trong đảng để đưa Mahathir quay trở lại UMNO.
Harun đến tận nhà Mahathir ở Titi Gajah để thuyết phục ông quay trở lại và
Lê Thị Huyền
17
điều này làm Mahathir rất cảm động khi nhận được một tiếng nói ủng hộ
trong lúc mọi người đều đang thờ ơ và né tránh mình. Ông làm đơn xin gia
nhập lại UMNO. Về sự kiện này, Zainudin viết “Lá đơn ấy dường như rất khó
được chấp nhận bởi vì Mahathir không tuyên thệ sẽ tuân theo các điều lệ của
Đảng cũng như không tỏ ra có bất kì một sự ăn năn hối lỗi nào” [90; 103]. Bất
chấp những lời lẽ khuyên can của mọi người, Mahathir vẫn kiên định gửi lá
thư nêu lên những vấn đề của đảng tới những người nắm quyền lãnh đạo và
ông quan niệm “Nếu mọi người muốn loại trừ tôi, thì hãy để cho họ làm thế”
[90; 104]. Sự ương bướng ấy không chỉ là tính cách cá nhân của một người
bộc trực mà nó còn là tố chất của một nhà lãnh đạo kiên định và quyết đoán
trong tương lai Malaysia chỉ khoảng hơn 10 năm sau đó. UMNO đã thông qua
lá đơn xin gia nhập lại của Mahathir ngày 7/3/1972 và nhanh chóng sau đó
ông trở thành Nghị sĩ năm 1973 và là Bộ trưởng Bộ Giáo dục năm 1974 .
Aziz nhận định “Giáo dục là bước đầu tiên trong kế hoạch thay đổi con
người và quốc gia của Mahathir. Với tư cách là một người lãnh đạo, ông
mong muốn xoá đói giảm nghèo và mang lại sự công bằng cho tất cả mọi
người, để được chứng kiến mỗi con người đều có những cơ hội để cải thiện
chất lượng cuộc sống của họ” [55; 17]. Trong nhiệm kì làm Bộ trưởng Bộ
Giáo dục của mình, Mahathir đã tiến hành cải cách nhằm nâng cao vị thế của
người Malay thông qua giáo dục như khuyến khích họ tham gia các loại hình
học tập sau đại học, chuyên sâu, thay đổi hạn ngạch, đa dạng hoá lĩnh vực đào
tạo cho người Malay và thay đổi một số chi tiết về quy chế tuyển chọn.
Với những nỗ lực không ngừng ấy, năm 1975, Mahathir giành thắng lợi
tên gọi đó niềm tin về sự chấm dứt một thời kì đen tối trước đó và mở ra
những ngày tháng tươi đẹp.
Giai đoạn 2 (1985- 1989): Chính quyền của Mahathir trong thời kì này
phải trải qua nhiều sóng gió vì sự tham ô, xung đột chính trị trong nội bộ
Lê Thị Huyền
19
UMNO. Năm 1985- 1986, nền kinh tế đất nước rơi vào suy thoái. Những khó
khăn về kinh tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Nội bộ và bên ngoài có tiếng nói
lên án Mahathir vì sự khủng hoảng của đất nước với một số chính sách thất
bại như ưu tiên công nghiệp nặng, những dự án khổng lồ như dự án voi ma
mút và chủ nghĩa thân hữu (ưu tiên các tập đoàn Malay). Vực dậy sau giai
đọn này là một nhiệm vụ hết sức khó khăn.
