Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ MƠ
NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC NGÔN TỪ
TRONG THƠ HÁT NÓI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
MỤC LỤC
Trang bìa i
Mục lục ii
Danh mục các bảng vi
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
1.1 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ 10
1.1.2.1 Đặc điểm vần 11
1.1.2.2 Đặc điểm nhịp 14
1.1.2.3 Tính nhạc trong thơ 17
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ thơ trung đại 20
1.2 ĐỊNH NGHĨA TỪ, NGHĨA CỦA TỪ, CỤM TỪ, … 23
1.3 ĐÔI NÉT VỀ CA TRÙ, HÁT NÓI, VỊ TRÍ CỦA THƠ HÁT NÓI . 25
1.3.1 Đôi nét về ca trù 25
1.3.2 Đôi nét về hát nói 27
1.3.3 Vị trí của thơ hát nói 27
1.4 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ HÁT NÓI 29
1.4.1 Đặc điểm của từ ngữ 29
1.4.2 Đặc điểm của khổ thơ 30
1.4.3 Đặc điểm của dòng thơ 31
1.4.4 Đặc điểm của mƣỡu 31
1.4.5 Đặc điểm của luật bằng – trắc 32
1.4.6 Đặc điểm của vần 34
iv
2.5.2.4 Gieo vần lƣng ở âm tiết thứ 5 70
2.5.2.5 Gieo vần lƣng ở âm tiết thứ 6 70
2.5.2.6 Gieo vần theo lối vắt dòng 71
2.5.2.7 Gieo vần tập trung 71
2.6 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỊP 73
2.7 TÍNH NHẠC 79
2.7.1 Vai trò của thanh điệu trong nhịp thơ, vần thơ 80
2.7.1.1 Vai trò của thanh điệu trong nhịp thơ 80
2.7.1.2 Vai trò của thanh điệu trong vần thơ 81
2.7.2 Vai trò của âm cuối trong các vần thơ 82
2.7.3 Vai trò của âm chính trong các vần thơ 84
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG THƠ HÁT NÓI CỦA
NGUYỄN CÔNG TRỨ 89
3.0 DẪN NHẬP 89
3.1. NHIỀU TỪ NGỮ TẬP TRUNG THỂ HIỆN MỘT CHỦ ĐỀ 89
3.1.1 Các từ ngữ biểu thị tài năng 89
3.1.2 Các từ ngữ biểu thị thú ăn chơi 96
3.1.3 Các từ ngữ biểu thị “mệnh” 98
3.1.4 Các từ ngữ chỉ không gian, thời gian 101
3.2 XUẤT HIỆN NHIỀU TỪ NGỮ MANG ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ 104
3.3 XUẤT HIỆN NHIỀU ĐỘNG TỪ MẠNH 106
3.4 XUẤT HIỆN MỘT LƢỢNG LỚN CÁC HƢ TỪ 108
3.5 XUẤT HIỆN NHIỀU ĐẠI TỪ 111
3.6 XUẤT HIỆN LỐI NÓI KHẨU NGỮ 113
3.7 XUẤT HIỆN NHIỀU TỪ HÁN VIỆT……………………………114
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1 Ca trù thuộc loại hình nghệ thuật dân tộc đặc sắc của dân tộc
Việt Nam, đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của
nhân loại. Vốn đƣợc hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc Bộ
nên ca trù có sức lan tỏa rất lớn. Phạm vi ảnh hƣởng của ca trù là hầu hết
là các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ nhƣ: Hà
Nội, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…Và
một số tỉnh thuộc Trung du miền núi phía Bắc nhƣ: Phú Thọ, Bắc
Giang…Sau một thời gian dài tồn tại, nếp sinh hoạt ca trù đã bị lãng quên
trong đời sống văn hóa của ngƣời dân. Ca trù đang đứng trƣớc nguy cơ bị
diệt vong nếu chúng ta không quan tâm đúng mức.
1.2 Sự xuất hiện của thơ hát nói đã góp phần làm phong phú và đánh
dấu sự phát triển cho ca trù nói chung. Rất nhiều các nhà Nho tài tử say mê
hát nói, trong lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta phải kể đến các đại biểu lớn
nhƣ Cao Bá Quát, Nguyễn Quý Tân, Nguyễn Bá Xuyến, Chu Mạnh
Trinh,…trong đó có Nguyễn Công Trứ – “ông hoàng thơ hát nói”.
