LờI NóI ĐầU
Cùng với sự phát trển của đất nớc sau hơn mời lăm năm đổi mới, việc đầu
t xây dựng cơ bản (XDCB) các công trình phục vụ quốc tế dân sinh, thiết lập cơ sở hạ
tầng, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, góp phần giải quyết
những nhiệm vụ kinh tế xã hội có tầm quan trọng chiến lợc của mỗi giai đoạn phát
triển kinh tế đất nớc đang là yêu cầu cấp bách đặt ra trớc mắt cũng nh lâu dài đối với
toàn Đảng toàn dân, nó phù hợp với nhu cầu, xu hớng phát phát triển của khu vực và
thế giới. Do đó việc đầu t các công, các dự án trọng điểm để phát triển kinh tế của
đất nớc thoát khỏi tình trạng lạc hậu tiến kịp với sự phát triển của khu vực là các hoạt
động kinh tế cơ bản của mỗi quốc gia. Xuất phát từ yêu cầu đó, Đảng và Nhà nớc ta
đã tập trung huy động các nguồn vốn khác nhau để đầu t cho xây dựng nh vốn vay n-
ớc ngoài, vốn ngân sách, các nguồn tài trợ v.v. nhằm thúc đẩy các hoạt động đầu t
xây dựng cơ bản. Song vần đề đặt ra là đầu t xây dựng cơ bản nh thế nào để đem lại
hiệu quả kinh tế cao, việc sử dụng nguồn vốn đầu t xây dựng cơ bản là một vấn đề đ-
ợc nhiều nhà quản lý quan tâm và còn nhiều điều vớng mắc cần phải đợc tháo gỡ và
đợc kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ có quy mô và khoa học mới phát huy hiệu
quả của nó.
ở nớc ta kiểm toán Nhà nớc đợc thành lập (năm 1994) là một công cụ quản
lý vĩ mô của Nhà nớc nhằm mục tiêu thiết lập trật tự, kỷ cơng để làm lành mạnh nền
tài chính quốc gia. Trong những năm qua, kiểm toán Nhà nớc đã thực hiện đợc hàng
nghìn cuộc kiểm toán tại các địa phơng, các Bộ, các ngành, các tổ chức xã hội, các
doanh nghiệp Nhà nớc... Thông qua các hoạt động kiểm toán của mình kiểm toán
Nhà nớc đã phát hiện thực trạng về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, thu chi ngân
sách Nhà nớc, hoạt động sản xuất kinh doanh của các tỉnh, thành phố và các doanh
nghiệp. Đặc biệt là kiểm toán Nhà nớc đã đi sâu phát hiện tình hình quản lý và sử
dụng ngân sách Nhà nớc trong các lĩnh vực quan trọng, trong đó có lĩnh vực XDCB.
Kiểm toán Nhà nớc đã phát hiện, nhận xét, đánh giá tình hình đầu t XDCB cả những
thực tiễn tích cực và những hạn chế của nó. Có thể nói rằng bằng sự hoạt động của
mình kiểm toán Nhà nớc đã có những đóng góp tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển
1
công tác đầu t XDCB ở nớc ta. Tuy nhiên một thực tế ở nớc ta hiện nay là vẫn còn
thiết bị và lao động (kể cả lao động trực tiếp, lao động gián tiếp - lao động phục vụ
thi công và lao động quản lý).
Công trình XDCB có thể bao gồm một hạng mục hoặc nhiều công trình nằm
trong một dây truyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh để tạo ra sản phẩm hoặc lao vụ
đã đợc chỉ định trong dự án.
