II. Ô nhiễm không khí:
Cùng với Hà Nội, TP.HCM đang nằm trong danh sách 10 thành phố ô nhiễm không khí
của khu vực châu Á và thế giới, theo xếp hạng trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế
giới.
Vấn đề bụi bẩn, ô nhiễm không khí đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết nhưng mức độ
quan tâm của công luận, như theo nhiều chuyên gia về môi trường thì vẫn còn ở mức
“dưới trung bình”.
1.Định nghĩa:
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự xuất
hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây
biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật.
2. Tác nhân gây ô nhiễm:
-Các loại khí oxit: CO, CO2, SO2, NOx
-Các hợp chất khí halogen: HCl, HF, HBr…
-Các chất hữu cơ tổng hợp RH, bay hơi xăng, sơn…
-Các khí quang hóa: PAN, O3…
-Các chất lơ lửng: sương mù, bụi…
-Nhiệt, tiếng ồn, phóng xạ…
3.Các hoạt động gây ô nhiễm
a.Tự nhiên
Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng. Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm
có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế giới,
không tập trung trong một vùng. Trong quá trình phát triển, con người đã thích nghi với
các nguồn này.
b.Công nghiệp
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người. Các quá trình gây ô nhiễm là quá trình
đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu
cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây truyền công nghệ, các
quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi.
Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tập trung trong một
không gian nhỏ. Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiên liệu sử
có phát thải chất gây ô nhiễm không khí có lắp đặt hệ thống xử lý khí thải.
-nồng độ bụi lơ lửng trung bình dao động 0,38 – 0,76 mg/m3 vượt quy chuẩn quốc gia
(QCVN) từ 1,26 - 2,55 lần, có những tháng mùa khô nồng độ bụi trung bình lên tới 1,47
mg/m3 vượt quy chuẩn Việt Nam. Cùng với bụi có 45% giá trị quan trắc nồng độ NO2 và
67% giá trị quan trắc nồng độ Benzene…cũng vượt quy chuẩn Việt Nam. Trong đó ô
nhiễm nhiệt độ chiếm tỷ lệ cao nhất (32%), sau đó đến tiếng ồn (29%), ánh sáng (24%),
nguyên nhân chủ quan: bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường còn nặng tính
hình thức. Hoạt động bắt buộc này đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chỉ
hoạt động tốt đến giai đoạn thẩm định, còn khâu hậu kiểm hầu như bị thả nổi.
5.Hậu quả:
*Ô nhiễm không khí đã gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng tới sức khỏe con
người, đời sống sinh vật và thiệt hại không nhỏ về kinh tế.
*Khi môi trường không khí bị ô nhiễm sức khỏe của con người bị suy giảm, gây nhiều
bệnh như: Viêm phổi, hen suyễn, ung thư, viêm phế quản, tim mạch, suy nhược thần
kinh…, làm giảm tuổi thọ của con người. Trong đó, các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất
với sự ô nhiễm không khí là người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 15 tuổi, người
đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời… Mức độ ảnh hưởng đối
với từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian
tiếp xúc với môi trường ô nhiễm.
*Lưu huỳnh điôxít và các ôxít của nitơ có thể gây mưa axít làm giảm độ pH của đất.
*Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực hiện quá
trình quang hợp.
*Các loài động vật có thể xâm lấn,cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hại
cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
*Khí CO2 sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng nhà
kính, làm Trái Đất ngày một nóng dần lên, các khu sinh thái sẵn có dần bị phá hủy.
Cụ thể:
-Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận tại Việt Nam trung bình mỗi năm có 16.000 người
chết do ô nhiễm không khí gây nên.
-số người bị các bệnh đường hô hấp (thường do ô nhiễm không khí gây ra) chiếm từ
-Chi cục còn phối hợp với lực lượng quản lý thị trường và ngành giao thông tổ chức
đăng kiểm xe, kiểm tra lượ„ng xả thải của các loại xe tải lưu thông vào các khu vực nội
thành.
-Xử phạt nghiêm những cơ sở cố tình kéo dài, không trang bị hệ thống xử lý khí thải
trong quá trình sản xuất, kiên quyết đình chỉ hoạt động sản xuất của những cơ sở vi
phạm, gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí.
-Chi cục cũng phối hợp với lực lượng quản lý thị trường tìm các biện pháp hữu hiệu để
phát hiện, ngăn chặn tình trạng xăng pha chì vẫn đang lén lút tiêu thụ trên thị trường bất
chấp quy định của Nhà nước cấm sử dụng xăng pha chì.
