MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI 1
1.1.2. Sự hình thành nợ nước ngoài 1
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài 2
1.1.4. Phân loại nợ nước ngoài 3
1.1.5. Tác động của nợ nước ngoài 4
PHẦN 2: NGUYÊN NHÂN THỜI GIAN QUA VIỆN TRỢ CHƯA HẲN ĐƯỢC ƯU TIÊN
CHO NHỮNG NƯỚC CÓ TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ TỐT 13
2.1. Một số khái niệm 13
2.2. Tại sao thời gian qua, viện trợ chưa hẳn được ưu tiên cho những nước có trình độ quản lý tốt 14
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI
1.1. Nợ nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Nợ nước ngoài của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là số dư thực tế (không
phải bất thường) của khoản vay mà người không cư trú cấp cho người cư trú và yêu cầu
phải hoàn trả gốc và/hoặc lãi vào một thời điểm trong tương lai.
Và theo định nghĩa của IMF thì nợ nước ngoài chính là khoản nợ của người cư trú đối
với người không cư trú.
1.1.2. Sự hình thành nợ nước ngoài
1.1.2.1. Đối với những nước kém phát triển:
Các nước kém phát triển vay nợ nước ngoài nhằm phục vụ một số mục đích nhất định:
1
- Nhu cầu vay để tiêu dùng
- Nhu cầu để đầu tư công nghiệp, vốn để phát triển
- Do khả năng quản lý của các nước kém phát triển còn thấp nên có 2 sự lựa chọn: thứ
nhất là phát hành tiền, tuy nhiên, cách này không được phổ biến do có thể gây ra lạm phát
và ảnh hưởng tới nền kinh tế của quốc gia đó; thứ hai là đi vay nước ngoài
- Do những thảm họa như song thần, lũ lụt … thì nguồn vay nợ nước ngoài sẽ giúp các
nước này khắc phục được những hậu quả trước mắt
1.1.2.2 Đối với các nước phát triển
+ Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
+ Vay thương mại
+ Phát hành trái phiếu
• Theo thời gian: Vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
• Các mức độ nợ nước ngoài
+ MIMICs: Các nước thu nhập trung bình mắc nợ vừa phải
+ SIMICs: Các nước thu nhập trung bình mắc nợ nghiêm trọng
+ MILICs: Các nước thu nhập thấp mắc nợ vừa phải
+ SILICs: Các nước thu nhập thấp mắc nợ nghiêm trọng
Tuy nhiên sự quan tâm chủ yếu là MILICs và SILICs
3
1.1.5. Tác động của nợ nước ngoài
Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của nợ nước ngoài như bổ sung vốn đầu tư
và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải
thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và
quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện những tác động mặt trái của chúng để có các giải
pháp thích ứng.
Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các
khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quốc tế thì nghĩa vụ nợ
(bao gồm trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay. Một cơ cấu nợ mà chiếm
tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi cao, và bằng những ngoại tệ
không ổn định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh.
Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản lý tốt và sử dụng có
hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có
thể ngặt nghèo hơn - chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy mới: Nợ - vay nợ
mới - tăng nợ - tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy
lạm phát: Nợ - tăng nghĩa vụ nợ - tăng thâm hụt ngân sách - tăng lạm phát. Lúc này dịch
vụ nợ sẽ ngốn hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng
thẳng thêm trạng thái khát vốn và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, việc “thắt lưng buộc bụng”
trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có hàng tiêu dùng mà trong
lý ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc tế và cán cân thanh toán. Quản lý nợ nước ngoài hiệu
quả đòi hỏi cả chính sách tốt và thể chế mạnh nhằm điều hành và phối hợp các hoạt động
vay mượn. Quản lý nợ nước ngoài không đơn thuần là vay và trả mà phải là vay và trả sao
cho đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định trong phát triển kinh tế
và tương xứng với khả năng thanh toán của nền kinh tế.