Trong nội dung đề tài này, công trình đầu t XDCB đựoc hiểu là những công
trình xây dựng hình thành từ các dự án đầu t từ các nguồn ngân sách của Nhà nớc,
vốn tín dụng u đãi của Nhà nớc dùng để đầu t đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế , các cơ sở sản xuất tạo việc làm, các dự án đầu t quan trọng của Nhà n-
ớc trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát nớc...), vốn thuộc các khoản
vay nớc ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành cho đầu t phát triển
(kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn thuộc quỹ hỗ trợ đầu t quốc gia và
các quỹ khác của Nhà nớc dùng cho đầu t phát triển, vốn tín dụng thơng mại, vốn
đầu t của các doanh nghiệp Nhà nớc (vốn khầu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi nhuận
sau thuế, vốn tự huy động), vốn hợp tác liên doanh với nớc ngoài của các doanh
nghiệp Nhà nớc, vốn do chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện, vốn đầu t của các cơ
quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nớc ngoài khác đợc phép xây dựng
trên đất Việt Nam đợc quản lý theo hiệp định hoặc thoả thuận đã đợc ký kết giữa
Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nớc hoặc các tổ chức, cơ quan nớc ngoài.....
Những công trình có một số đặc điểm cơ bản sau:
Những sản phẩm xây dựng cơ bản là kết quả của ngành công nghiệp đặc biệt
(công nghiệp xây lắp) bao gồm nhiều phơng thức thi công khác nhau. Sản phẩm xây
lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc...có quy mô lớn, kết cấu phức tạp
mang tính đơn chiếc, giá trị lớn, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài,thờng phải thi
công ngoài trời, trên mặt nớc, dới đáy nớc, trong hầm sâu, gắn liền với một vị trí địa
lý xác định, trong khi lực lợng thi công luôn luôn phải di động theo tiến độ thi công
3
sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật t
rất phức tạp do ảnh hởng của điều kiện khách quan.
Mặt khác, những công trình xây dựng có nhiều chủ thể quản lý và thi công,
sát thực trong một thời gian đã định trớc thì yêu cầu phải có một quy trình kiểm toán
cụ thể, chi tiết. Đặc biệt trong quá trình thực hiện kiểm toán, đây là quá trình yêu cầu
các kiểm toán viên sử dụng nhiều những phơng pháp kỹ thuật nghiệp vụ để thực hiện
công tác kiểm toán, do đó cần có quy trình cụ thể mang tính khoa học để các kiểm
toán viên dễ dàng phối hợp với nhau một cách chặt chẽ và có hiệu quả và cùng theo
các mục tiêu, chơng trình và phạm vi kiểm toán. Kiểm toán viên phải có sự phân
công phân nhiệm chức năng nhiệm vụ cụ thể để biết đợc phải thực hiện những công
việc gì, với ai...
3. Mục đích và yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán các dự án đầu t XDCB
của kiểm toán Nhà nớc.
Kiểm toán báo cáo quyết toán đầu t XDCB có những đặc điểm khác nhau so
với kiểm toán các khía cạnh khác nh kiểm toán doanh nghiệp Nhà nớc hoặc kiểm
toán ngân sách Nhà nớc, vì chu kỳ đầu t dài, chu kỳ của một dự án đầu t XDCB bao
gồm nhiều giai đoạn, để đa dự án từ một ý tởng thành hiện thực, đồng thời yêu cầu,
nguyên tắc cũng nh chu trình quản lý dự án đầu t XDCB cũng có nhiều điểm khác
biệt.
Mục đích của kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu t XDCB đó là:
Kiểm toán Nhà nớc kiểm toán và xác định các dự án đầu t XDCB đợc thực
hiện có tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, thủ tục quy định của Nhà nớc về quản
lý dự án đầu t XDCB hay không. Kiểm toán Nhà nớc kiểm tra soát xét và xác định dự
án đầu t XDCB có đợc tiến hành theo đúng trình tự từ khi có ý đồ xây dựng đến việc
khảo sát nghiên cứu luận chứng và tính khả thi của dự án; thiết kế và tính toán kỹ
thuật công trình, việc cung ứng, tổ chức đấu thầu, đến xây dựng công trình cho đến
khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao công trình...Ngoài ra kiểm toán Nhà nớc xem
xét và kiểm tra sự giám sát của các bộ phận, tổ chức có liên quan đến chất lợng công
trình, việc nghiệm thu và thanh quyết toán công trình có đúng đắn, trung thực hay
không.