-Phối hợp với lực luợng cảnh sát giao thông, ngành giao thông vận tải tổ chức đăng
kiểm xe, kiểm tra tình trạng, luợng xả thải khi của các loại xe tải lưu thông vào các khu
vực nội thành , ở các giao lộ, các tuyến đường chính của thành phố
7.Một số hình ảnh:
8.Tài liệu tham khảo:
/>hcm.html
/>trong/82/9757814.epi
/>9669-400e-b5fd-9e63a89949f0&ID=4049
/>catid=252&subcatid=0&newsid=235&langid=0
/>trong/82/9757814.epi
III. Ô nhiễm nước:
1.Định nghĩa:
Ô nhiễm nước là à sự thay đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý – hoá học –
sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở
nên độc hại, là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm
nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã,làm giảm độ đa dạng của
sv dưới nước
*Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo
ngại hơn ô nhiễm đất
2. Tác nhân gây ô nhiễm:
b. Ô nhiễm nhân tạo
* Từ sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình,
bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ
sinh của con người. Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị
phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất
rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng
các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau. Nhìn chung mức
sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao.
Vd điển hình: nước thải sinh hoạt là nguồn gây ô nhiễm đáng kể nhất, chiếm đến 62,2%
tổng lưu lượng thải ra sông Sài Gòn.
* Từ các hoạt động công nghiệp
Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): là nước thải từ các cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải. Khác với nước thải sinh hoạt hay nước
thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc
vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể. Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực
phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài
các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sulfua, Người ta thường sử dụng đại lượng
PE (population equivalent) để so sánh một cách tương đối mức độ gây ô nhiễm của nước
thải công nghiệp với nước thải đô thị. Đại lượng này được xác định dựa vào lượng thải
trung bình của một người trong một ngày đối với một tác nhân gây ô nhiễm xác định. Các
tác nhân gây ô nhiễm chính thường được sử dụng để so sánh là COD (nhu cầu oxy hóa
học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), SS (chất rắn lơ lửng). Ngoài các nguồn gây ô nhiễm
chính như trên thì còn có các nguồn gây ô nhiếm nước khác như từ y tế hay từ các hoạt
động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của con người….Các hoạt động gây ô nhiễm:
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước:
+ô nhiễm vô cơ, hữu cơ
+ô nhiễm hoá chất
+ô nhiễm sinh học
+ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
COD cũng đều đạt QCVN 08:2008, cột B1, một số nơi đạt quy chuẩn cột A1 như:
Cầu Tan Thuận, Sông Đồng Nai (phà Cát Lái và bến đò Hãng Da). Riêng đối với
Trạm bơm Hóa An, trạm bơm Hòa Phú đều có giá trị BOD5 và COD ở mức thấp,
đạt và xấp xỉ giá trị cột A1 của QCVN 08:2008.
+Ô nhiễm vi sinh (Coliforms) khá cao tại các điểm quan trắc ở TP.HCM và ngay
cả ở các điểm quan trắc trên các sông lớn (Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè) thể hiện rõ
ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đô thị. Hàm lượng Coliforms hầu hết đều vượt
QCVN 08: 2008, cột B1 từ 1,3 – 24,9 lần, cao nhất là ở khu vực Cầu Phú Mỹ.
+Theo kết quả thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM từ năm
2010 đến 2012 được thực hiện trên địa bàn 24 Quận/huyện với 826 nguồn thải, chỉ
có khoảng 60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ
qua xử lý sơ bộ (bể tự hoại) trước khi xả thải ra môi trường. Điều đáng lưu ý là
trong số các nguồn thải được khảo sát thì có đến 44% các nguồn thải có lưu lượng
nước thải từ 50m3/ngày.đêm, đây là nguồn thải đóng góp đến 90% cả về lưu
lượng và tải lượng ô nhiễm.
+Thống kê nguồn thải theo ngành nghề cũng cho thấy, các ngành chiếm số lượng
nhà máy lớn gồm: dệt nhuộm, may mặc (21%), sản xuất sản phẩm từ kim loại
(11%), hoá chất (9%), thực phẩm (8%). Trong đó, các ngành nghề có hệ số phát
thải cao như: dệt nhuộm, giấy, thực phẩm đóng góp đến 56% tổng tải lượng COD.
Cũng theo báo cáo, tải lượng ô nhiễm COD cao nhất tập trung ở Quận Tân Bình
(chiếm 25% tổng tải lượng COD) do các nguồn thải có quy mô lớn và nằm trong
nhóm ngành nghề có hệ số phát thải cao, tiếp theo là Quận 12 (15%) và Thủ Đức
(11%).
4.Hậu quả:
-tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm
màng kết, tiêu chảy, ung thư
-khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư
trong đó thường gặp là ung thư da.Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần
hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l.
-Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat,
-chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức, cộng đồng có ý thức bảo vệ nguồn
nước, đặc biệt là cần phải áp dụng những quy định nghiêm ngặt hơn đối với vấn
đề kiểm soát ô nhiễm, buộc tất cả mọi doanh nghiệp - từ quy mô nhỏ đến lớn -
phải đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu về nguồn nước thải trong sản suất
kinh doanh, tránh ô nhiễm môi trường.
6.Hình ảnh:
class="bi x2 yf3 w8 ha"
8.tài liệu tham khảo
/> />tp-hcm-va-viet-nam_52_24196_1.html
/>%C6%B0%E1%BB%9Dng
/>%C6%B0%E1%BB%9Bcl%C3%A0g%C3%AC.aspx
/>