1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nợ nước ngoài
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nợ nước ngoài
đóng vai trò tạo sự đột phá cho bước nhảy vọt cũng như tạo cơ sở vững chắc cho việc đạt
mục tiêu tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, ngoài những ảnh hưởng
tích cực đối với nền kinh tế như: nợ nước ngoài thường kèm theo những điều kiện, ràng
buộc mang tính chất chính trị và là gánh nặng của người dân trong tương lai. Những ảnh
hưởng tiêu cực này không chỉ xuất phát từ sự phát triển kinh tế mà còn là hậu quả của
việc quản lý và sử dụng các món nợ đó thông qua các chiến lược vay nợ, cơ chế quản
lý…. Vì vậy, việc quản lý nợ nước ngoài có một vai trò hết sức quan trọng và cần thiết
không chỉ đối với các nước đang phát triển mà còn đối với tất cả các quốc gia.
1.2.3. Nội dung quản lý nợ nước ngoài
Quản lý nợ bao gồm khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh thể chế. Khía cạnh kỹ thuật tập trung
vào định mức nợ nước ngoài cần thiết và đảm bảo các điều khoản và điều kiện vay mượn
sao cho phù hợp với khả năng trả nợ trong tương lai. Khía cạnh kỹ thuật gồm hai phần
chính: quản lý quy mô, cơ cấu nợ và giám sát, duy trì thông tin nợ. Khía cạnh thể chế liên
quan đến khía cạnh luật pháp, sắp xếp thể chế, chức năng nhiệm vụ mà các cơ quan quản
lý nợ phải đảm nhiệm.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý nợ nước ngoài
5
Điều 5 theo Thông tư số 56/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011 có quy định các chỉ tiêu giám
sát nợ nước ngoài bao gồm:
- Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP: phản ánh tương quan giá trị dư nợ nước
ngoài của quốc gia so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm
31/12 hàng năm.
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài (gốc, lãi, phí) của quốc gia hàng năm so với kim ngạch
nhập thực tế, tích lũy tiết kiệm của người dân và khả năng đi vay của một quốc gia. Do
vậy, sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô luôn là điều kiện tiên quyết của mọi ý
định và hành vi đầu tư cũng như các hành vi viện trợ và cho vay.
6
- Cơ cấu bộ máy quản lý nợ của một quốc gia: quyết định hiệu quả của công tác
quản lý. Mặt khác chính cơ quan quản lý này còn quyết định chiến lược sử dụng và
triển vọng phát triển kinh tế của đất nước.
- Hệ thống văn bản pháp luật: một hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nợ đầy
đủ và chặt chẽ sẽ đảm bảo được hoạt động quản lý có hiệu quả.
1.2.4.2. Các nhân tố khách quan
Hiệu quả của quá trình quản lý nợ không chỉ chịu tác động của các nhân tố chủ quan mà
còn chịu tác động của các nhân tố khách quan như: lãi suất, tỷ giá, cơ cấu vay nợ và viện
trợ đối với nước đi vay.
Rõ ràng việc vay nợ nước ngoài có tầm quan trọng nhất định đến sự phát triển của
các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên một yếu tố có tính quyết định đến việc sử dụng
nợ có hiệu quả hay không chính là chi phí sử dụng nợ. Chi phí sử dụng là cái giá mà một
quốc gia phải trả cho việc sử dụng vốn vay. Cái giá phải trả này ngoài tiền lãi phải trả
định kỳ, quốc gia còn phải trả chi phí môi giới, chi phí phát hành nợ (nếu là phát hành trái
phiếu), hoặc những chi phí vô hình là những ràng buộc của quốc gia cho vay (nếu là nợ
vay ưu đãi). Thêm vào đó là những khoản có thể mất đi do những quan chức Nhà nước có
tật tham ô. Chi phí sử dụng nợ có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới
cũng như sự thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong các chính sách tài chính
tiền tệ; bởi vì xét về vay nợ, thời gian là yếu tố quan trọng dẫn đến gia tăng rủi ro của
khoản vay đó, trong suốt khoảng thời gian đi vay có thể xảy ra những biến cố có lợi hoặc
bất lợi đến các khoản vay, nhất là nợ vay nước ngoài. Những yếu tố đó là rủi ro về tỷ giá
hối đoái, lãi suất thị trường, lạm phát và những rủi ro quốc gia khác.
