LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ là một công trình nghiên cứu đòi hỏi sự nỗ lực của
bản thân tác giả và sự giúp đỡ của Eximbank Vinh, cựng cỏc thầy cô giáo.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS
Phạm Thị Gái, giảng viên hướng dẫn khoa học, Khoa Kế toán, Trường Đại
học Kinh Tế Quốc Dân đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn
này.
Bên cạnh đó, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo Eximbank đã
hỗ trợ tạo điều kiện về tư liệu của Ngân hàng
Cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kế toán - Kiểm toán - Phân tích, Viện
quản lý Đào tạo sau Đại học và các thầy cô trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nôi.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ tác giả trong thời gian
qua
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Dũng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
1 BC LCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2 BCTC Báo cáo tài chính
3 BCTNCP Báo cáo thu nhập – chi phí
4 BS VDL Bổ sung vốn điều lệ
5 BTC Bộ tài chính
6 CDKT Cân đối kế toán
7 CKH Có kỳ hạn
8 CNTT Công nghệ thông tin
9 CP Cổ phần
10 CQ & VK Các quỹ và vốn khác
11 DPTC Dự phòng tài chính
12 DT Doanh thu
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù
riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính. Cũng giống như các doanh nghiệp phi tài
chính, các ngân hàng thương mại luôn phải đối đầu với những thách thức của thị
trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh
doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Vì
vậy, ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm sát sao của từ nhiều phía: Nhà nước,
nhà đầu tư, người gửi tiền…
Phân tích báo cáo tài chính đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và trở thành
một việc làm không thể thiếu đối với bất kỳ ngân hàng nào, bởi đối với nhà quản trị
ngân hàng, các nhà quản lý, nhà đầu tư…Với một hệ thống chỉ tiêu phân tích báo
cáo tài chính phù hợp, phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp và các
đối tượng liên quan ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động của mình nhằm đạt
hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
Biết tính toán và sử dụng các chỉ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với nhà
quản trị, mà còn rất quan trọng với nhà đầu tư cũng như với chính bản thân doanh
nghiệp nói chung và ngành ngân hàng nói riêng các chỉ số tài chính cho phép
chúng ta so sánh các mặt khác nhau của các báo cáo tài chính trong một doanh
nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn ngành
Mục đích nghiên cứu là bổ sung và phát triển lý luận về phân tích báo cáo tài
chính NHTM thông qua thực tiễn nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác phân
tích báo cáo tài chính tại Eximbank Vinh, từ đó xây dựng phương hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Eximbank Vinh, phục vụ tốt
nhất cho các đối tượng quan tâm.
1
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong các năm gần đây đã có rất nhiều đề tài liên quan đến phân tích báo cáo
tài chính, cụ thể là các đề tài sau:
Bảng 1.1.Danh sỏch cỏc đề tài đã nghiên cứu.
TT Tên đề tài Tác giả
1
Tuy nhiên, các giải pháp mà các tác giả đưa ra ở mức khái quát và chưa phù
hợp với thực tế nên việc áp dụng ở các ngân hàng thương mại còn gặp nhiều khó
khăn và trở ngại.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề cơ bản về phân tích báo cáo tài chính
trong các ngân hàng thương mại
2
- Làm rõ thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại cổ
phần xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Vinh
- Đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại cổ
phần xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Vinh
- Từ đó đưa ra các nhận định về mặt còn tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại
đó và đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích
BCTC tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Chi
nhánh Vinh
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
- Phõn tích báo cáo tài chớnh trong Ngõn hàng TMCP bao gồm những công việc
nào?
- Thực trạng phõn tích báo cáo tài chớnh trong Ngõn hàng TMCP như thế nào?