Phát hiện những tồn tại, sơ hở và gian lận hoặc thất thoát trong quản lý đầu t
xây dựng cơ bản, đề xuất với Nhà nớc trng thu những khoản chi tiêu trong đầu t
XDCB không đúng chế độ, không hợp lý, không hợp lệ về cho ngân sách Nhà nớc.
luật, chế độ quản lý đầu t và xây dựng; Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu t công
trình hoàn thành.
6
A. Kiểm toán tuân thủ luật pháp, chế độ quản lý đầu t và xây
dựng.
1. Kiểm toán tuân thủ giai đoạn chuản bị đầu t.
1.1. Mục tiêu và rủi ro giai đoạn kiểm toán tuân thủ giai đoạn chuẩn bị đầu t.
Mục tiêu của kiểm toán Nhà nớc ở giai đoạn này đó là phải xác minh và đánh
giá tình hình chấp hành chính sách chế độ quản lý đầu t xây dựng của dự án đầu t về
u điểm, khuyết nhợc điểm và hiệu quả kinh tế, tài chính, xã hội... của dự án cũng nh
tính đúng đắn của các quyết định của các cấp có thẩm quyền.
Kiểm toán viên căn cứ vào các văn bản pháp lý nh: quy chế quản lý đầu t và
xây dựng, quy chế đấu thầu, quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) (đối với công trình xây dựng cơ bản sử dụng vốn hỗ trợ của nớc
ngoài); Các thông t liên bộ và các thông t của bộ ngành có liên quan hớng dẫn quy
chế quản lý đầu t, xây dựng và quy chế đấu thầu; Các quyết định của cấp có thẩm
quyền cho phép tiến hành công tác chuẩn bị đầu t, quyết định giao nhiệm vụ chủ đầu
t và thành lập ban quản lý dự án (nếu có); Kế hoạch năm về chuẩn bị đầu t của cấp có
thẩm quyền giao; Hợp đồng điều tra, khảo sát, t vấn lập báo cáo đầu t và thẩm định
báo cáo đầu t (báo cáo nghiên cứu tièn khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi); Quyết
định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu trong giai đoạn chuẩn bị đầu
t (nếu có), quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh hành nghề của đơn vị nhận
hợp đồng điều tra, khảo sát, t vấn lập báo cáo đầu t; Biên bản bàn giao tài liệu trong
giai đoạn chuẩn bị đầu t; Báo cáo quyết toán vốn chuẩn bị đầu t hoàn thành... để tiến
hành kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán giai đoạn này, kiểm toán Nhà nớc thờng
gặp phải những rủi ro chủ yếu sau: những tài liệu về công tác điều tra thăm dò thị tr-
ờng, nguồn nguyên vật liệu, động lực, môi sinh, môi trờng, nguồn đầu t... không đầy
đủ, chính xác, cụ thể: Khối lợng khảo sát tính sai, không sát với điều kiện thực tế, dễ
dẫn đến gian lận; Những công việc t vấn cha có quy định về định mức chi phí nhng
vào khai thác sử dụng.