Giai đoạn 3:(1990-1997): Đây là giai đoạn Mahathir đưa ra rất nhiều
biện pháp để thống nhất thể chế và nền tảng chính trị của ông bao gồm: đa
dân tộc đảng phái UMNO, làm mềm đi những căng thẳng giữa các bang với
nhà nước vốn là do vấn đề phân biệt sắc tộc gây ra. Phương châm chính trong
giai đoạn này là thiết lập và triển khai chính sách phát triển dân tộc (NDP)
trong đó có việc đưa ra tầm nhìn 2020. Chính sách phát triển dân tộc được
chính phủ thông qua năm 1991 về cơ bản là tiếp tục tinh thần của NEP (Chính
sách kinh tế mới) và đặt nền tảng cho sự phát triển của kinh tế Malaysia trong
20 năm sau đó. Sự phục hồi kinh tế giai đoạn này đạt đến mức có thể góp
phần làm giảm sự căng thẳng do xung đột sắc tộc gây ra. Tầm nhìn 2020 trở
thành trụ cột cho mọi chính sách của chính phủ. Năm 1994, UMNO đã thắng
lợi ở Sabah trong cuộc bầu cử ở liên bang. Thắng lợi ở Sabah đồng nghĩa với
sự thắng lợi trên toàn lãnh thổ và điều này chứng tỏ UMNO có sức thuyết
phục cao đối với các tộc người Malaysia. Với những tiến triển tích cực như
vậy, Mahathir dường như đã đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp chính trị. Tuy
nhiên cuộc đời và sự nghiệp của Mahathir không dừng lại ở đó. Những tầm
nhìn ông tạo dựng nên không phải đã kết thúc. Malaysia bắt đầu có những dấu
Mahathir đã viết rất nhiều cuốn sách bày tỏ tâm huyết, những trăn trở
của ông về các vấn đề dân tộc và tôn giáo của Malaysia. Cuốn sách bắt nguồn từ một cuộc tranh luận khởi xướng
Lê Thị Huyền
21 từ những thách thức có tính học thuật của Giáo sư
Ungku Aziz ở trường đại học Malaya những năm cuối
1960. Trong một cuộc hội thảo năm 1966 tổ chức tại
Kuala Lumpur về vấn đề kết quả giáo dục thấp kém của
sinh viên người Malay, Mahathir đã đặt ra câu hỏi về
tính di truyền và những ảnh hưởng của môi trường bên
ngoài để lý giải cho nền giáo dục kém hiệu quả của
người Malay.
Nhiều nhân tố đã được thừa nhận như là chính sách giáo dục chưa khoa
học, cơ sở vật chất nghèo nàn, giáo viên không được đào tạo căn bản…dẫn
đến việc học hành rất chểnh mảng của sinh viên gốc Malay. Thêm vào đó,
Mahathir cho rằng hiện tượng học vấn của người Malay thấp kém còn là vì
những hạn chế có tính di truyền trong cộng đồng Malay. Quan điểm của ông
đã gây ra một cuộc xung đột sâu sắc trên khía cạnh học thuật với một nhóm
học giả mà đứng đầu là giáo sư Ungku vì ông này và những người cùng nhóm
của mình cho rằng ý kiến của Mahathir ám chỉ những người Malay vốn
đương nhiên là một thuộc cấp thấp kém, một sự hạ đẳng được di truyền từ đời
này sang đời khác và không bao giờ có thể thay đổi được. Để giải thích cho
thành ý của mình về những hạn chế có tính sinh học và tính xã hội của người
Malay, Mahathir đã viết cuốn sách Cuộc khủng hoảng của người Malay nhằm
Sự nhầm lẫn ấy là mối nguy cơ đến sự phát triển và thịnh vượng lâu dài
của người Malay. Chính điều đó đã thôi thúc Mahathir viết cuốn sách Sự
thách thức để đưa ra cái nhìn trung thực về phương thức tư duy và cách sống
của người Malay, ưu thế cạnh tranh và hạn chế của họ trong cuộc sống hiện
đại. Với sự thẳng thắn và cởi mở, Mahathir đã đạp tan những ảo tưởng sai lầm
và vạch trần sự bóp méo xuyên tạc về đạo Hồi, về giáo dục, về dân chủ, chủ
nghĩa cộng đồng, tự do và kỷ luật vốn là những mối quan tâm của thế giới
hiện đại. Ông khẳng định rằng người Malay chỉ có ở vị thế nhìn nhận khách
quan giữa thần thánh và thế tục mới có thể hy vọng đối mặt và vượt qua
những thách thức của mình. Sự thách thức là những suy nghĩ trở trăn của
Mahathir từ khi nó xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1986 cho đến tận ngày nay