- Làm thế nào để hoàn thiện phõn tích báo cáo tài chớnh trong Ngõn hàng
TMCP
1.5. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính trong
các ngân hàng thương mại
- Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất
nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Vinh
- Thời gian nghiên cứu của luận văn từ tháng 7/2011 đến tháng 12/2011
- Địa điểm tổ chức thu thập tài liệu tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất
nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Vinh
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
số liệu các chỉ tiêu tài chính kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua hoặc hệ thống
báo cáo tài chính dự toán nhằm cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có thể đánh
giá tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai
của doanh nghiệp
Phân tích báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ
thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo
nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối
tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau.
2.1.2. Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân
tích và giải thích các báo cáo tài chính. Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này đòi hỏi
phải thiết lập một quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở cho việc
ra quyết định. Trong phân tích cuối cùng, việc ra quyết định là mục đích chủ yếu
của phân tích báo cáo tài chính. Loại hình quyết định đang được xem xét sẽ là yếu
tố quan trọng của phạm vi phân tích, nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay
đổi.
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính,
đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh.
- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để
"hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ
phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính
trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau
5
nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ
liệu ban đầu.
- Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra
quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc
dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài
chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người
có hiệu quả nhất tài sản, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ
sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện
và cỏc tỡnh hướng làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải cung cấp đầy
đủ những thông tin, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được những nét
sinh động trên “bức tranh tài chớnh” của doanh nghiệp thể hiện qua các khía cạnh
sau đây:
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực các thông tin tài chính cần thiết cho
chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các khách hàng, nhà cung
cấp…
- Cung cấp những thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động
nguồn vốn, khả năng sinh lời và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cung cấp những thông tin về tình hình công nợ, khả năng thu hồi các khoản
phải thu, khả năng thanh toán các khoản phải trả cũng như các nhân tố khác ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2. Hệ thống báo cáo tài chính ngân hàng thương mại.
2.2.1. Hệ thống báo cáo tài chính ngân hàng thương mại.
Báo cáo tài chính là bản báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt động của một
doanh nghiệp. “Bỏo cỏo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của
doanh nghiệp. Theo đó, BCTC chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình
7
hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết qủa
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Trên thế giới, các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 1, IAS 30) quy định những
thông tin phải được công bố trên BCTC của doanh nghiệp nói chung và tổ chức tín
dụng nói riêng. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, báo cáo tài chính được quy định
ở một số văn bản như Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003; Chuẩn mực
kế toán số 01 (VAS 01); Chuẩn mực chung quy định và hướng dẫn các nguyên tắc
- Báo cáo thu nhập, chi phí và kết qủa kinh doanh
- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Như vậy, so với thông lệ quốc tế, hiện nay các NHTM Việt Nam không phải
lập báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo VAS 21, đoạn 66 yêu cầu các
doanh nghiệp trình bày những biến động trong nguồn vốn chủ sở hữu trong thuyết
minh BCTC.
Bảng cân đối kế toán ngân hàng thương mại
Bảng cân đối kế toán NHTM cần tập hợp các tài sản và nợ theo tính chất và
liệt kê các khoản này theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản. Bảng cân đối kế toán
cần tập hợp các tài sản và nợ theo tính chất luôn đảm bảo tính cân đối kế toán
TỔNG TÀI SẢN + TỔNG NGUỒN VỐN và các khoản mục thuộc tài sản (hoặc
nguồn vốn) đều được sắp xếp theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần.
Bảng cân đối kế toán NHTM cho biết các thông tin tổng hợp và trọng yếu
như: Tổng tài sản, tổng dự nợ, tổng huy động, các khoản tiền gửi tại TCTD khỏc,
cỏc khoản đầu tư, nguồn vốn chủ sở hữu, lợi nhuận của một NHTM tại một thời
điểm nhất định. Trên cơ sở các số liệu có được từ bảng CĐKT, người đọc có thể
phân tích được tổng quát tình hình hoạt động tại thời điểm báo cáo của NHTM, quy
mô, các mảng hoạt động chính hay mức độ rủi ro trong qỳa trỡnh hoạt động kinh
doanh.