1.3 Phải đến Nguyễn Công Trứ thì thơ hát nói mới đƣợc hoàn thiện về
mặt hình thức thể loại. Nguyễn Công Trứ là ngƣời đầu tiên mang đến cho thơ
hát nói một nội dung phù hợp với chức năng và cấu trúc của nó. Vì là “thơ
điệu nói” nên kết cấu của các bài hát nói thƣờng xen giữa yêu cầu ngâm và
yêu cầu nói. Nội dung trong thơ hát nói rất phù hợp với trạng thái hai cực:
“phần cô đọng quá là dành cho thơ luật còn phần khai triển quá như truyện
và ngâm là dành cho lục bát và song thất lục bát”. [19]
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với nhiều
biến động dữ dội, phức tạp. Không những vậy, sự đan xen của hệ tƣ tƣởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Tam giáo đồng nguyên Nho – Phật – Đạo cộng với sự xâm nhập của Gia tô
giáo ở phƣơng Tây do các giáo sỹ truyền đạo, bƣớc đầu đã làm thay đổi thế
những kẻ anh hùng hào kiệt đã có cái tài “xuất chúng” thì thường hay có cái
khí “siêu nhân”…Đã là người hào kiệt thì quả không chụi lẩn quất trong cái
khuôn sáo người thường. Có lẽ cũng vì thế nên trong sự hành vi của cụ
Nguyễn Công Trứ, nhiều khi lạ mắt trái tai, mà trong văn chương của cụ cũng
lắm khi trái với cái tục kiến của người đời” [21, tr. 493].
Khi trào lƣu Thơ mới xuất hiện, Lƣu Trọng Lƣ (trong cuốn “Nguyễn
Công Trứ, nhà thi sĩ của Nghệ Tĩnh sau một trăm năm”, Tao đàn số 1) đã
dùng quan điểm Nho gia và Lão trang để đánh giá, nhìn nhận về con ngƣời
Nguyễn Công Trứ [28].
Năm 1944, Nguyễn Bách Khoa – một nhà nghiên cứu thuộc thế hệ tri
thức mới đã đứng trên lập trƣờng duy vật biện chứng, trên quan điểm giai cấp
để phân tích tƣ tƣởng và thơ văn Nguyễn Công Trứ qua cuốn “Tâm lý và tư
tưởng Nguyễn Công Trứ” [23].
Năm 1978, thông qua cuốn “Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu
thế kỷ XIX”, Nguyễn Lộc coi con ngƣời “Nguyễn Công Trứ là một khối mâu
thuẫn lớn” [29].
Trong “Lời giới thiệu cuốn thơ văn Nguyễn Công Trứ” năm 1983 [6],
Trƣơng Chính đã đi theo quan điểm của hệ thống tƣ tƣởng triết học – đạo đức
để bác bỏ lại quan điểm của Nguyễn Lộc. Theo Trƣơng Chính thì cần phải
thấy đƣợc những biến đổi trong tƣ tƣởng của Nguyễn Công Trứ thì mới hiểu
đƣợc bản chất con ngƣời ông.
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Công Trứ, tác giả
Nguyễn Đăng Thục trong bài “Ý nghĩa ngày kỷ niệm nhà hiền triết Nguyễn
Công Trứ” [54] đã khẳng định: “Nguyễn Công Trứ ở Việt Nam đã trả lời cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
nguyện vọng của dân tộc về lý tưởng con người toàn diện, con người tri thức,
con người ý chí hành động, con người tình cảm nghệ thuật…”.
Huyến chủ biên [21], cuốn “Uy viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ qua 81
giai thoại” của Huyền Li [26] đã dựng lên bức chân dung về Nguyễn Công
Trứ qua cái nhìn dân gian, rất nhiều những giai thoại hay đƣợc thêu dệt lên,
khác với những lý giải nghiên cứu của hậu thế về con ngƣời thật của “ông Hy
Văn tài bộ”. Trong cuốn “Nguyễn Công Trứ về tác gia và tác phẩm”, Trần
Nho Thìn [52] đã viết về Nguyễn Công Trứ trong hai thế kỷ XIX, XX và đánh
giá ông qua hai bộ sử là “Đại Nam thực lục” và “Đại Nam chính biên”
Trên đây là một loạt những công trình của các tác giả nghiên cứu về con
ngƣời Nguyễn Công Trứ ở các phƣơng diện tôn giáo, lịch sử, triết học.