- Tỷ giá hối đoái
Trong mô hình đầu tư tiết kiệm, tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng trong việc
giải thích các biến động trong tài khoản vãng lai. Nếu người ta dự đoán được rằng có sự
sụt giá thực sự của đồng nội tệ thì các hộ gia đình có thể rủ nhau đi mua hàng nhập khẩu
Bảng 1: Thang điểm xếp hạng tín nhiệm
HẠNG ĐẦU TƯ HẠNG ĐẦU CƠ
Chất lượng
cao
Chất lượng
trung bình
Chất lượng
thấp
Chất lượng rất thấp
S&P AAA AA A BBB BB B CCC CC C D
Moody’s Aaa Aa A Baa Ba B Caa Ca C D
Hạng BB hay Ba vừa mang tính chất đầu tư vừa mang tính chất đầu cơ vì nó tuy ít khả
năng vỡ nợ như B nhưng khả năng thanh toán nợ gốc và lãi thấp, thể hiện tính bấp bênh
về tài chính của chủ thểvay nợ. Quốc gia nào có hệ số tín nhiệm càng cao thì mức lãi suất
đòi hỏi của chủ nợ đối với quốc gia đó càng thấp và ngược lại. Hiện nay hệ số tín nhiệm
8
của khu vực Châu Á vẫn còn khá thấp chỉ ở mức trung bình trở xuống cho thấy mức rủi
ro của chúng ta khá cao.
1.3. Kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của một số nước
1.3.1. Nước thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài
Trong quá khứ, nhiều cuộc khủng hoảng nợ đã từng diễn ra. Điển hình là khủng
hoảng nợ tại Mexico vào năm 1982 do tác động của cố định tỷ giá và suy thoái kinh tế
thếgiới bắt nguồn từ cú sốc giá dầu; tại Argentina vào năm 2001 do cố định tỷ giá; và yếu
kém trong năng lực quản lý nợ tại Philippines vào năm 1985. Dựa vào những điểm tương
đồng về bối cảnh kinh tế- chính trị- xã hội và khu vực địa lý, đề tài chọn Philippine làm
nghiên cứu điển hình.
Philippines là một quốc gia nợ nần cao không chỉ trong quá khứ mà còn ở hiện tại,
được xem như một hình mẫu về quản lý nợ không thành công trong thập niên 80. Năm
2003, Philippines đứng trước nguy cơ khủng hoảng tài chính vì tỷ lệ nợ của nước này
đang ở mức cao, năm 2003 nợ của khu vực công bằng 125% tổng sản phẩm quốc nội
dựa trên lợi thế so sánh này chẳng những đã không tạo được nguồn thu ngoại tệ để trả nợ
mà còn làm gia tăng gánh nặng nợ do việc nhập khẩu tư liệu sản xuất và gia tăng tính kém
hiệu quả của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, hệ thống tài chính yếu kém tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế vĩ mô
nói chung, lên tính thanh khoản và khả năng trả nợ nước ngoài nói riêng. Hậu quả là nợ
nước ngoài gia tăng, tiết kiệm tài chính thấp và dễ bị tổn thương. Thứ nhất, hệ thống ngân
hàng thiếu tính cạnh tranh, phân khúc và mang nặng cách quản lý của ngành độc quyền.