9
Bảng cân đối kế toán và các thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm nhưng
không giới hạn cho các tài sản và công nợ sau: (Theo chuẩn mực VAS 21 và VAS
22 bảng cân đối phải thể hiện tối thiểu các thông tin sau).
- Khoản mục tài sản
+ Tiền mặt, vàng bạc, đá quý;
+ Tiền gửi tại NHNN (NH trung ương)
+ Tín phiếu kho bạc và các chứng chỉ có giá khỏc dựng tỏi chiếu khấu với
NHNN.
và chi phí được theo bản chất.
Báo cáo thu nhập chi phí là một BCTC phản ánh tóm lược các khoản doanh
thu, chi phí và kết qủa kinh doanh của NHTM trong một thời kỳ nhất định (tháng,
quý, năm). Trên BCTNCP, các khoản thu nhập, chi phí được nhóm theo bản chất
(thu nhập lãi, chi phí lãi, thu nhập ngoài lãi, chi phí ngoài lãi ) và trình bày riêng rẽ
các khoản thu nhập, chi phí chính của ngân hàng. Báo cáo thu nhập chi phí có 2 cột
số kiệu (kỳ này, kỳ trước) giúp người đọc có thể so sánh số liệu hiện tại với kỳ kinh
doanh trước, từ đó có thể đánh giá hiệu qủa kinh doanh trực quan hơn.
Theo chuẩn mực VAS 22 thì BCTNCP của NHTM phải trình bày tối thiểu các
khoản mục thu nhập, chớ phớ sau đây:
- Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; chi phí lãi và các chi phí tương
tự.
- Lãi được chia từ góp vốn và mua cổ phần.
- Thu phí hoạt động dịch vụ; phí và chi phí hoa hồng.
- Lãi hoặc lỗ thuần từ kinh doanh chứng khoán kinh doanh; Lãi hoặc lỗ thuần
từ kinh doanh chứng khoán đầu tư; Lãi hoặc lỗ thuần hoạt động kinh doanh ngoại
hối.
- Thu nhập từ hoạt động khác
- Tổn thất khoản cho vay và ứng trước
- Chi phí quản lý
11
Như vậy, theo VAS 22, các loại thu nhập, chi phí chủ yếu phát sinh từ hoạt
động của NHTM được trình bày theo các chỉ tiêu riêng biệt, ngoại trừ các khoản lãi
lỗ từ thanh lý chứng khoản kinh doanh, đầu tư và hoạt động kinh doanh ngoại hối
được trình bày trên cơ sở thuần.
Theo QĐ16, báo cáo TNCP được trình bày theo mẫu B0-3//TCTD, trên cơ sở
tuân thủ chuẩn mực VAS 22 của BTC, trong đó có tính toán đến các chỉ tiêu như
thu nhập lãi thuần (chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lói), lói/ lỗ thuần từ hoạt
động dịch vụ (chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động dịch vụ và chi phí hoạt động
dịch vụ) chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
nghiệp vụ tiền tệ với các chủ thể ngoài doanh nghiệp (từ các chủ sở hữu và chủ nơ)
tài trợ cho ngân hàng và các hoạt động của ngân hàng. Đây là chỉ số chủ yếu trong
dự đoán yêu cầu về tiền trong tương lai của những người cung cấp vốn cho NH.
Báo cáo LCTT có thể được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.
Phương pháp trực tiếp căn cứ vào các khoản thực thu và thực chi tiền mặt từ các
hoạt động kinh doanh. Phương pháp gián tiếp xác định luồng tiền từ hoạt động kinh
doanh trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh ảnh hưởng của giao
dịch phi tiền tệ, dự thu, dự chi, thu nhập chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư và
tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính ngân hàng thương mại
Thuyết minh BCTC NHTM là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng
lời, bằng số liệu một số chỉ tiêu kinh tế-tài chính chưa được thể hiện trờn cỏc BCTC
khác. Thuyết minh BCTC là sự cụ thể hóa, chi tiết húa cỏc khoản mục trọng yếu
trên bảng CĐKT, TNCP, giúp cho người đọc BCTC hiểu được bản chất cũng như lý
do biến động các khoản mục, từ đó đánh giá chính xác và thấu đáo các mặt hoạt
động của NHTM.