2. 2 Lịch sử nghiên cứu về thơ hát nói
Hát nói là một trong những làn điệu tiêu biểu, cơ bản của ca trù. Lịch sử
nghiên cứu về thơ hát nói có một số vấn đề đáng lƣu ý sau:
Trƣớc hết, chúng ta cần bàn đến nguồn gốc ra đời của thơ hát nói. Cho
đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chƣa có sự thống nhất. Năm 1923, trong bài
“Văn chương trong lối hát ả đào” (báo “Nam Phong”, số 69), “Khảo luận về
cuộc hát ả đào” (báo “Nam Phong”, số 70), Phạm Quỳnh và Nguyễn Đôn
Phục rất băn khoăn khi không tìm đƣợc câu trả lời về nguồn gốc của thơ hát
nói bởi chúng chỉ là “những án khoa truyền khẩu”.
Trong “Việt Nam văn học sử yếu” [19], trong “Chuyện thơ” [46],
Dƣơng Quảng Hàm và Hoài Thanh đều có chung quan điểm coi hát nói là một
biến thể của lục bát và song thất lục bát. Trong “Việt Nam văn học sử giản
ước tân biên”, Phạm Thế Ngũ [36] cũng có ý kiến trùng với Dƣơng Quảng
Hàm và Hoài Thanh nhƣng tác giả còn đƣa thêm một giả định khác để chứng
minh hát nói bắt nguồn từ lối nói trong tuồng và một số hình thức dân ca khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Khác với các quan điểm trên, tác giả cuốn “Thơ ca Việt Nam, hình
thức và thể loại”, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức khẳng định: “Hát nói
nhƣ “Hát nói Nguyễn Công Trứ” của Nguyễn Đức Mậu [30] trên “Tạp chí
văn học” năm 2000, “Nguyễn Công Trứ, ông hoàng hát nói” của Nguyễn Viết
Ngoạn [34] trong “Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí
Minh” năm 2001,…
Ngoài ra, nội dung của một số cuốn sách nhƣ “Thơ văn Nguyễn Công
Trứ” của Lê Thƣớc – Hoàng Ngọc Phách – Trƣơng Chính [55], “Thơ văn
Nguyễn Công Trứ” của Trƣơng Chính [7], “Hát nói Nguyễn Công Trứ –
Chuyên luận & tinh tuyển” của Nguyễn Đức Mậu [32],… phần lớn đều giới
thiệu các bài thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ.
Điểm lại hàng loạt những công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi
nhận thấy lịch sử nghiên cứu về tác giả Nguyễn Công Trứ, về thơ hát nói nói
chung, thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ nói riêng có rất nhiều thành tựu.
Nhƣng chủ yếu tập trung ở ba vấn đề:
Một là nhìn nhận, đánh giá về nhân cách và con ngƣời Nguyễn Công
Trứ trên ba phƣơng diện lịch sử, triết học, tôn giáo.
Hai là tìm hiểu về nguồn gốc, nội dung tƣ tƣởng của các bài thơ hát nói
trên phƣơng diện văn học.
Ba là tìm hiểu thơ hát nói với tƣ cách là một loại hình nghệ thuật
của âm nhạc.
Nhƣ vậy, có thể khẳng định là chƣa có một công trình khoa học chuyên
biệt nào mang tính hệ thống, nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về
ngôn ngữ thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ dƣới góc độ ngôn ngữ học.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là nghệ thuật tổ chức ngôn từ
trong 60 bài thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ do Trƣơng Chính sƣu tầm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
6. Đóng góp của luận văn
Thông qua việc miêu tả đặc điểm ngôn ngữ thơ hát nói của Nguyễn
Công Trứ, luận văn của chúng tôi sẽ góp phần làm sáng tỏ sự hoàn thiện thể
loại của thơ hát nói về mặt kết cấu hình thức.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận
Chƣơng 2. Đặc điểm cấu trúc trong thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ
Chƣơng 3. Đặc điểm từ ngữ trong thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ
1.1.1 Khái niệm
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, ngôn ngữ thơ
đồng nhất một số âm tố ở hai từ hiệp vần với nhau”. Điều này chƣa thỏa đáng
bởi các âm chính ngoài sự đồng nhất hoàn toàn còn có sự đồng nhất về một
đặc trƣng nào đó (đặc trƣng âm sắc / đặc trƣng âm lƣợng).