Đối với giai đoạn này, kiểm toán Nhà nớc căn cứ vào các văn bản pháp quy
nh: Báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết định đầu t; Các quyết định giâo đất, quyết
định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán hoặc thiết kế kỹ thuật thi công và
tổng dự toán, quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu kèm theo báo cáo định giá xếp
8
hạng nhà thầu của chủ đầu t (trờng hợp đấu thầu), quyết định chỉ định thầu hoặc
công trình tự làm; Dự toán mua sắm tài sản và chi phí kiến thiết cơ bản khác đợc phê
duyệt; Giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (trờng hợp dự án đầu t có
nhu cầu khai thác tài nguyên), giấy phép kinh doanh hành nghề của đơn vị nhận thầu
(trờng hợp chỉ định thầu); Hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp, mua sắm thiết bị
và chi phí kiến thiết cơ bản khác; Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và dự toán hạng mục
đợc phê duyệt, hồ sơ nghiệm thu công trình gồm: hồ sơ nghiệm thu trong giai đoạn
xây lắp công trình, hồ sơ nghiệm thu khi hoàn thành hạng mục công trình hoặc toàn
bộ công trình... Để xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của các quyết định, các văn bản
có liên quan cũng nh trình tự thủ tục thực hiện các bớc trong giai đoạn này.
Những rủi ro kiểm toán viên Nhà nớc thờng gặp trong quá trình kiểm toán giai
đoạn này là: Nội dung báo cáo đầu t (tiền khả thi và khả thi) sơ sài, không cung cấp
đủ những thông tin cần thiết, không tuân thủ đầy đủ theo quy định (do bộ kế hoạch
và đầu t hớng dẫn); Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán không đầy đủ
theo quy định (do bộ Xây dựng hớng dẫn) đễ xảy ra sai lệch về quy mô, công nghệ,
công suất, cấp công trình, vốn, diện tích sử dụng... so với quyết định đầu t; Không
chấp hành đúng quy chế đấu thầu; Dự toán bị tính toán sai: khối lợng tính trùng lắp,
sai tiên lợng, đơn giá không đúng giá quy định hoặc vận dụng sai lệch đối với những
công việc cha có quy định về giá, tính toán số học sai; Hợp đồng thi công không
đúng giá dự toán đợc phê duyệt và không đợc cấp chủ quản phê duyệt hợp đồng;
Khối lợng phát sinh không có văn bản thiết kế phê duyệt bổ sung, sửa đổi; Hồ sơ
nghiệm thu không đầy đủ bản vẽ hoàn thành công trình, thiếu các tài liệu kết quả thí
nghiệm vật liệu, bê tông, kết cấu...: Thiếu biên bản nghiệm thu từng phần, nhật ký
công trình không ghi đầy đủ diễn biến phát sinh và sự cố trong quá trình thi công...
Xem xét nội dung của hồ sơ nghiệm thu, hồ sơ hoàn thành công trình. Hồ sơ
nghiệm thu phải đầy đủ các biên bản nghiệm thu từng phần, các kết quả kiểm tra thí
nghiệm khối lợng và chất lợng vật liệu, thiết bị của bộ phận công trình hoặc toàn bộ
công trình đợc nghệm thu; Hồ sơ hoàn thành công trình phải đầy đủ tài liệu theo quy
định của điều lệ quản lý chất lợng công trình xây dựng.
2.3. kỹ thuật sử dụng
Trong giai đoạn này kiểm toán Nhà nớc cũng áp dụng những thủ tục, phơng
pháp kiểm toán tơng tự nh những phơng pháp đã sử dụng cho giai đoạn chuẩn bị đầu
10
t để thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm thực hiện mục tiêu của mình trong giai
đoạn này.
B. Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu t công trình hoàn
thành.
1. Mục tiêu và rủi ro kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu t công trình hoàn
thành.
Báo cáo quyết toán vốn đầu t dự án công trình hoàn thành theo chế độ báo cáo
tài chính bao gồm các nội dung chính nh sau: vốn đầu t thực hiện từ giai đoạn chuẩn
bị đầu t đến kết thúc xây dựng công trình đa vào khai thác sử dụng; Các nguồn vốn
đầu t; Giá trị công trình đầu t và giá trị tài sản bàn giao đa vào khai thác sử dụng
(gồm giá trị tài sản cố định và giá trị tài sản lu động) đã đợc quy về mặt giá tại thời
điểm bàn giao; Tình hình công nợ, vật t, thiết bị tồn đọng đến thời điểm quyết toán
vốn đầu t.