Hệ thống ngân hàng Philippines bị phân khúc thành hai phần, một phân khúc thuộc về thị
trường tài chính không chính thức và phân khúc còn lại thuộc về hệ thống ngân hàng
chính thức. Hệ thống ngân hàng chính thức chủ yếu là các ngân hàng thuộc sở hữu Nhà
nước được đánh giá bằng các tiêu chuẩn khác hẳn ngân hàng tư nhân, tập trung cho vay
một số ít doanh nghiệp lớn thuộc các ngành sản xuất công nghiệp và điện tử. Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ và hộ sản xuất không tiếp cận được với nguồn vốn chính thức phải vay
thị trường phi chính thức với lãi suất cao. Thứ hai, hệ thống tài chính yếu kém không thu
hút được nguồn vốn trong nước và cho vay với hạn mức tín dụng đã giới hạn số khách
hàng vay mượn và đặt hệ thống tài chính phải đối mặt với nhiều rủi ro và dễ bị tổn
thương. Các ngân hàng không ngừng vay mượn nước ngoài khi nguồn vốn thế giới dồi
dào và không ngừng mở rộng bảo lãnh cho các doanh nghiệp. Thứ ba, hệ thống giám sát
yếu kém khiến cho các luật lệ của Ngân hàng Trung ương kém hiệu quả. Thứ tư, trong khi
hệ thống tài chính yếu kém không kiểm soát được tỷ giá hối đoái lại thực hiện tự do hóa
luồng vốn khá sớm, dẫn đến hiện tượng chảy máu vốn tăng cao. Việc cố định tỷ giá buộc
Ngân hàng Trung ương phải thường xuyên sử dụng nghiệp vụ trung hòa hóa để giữ tỷgiá
cố định làm tăng tích tụ nợ và giảm cơ hội sử dụng ngoại tệ dự trữ để đầu tư; việc cố định
tỷ giá cũng làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu giảm làm giảm nguồn thu
ngoại tệ trả nợ.
Những lý do trên khiến Philippines luôn lâm vào trạng thái thiếu khả năng trả nợ và
dẫn đến dễ tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài và khi các doanh nghiệp lớn rơi
vào tình trạng khó khăn tài chính khi lãi suất thế giới tăng cao do cơn sốt dầu mỏ lần
thứhai. Số liệu cho thấy tỷ lệ Nợ/ GNI và tỷ lệ Nợ/ Xuất khẩu tăng quá nhanh làm khả
năng trả nợ của Philippines giảm thấp.
Chính phủ về mức vay nợ thích hợp để giảm bớt gánh nặng về khả năng trả nợ; xem xét
các điều khoản và thời hạn của các khoản vay khu vực Nhà nước.
Malaysia linh hoạt trong việc vận dụng các biện pháp xử lý nợ để giảm nợ.
Malaysia có thể quản lý cơ cấu tiền tệ dựa vào thị trường tài chính, Chính phủ có quyền
lựa chọn và phát hành các dạng trái phiếu Samurai, trái phiếu Yankee bằng đô la, trái
phiếu Bulldog bằng bảng Anh, các khoản vay đa tiền tệ.
Malaysia linh hoạt trong phản ứng đối phó với khủng hoảng nợ. Trước khủng
hoảng Malaysia đã xây dựng được một thị trường vốn tự do và mở cửa hơn, thị trường
chứng khoán mạnh hơn các nước khủng hoảng nợ như Indonesia và Thái Lan; duy trì nợ
ngắn hạn nhỏ hơn nhiều so với các quốc gia khác; hệ thống ngân hàng có tỷ lệ nợ không
sinh lãi thấp hơn; dự trữ ngoại tệ khá lớn hơn; nguồn ngoại tệ tập trung vào một cơ quan
duy nhất là ngân hàng Trung ương chứ không phân tán rải rác trong Bộ Tài chính và các
cơ quan khác nên nền tài chính Malaysia đã không bị chao đảo quá mức khi đồng Ringgit
bị mất giá. Chính vì vậy mà nền kinh tế Malaysia ít bị tổn thương trong khủng hoảng. Khi
12
khủng hoảng xảy ra Chính phủ đã phản ứng linh hoạt như bỏ ra 2 tỷ đô la để hỗ trợ cho
đồng Ringgit; ban hành quy định chỉ thực hiện các giao dịch phi thương mại trong giới
hạn 2 triệu đô la để chống lại tình trạng đầu cơ đồng Ringgit.