Chúng tôi đồng ý với Mai Ngọc Chừ coi nhịp đồng nhất với tiết tấu và
“vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất
định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện
những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự
ngừng nhịp.” [8, tr. 12].
Đặc điểm chung của vần thơ Việt Nam:
Những âm tiết mang vần bao giờ cũng chứa một hàm chứa một lƣợng
thông tin cao để làm tăng sức mạnh biểu đạt nội dung tƣ tƣởng cho các dòng
thơ, bài thơ.
Vì vần là “tiêu điểm” sáng ngời, là “thi nhãn” của dòng thơ nên vần
phải đƣợc gieo ở những vị trí thích hợp.
Trong tiếng Việt và các loại hình ngôn ngữ đơn lập thì “đơn vị hiệp vần
của vần không phải là từ mà là âm tiết”. [8, tr. 50]. Từ đa tiết sẽ không đƣợc
chấp nhận khi tham gia hiệp vần.
Vần thơ có hai mặt là đồng nhất và khác biệt.
Mặt đồng nhất của vần:
Cấu trúc của một âm tiết tiếng Việt do năm thành phần tạo nên là
âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. “Quy mô lớn nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
trong vần thơ Việt Nam là đồng nhất bốn trong số năm thành phần cấu
tạo âm tiết”. [8, tr. 56].
Chẳng hạn, cặp vần“thuyền” và “quyên” có 3 sự đồng nhất là âm đệm
“u”, âm chính “yê” và âm cuối “n”.
Ngoài ra, trong vần còn có hiện tƣợng đồng nhất hoàn toàn nhƣng
o
ie
w
uo
Lớn
/
a / a
/
Dựa vào các tiêu chí trong bảng trên chúng ta có thể “giải thích được vì
sao khi hai âm tiết không có sự đồng nhất về âm tố mà vẫn có thể hiệp vần
được với nhau, tạo nên được sự hòa âm nhất định”. [8, tr. 57]. Ví dụ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
“Nao nao dòng nước uốn quanh,
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Cặp vần “quanh” và “ghềnh” có sự đồng nhất về đặc trƣng âm sắc
bổng vì chúng có chứa hai nguyên âm hàng trƣớc là | |, |e|.
Mặt khác biệt của vần thơ Việt Nam chính là sự khác nhau về một trong
năm thành phần cấu tạo âm tiết là âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và
thanh điệu. Nhờ các yếu tố khác biệt này mà “các vần thơ không bị lâm vào
tình trạng lặp vần”. [8, tr. 63]. Ví dụ:
“Người sao một hẹn thì nên
Người sao chín hẹn thì quên cả mười”.
“Tang bồng hổ thỉ nam nhi trái,
Cái công danh là cái nợ lần.”
(Nguyễn Công Trứ - Quân tử cố cùng)
Dựa vào đƣờng nét biến thiên của thanh điệu ở các âm tiết mang vần, ta
có vần bằng và vần trắc. Vần bằng ở các âm tiết mang thanh không dấu, thanh
huyền, vần trắc ở các âm tiết mang thanh sắc, ngã, nặng, hỏi.
1.1.2.2 Đặc điểm nhịp
Định nghĩa nhịp:
“Nhịp là kết quả của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại
đều đặn những âm thanh nào đó trong thơ”. “Do vậy, nhịp thơ phải
được đánh dấu bằng chỗ ngừng, chỗ ngắt trong các dòng thơ”. [8, tr.
26]. Chúng tôi nhất trí với ý kiến của Mai Ngọc Chừ là coi nhịp đồng
nhất với đoạn tiết tấu.
Đặc điểm của nhịp:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Nhịp trên mỗi dòng thơ phụ thuộc vào số âm tiết / dòng của từng thể
loại. Ví dụ trong thể ngũ ngôn:
Nhịp 2/3: “Con sóng / dưới lòng sâu”
Nhịp 3/2: “Giữa biển lớn / tình yêu”
(Xuân Quỳnh – Sóng)
Do lời thơ ngắn nên thể ngũ ngôn chỉ có hai cách ngắt nhịp chính là 2/3
hoặc 3/2.