Mục tiêu của kiểm toán Nhà nớc ở giai đoạn này đó là kiểm tra xác nhận tính
trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán đợc thể hiện trên hai khía cạnh: tính hợp
pháp, hợp lý của các khoản chi phí đợc hạch toán vào chi phí công trình (tình hình sử
dụng vốn) và xem xét báo cáo tài chính có phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực kế
toán hiện hành và yêu cầu của pháp luật hay không. Kiểm toán Nhà nớc cũng hớng
vào mục tiêu xác định đợc tổng số vốn đã đầu t, đã cấp phát cho công trình; vốn đầu
t đã thực hiện; giá trị những hạng mục công trình đã đa vào sử dụng hoặc bàn giao
cho ngành khác sử dụng. Đồng thời xác định những giá trị không nằm trong giá trị
do áp dụng sai định mức hoặc sai thời điểm quy định tính chênh lệch giá... Vợt các
định mức chi phí theo quy định của dự toán, tính sai về giá trị xây lắp quyết toán,
biên bản ngiệm thu phản ánh không trung thực, có nhiều sai sót.
Mặt khác, các rủi ro thờng gặp trong giai đoạn này liên quan đến chi phí thiết
bị hoàn thành nữa là: Chất lợng vật t, thiết bị và tính năng sử dụng không đảm bảo;
Trang thiết bị, phụ tùng kèm theo thừa, thiếu, sai chủng loại, quy cách; Đối với các
trang thết bị nhập ngoại giá thành quy đổi sai tỷ giá; Thiếu thủ tục thanh toán hoặc
sai chế độ về chi phí, công tác kiểm tra hàng hoá tại cảng, cớc phí vận chuyển, chi
phí bảo hành thiết bị... Phân bổ chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo hành bảo dỡng cho
từng thiết bị, tài sản cố định không đúng; Thiếu chi tiết thiết bị hoặc phụ tùng thay
12
thế, sửa chữa, thiết bị không đúng xuất sứ, tên nớc, tên hãng sản xuất hoặc sai thông
số kỹ thuật hoặc các sai sót khác trong hợp đồng giữa các bên không chặt chẽ.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện kiểm toán nội dung này kiểm toán Nhà nớc
còn gặp một số những rủi ro trong kiểm toán chi phí kiến thiết cơ bản khác nh: Chi
phí kiến thiết cơ bản khác tính theo định mức tỷ lệ phần trăm bị vận dụng sai lệch
hoặc bị lẫn lộn vào phần chi phí xây lắp trong quá trình thanh toán làm cho cơ cấu đù
t thực tế giữa xây lắp, thiết bị, kiến thết cơ bản khác không chính xác; Chi phí kiến
thiết cơ bản khác cha có quy định về định mức chi phí nh: chi phí t vấn pháp luật xây
dựng và hợp đồng kinh tế; t vấn kiểm định công trình, đánh giá lại tài sản thiết bị, chi
phí khởi công, khánh thành.... nhng không có dự toán hoặc dự toán không đợc cấp
thẩm quyền phê duyệt. Chi phí đền bù giải phóng mặt bằng không sát với khối lợng
thực tế... dễ xảy ra tình hình không đảm bảo chế độ chi tiêu tài chính của Nhà nớc,
tiền đền bù không đợc thanh toán đầy đủ đến tay ngời dân đợc đền bù; Phân bổ chi
phí kiến thiết cơ bản khác vào các hạng mục công trình hoàn thành để tính giá trị tài
sản cố định không đúng phơng pháp tính, không theo các tiêu thức đã đợc quy định;
Không ghi thu hồi giá trị sản phẩm thu đợc trong thời gian sản xuất thử hoặc thu hồi
giá trị phế liệu sau đầu t.
Đối với chi phí đầu t tính vào giá trị công trình: Những thiệt hại về chi phí vật
t, thiết bị của bên B cha đa vào công trình để lộn vào chi phí đầu t thực hiện xin huỷ