PHẦN 2: NGUYÊN NHÂN THỜI GIAN QUA VIỆN TRỢ CHƯA HẲN ĐƯỢC ƯU
TIÊN CHO NHỮNG NƯỚC CÓ TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ TỐT
2.1. Một số khái niệm
Theo chương trình phát triển của Liên Hợp quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại
hoặc cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm
ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.
ODA có một số đặc điểm chính: Do Chính phủ của một nước hoặc các tổ chức
quốc tế cấp cho các cơ quan chính thức của một nước; không cấp cho các chương trình,
dự án mang tính chất thương mại. ODA chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh
tế, khắc phục khó khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận
viện trợ; tính ưu đãi chiếm đến 25% giá trị của khoản vốn vay.
Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: các nước đang và kém
chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ.
- Phân loại theo mục tiêu sử dụng có: Hỗ trợ cán cân thanh toán; tín dụng thương
nghiệp; viện trợ chương trình; viện trợ dự án.
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của
Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho
nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa);
+ Tín dụng thương nghiệp: tương tự như viện trợ hàng hóa nhưng có kèm theo các
điều kiện ràng buộc. Chẳng hạn nước cung cấp ODA yêu cầu nước nhận phải dùng phần
lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng ở nước cung cấp;
+ Viện trợ dự án: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA. Điều
kiện để được nhận viện trợ dự án là phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử
dụng ODA;
+ Viện trợ chương trình: nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định cho một
mục đich tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như
thế nào.
2.2. Tại sao thời gian qua, viện trợ chưa hẳn được ưu tiên cho những nước có trình
độ quản lý tốt
Để trả lời câu hỏi này phải xuất phát từ động cơ của viện trợ. Điều gì xác định việc
các nhà tài trợ cung cấp viện trợ cho ai và cung cấp bao nhiêu? Các nhà tài trợ có nhiều
động cơ khi cung cấp viện trợ, chỉ một số trong đó trực tiếp liên quan đến phát triển kinh
tế.
Nguyên nhân thứ nhất: Các mục tiêu chính sách nước ngoài và các liên minh
chính trị
Gần như người ta không lạ gì việc chính sách nước ngoài và các mối quan hệ chính
trị là những yếu tố then chốt xác định các dòng viện trợ. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh,
cả Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết đều sử dụng viện trợ để tranh giành sự ủng hộ của các
14
nước đang phát triển trên thế giới. Hoa Kỳ cung cấp lượng viện trợ lớn cho những nước
chống lại sự mở rộng chủ nghĩa cộng sản mà không quan tâm xem thử viện trợ có được
sử dụng để phát triển hay không, bao gồm miền nam Việt Nam vào thập niên 60;
nhất và dành ít trợ cấp cũng như ít khoản cho vay ưu đãi hơn cho những nước thu nhập
cao hơn. Một số chương trình viện trợ được thiết kế công khai vì mục tiêu này. Chương
trình IDA của Ngân hàng Thế giới có một mức trần thu nhập (cũng như các chương trình
ưu đãi của các ngân hàng phát triển khu vực). Một khi các nước đạt được mức trần (965
USD đầu người vào năm 2004), trong hầu hết các trường hợp, họ cũng “tốt nghiệp” hay
15
“hoàn tất chương trình” của IDA để tiến tới các khoản vay không ưu đãi của IBRD. Các
chương trình khác có ít qui tắc hoàn tất chính thức hơn nhưng cũng có xu hướng cung cấp
ít viện trợ hơn khi thu nhập gia tăng.