Thơ lục bát thƣờng có cách ngắt nhịp chẵn nhƣ 2/2/2, 2/4,…nhƣng khi
diễn tả tâm trạng nhân vật, diễn tả sự trắc trở thì nhịp ngắt thƣờng bị biến đổi.
Hơn nữa, do sự tác động về mặt cấu trúc của thể song thất lục bát, nên các
dòng thơ này thƣờng xuất hiện hình thức tiểu đối. Vì vậy, cách ngắt nhịp phổ
biến sẽ là 3/3 (trên dòng lục), 4/4 (trên dòng bát). Ví dụ:
(2) - “Đường bạch / dương sương / trắng nắng / tràn”.
T / B / T / B
(Dòng thơ có 4 nhịp là T – B – T – B)
(Tố Hữu – Em ơi, Ba Lan)
Sau khi ngắt nhịp, nghĩa của (2) bị “tối giản”. Nhƣ vậy, nếu chỉ căn
cứ vào tiết tấu âm luật và mỗi bƣớc thơ gồm hai âm tiết (theo ý của Phan
Cảnh) để tạo nhịp thì nghĩa của dòng thơ trong một số trƣờng hợp sẽ
không đƣợc đảm bảo.
Bên cạnh cách ngắt nhịp dựa vào luật bằng – trắc còn có cách ngắt
nhịp dựa vào nghĩa của dòng thơ.
Nhịp trên dòng thơ “Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” sẽ
đƣợc đảm bảo nếu áp dụng cách ngắt nhịp này.
“Đường bạch dương / sương trắng / nắng tràn”.
“Đường bạch dương / sương / trắng / nắng / tràn”.
Nhịp ngắt trên mỗi dòng thơ luôn tồn tại ở dạng tiềm năng, mang màu
sắc chủ quan bởi nó phụ thuộc trực tiếp vào từng cá nhân. Ví dụ:
Dòng thơ “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”
có nhiều cách ngắt nhịp nhƣ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
“Rừng phong / thu đã / nhuốm màu quan san” (2/2/4)
“Rừng phong / thu đã / nhuốm màu / quan san” (2/2/2/2)
“Rừng phong thu / đã nhuốm màu quan san” (3/5)
“Rừng phong thu / đã nhuốm màu / quan san” (3/3/2)
“Rừng phong thu / đã nhuốm / màu quan san” (3/2/3)
“Rừng phong thu đã / nhuốm màu quan san” (4/4)
Ngoài ra, sự ngừng nhịp trên mỗi dòng thơ còn phụ thuộc vào lối gieo
vần chân, vần lƣng. Ví dụ:
Ngoài ra, trong tiếng Việt còn có một âm đệm |-u-|, mang chức năng
“để tu chỉnh âm sắc của âm tiết” [53]. Âm đệm cũng có một vai trò đáng kể
trong việc tạo ra tính nhạc (hòa âm) cho vần nhƣng so với âm chính và âm
cuối thì mức độ thấp hơn hẳn.
Theo Mai Ngọc Chừ, âm đầu có tham gia với các thành phần khác để
tạo nên hòa âm trong vần nhưng vai trò của nó không đáng kể” [8, tr. 84] vì
chúng không làm nổi bật về mặt âm hƣởng.
Trên dòng ngữ lƣu, phụ âm cuối có sự tác động mạnh mẽ đến các
nguyên âm và làm cho chúng biến dạng cả về chất cũng nhƣ về lƣợng. Điều
này giúp chúng ta hiểu đƣợc vì sao mà các nguyên âm lại đƣợc thể hiện khác
nhau trên chữ viết.
Sự thể hiện trên chữ viết của nguyên âm [53, tr. 213]:
|ie| đƣợc viết bằng “iê” (âm tiết có âm cuối, âm đầu), viết bằng “yê”
(âm tiết có âm đầu, âm đệm), viết bằng “ya” (âm tiết có âm đệm, vắng âm
cuối), viết bằng “ia” (vắng âm đệm, vắng âm cuối).
|uo|, |w | đƣợc viết bằng “uô”, “ươ” (âm tiết có âm cuối), viết bằng
“ua”, “ưa” (vắng âm tiết cuối).