Khi thu nhập của những nước nghèo nhất gia tăng, thành phần của các dòng vốn
vào đất nước họ có xu hướng thay đổi; dòng viện trợ giảm dần và dòng vốn tư nhân tăng
lên. Cũng có những ngoại lệ cho cả hai diễn tiến này. Ấn Độ nhận viện trợ tương đối ít
(tính theo đầu người cũng như theo tỷ lệ % GDP), so với những nước khác có thu nhập
tương tự; Israel, French Polynesia, và Ba Lan nhận được giá trị viện trợ tương đối lớn,
cho dù họ vốn có thu nhập trên đầu người tương đối cao. Botswana nhận dòng viện trợ
tương đương 15 % GDP vào đầu thập niên 70, khi thu nhập bình quân không đến 800
USD trên đầu người, nhưng với thu nhập bình quân hiện nay hơn 4000 USD, dòng viện
trợ đã giảm xuống dưới 1 % GDP.
Nhìn chung, việc chuyển từ nhận viện trợ nhiều sang ít phải qua nhiều năm. Ta hãy
xem một quốc gia như Mozambique, với thu nhập đầu người năm 2004 là 250 USD. Thu
nhập của họ sẽ phải tăng gần gấp bốn lần thì mới đạt được 965 USD và “hoàn tất chương
trình” viện trợ của IDA, rồi (thông thường) bắt đầu chuyển từ ODA sang việc nhận tài trợ
không ưu đãi. Nếu thu nhập đầu người của họ tăng với tỷ lệ nhanh chóng 5 % một năm,
thì Mozambique sẽ phải mất 27 năm mới đạt được thu nhập 965 USD đầu người. Với tỷ
lệ tăng trưởng khiêm tốn hơn nhưng vẫn nhanh là 3 % đầu người một năm, sự chuyển đổi
này phải mất 46 năm. Một nghiên cứu gần đây tính toán rằng, đối với những nước thành
công nhất, “nửa đời” của viện trợ là vào khoảng 12 năm, nghĩa là viện trợ sẽ giảm xuống
còn khoảng 50 % so với mức độ đỉnh điểm sau 12 năm và giảm còn 25 % so với đỉnh
điểm sau khoảng 24 năm. Như vậy, đối với nhiều nước nghèo nhất, sự chuyển đổi nhanh
sang các dòng vốn tư nhân xem ra là không thể.
trợ sẽ nhận được ít lợi ích hơn từ khoản viện trợ được cho là dành cho nước họ.
Nguyên nhân thứ năm: Dân chủ
Về mặt lịch sử, các nhà tài trợ cung cấp viện trợ nước ngoài gần như không quan
tâm đến việc chính phủ nước nhận viện trợ là chuyên quyền hay dân chủ. Điều này đặc
biệt xảy ra trong thời Chiến tranh lạnh, nhưng từ khi Liên Xô giải tán, các nước viện trợ
có xu hướng gia tăng viện trợ cho những nước đã trở thành những nền dân chủ. Nhiều
viện trợ hơn dành cho mục đích củng cố các nền dân chủ mong manh, hỗ trợ sự chuyển
đổi từ phi dân chủ sang dân chủ, hay xây dựng các thể chế dân chủ, bao gồm tài trợ cho
quốc hội, các hệ thống giám sát bầu cử, và các nhóm ủng hộ dân quyền và tự do ngôn
luận. Alberto Alesina và David Dollar, trong một nghiên cứu cho giai đoạn từ năm 1970
đến 1994, nhận thấy rằng viện trợ dành cho một quốc gia điển hình tăng lên 50 % sau khi
chuyển đổi thành một đất nước dân chủ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
1. TS. Lê Quốc Lý & TS Lê Huy Trọng (2003), “Nợ nước ngoài: Những vấn đề lý
luận và thực tiễn quản lý ở Việt Nam”, Nxb Tài Chính.
2. PGS. TS. Ngô Thắng Lợi (2012), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb Đại học kinh tế
quốc dân.
3.
4.
5.
18