Bản thuyết minh BCTC cần đưa ra những thông tin sau:
- Đưa ra thông tin về cơ sở dùng để lập BCTC và các chính sách kế toán cụ
thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng.
13
- Trỡnh bày các thông tin theo quy định của các chuẩn mực kế toán mà chưa
được trình bày trong các BCTC khác.
- Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các BCTC khác,
nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý.
Theo chuẩn mực VAS 21 và VAS 22 bản thuyết minh BCTC thường được
trình bày theo thứ tự sau và cần duy trì nhất quán nhằm giúp cho người sử dụng
hiểu được BCTC và có thể so sánh với BCTC của NHTM khác:
- Tuyên bố về việc tuân thủ các chuẩn mức và chế độ kế toán Việt Nam.
- Giải trình về chính sách kế toán được áp dụng tại NHTM: nguyên tắc và
phương pháp khấu hao TSCĐ, nguyên tắc và phương pháp tớnh giỏ chứng khoán
NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi loại hình
doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách
hàng. Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng
- Hoạt động kinh doanh của NHTM liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính của
NHTM ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tâm
lý của người dân, cũng như của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh
giá thực trạng tài chính của các NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho
hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt
buộc của ngân hàng trung ương
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chưa nhiều rủi ro, bởi lễ nó
tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của
loại hình doanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ
thống kinh tế. Do đó, trong qỳa trỡnh hoạt động các NHTM phải thường xuyên
cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng
ngừa từ xa có hiệu qủa. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được
khả năng chịu đựng rủi ro của mình.
15
- Hoạt động kinh doanh của NHTM diễn biến liên tục trong mỗi loại hình
nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Điều
này sẽ gây khó khăn trong việc tách riêng từng mặt hoạt động của ngân hàng để
phân tích kết qủa tài chính.
Tóm lại, từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc điểm
hoạt động tài chính của ngân hàng, dẫn đến các ngân hàng thương mại cổ phần có
đặc điểm phân tích tài chính riêng, khác biệt với các DN phi tài chính khác, có thể
khái quát thành những nội dung chi tiết như sau:
Thứ nhất, đối tượng kinh doanh chính của NHTM là tiền tệ, giá cả của tiền tệ
được phản ánh thông qua lãi suất.Khi đú, trờn BCTC của NHTM sẽ không có một
vị trí quan trọng trong phân tích BCTC NHTM, trong khi đó ở doanh nghiệp, phần
phân tích này tương đối đơn giản và không phải là phần phân tích trọng yếu.
2.2.2. Vai trò của hệ thống báo cáo tài chính đối với việc phân tích tình
hình tài chính của ngân hàng thương mại.
Hệ thống báo cáo tài chính NHTM giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong
phân tích hoạt động tài chính của ngân hàng, đồng thời có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với hoạt động kinh doanh của đơn vị, điều này được thể hiện thông qua
những vấn đề cụ thể sau:
- Báo cáo tài chính ngân hàng là hệ thống thông tin tài chính kế toán, trong đó
trình bày các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chủ yêu của ngân hàng theo chuẩn mực, chế
độ báo cáo hiện hành. Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin khái quát về kinh
tế, tài chính, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng
huy động các nguyồn vốn vào qỳa trỡnh kinh doanh.
- Phản ánh tổng hợp, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn và kết
qủa kinh doanh của ngân hàng trong một kỳ kế toán cũng như tại thời điểm lập báo
cáo tài chính.
- Phục vụ cho việc phân tích hoạt động, tình tài chính của ngân hàng trong kỳ
kế toán, tại thời điểm lập báo cáo, phát hiện kịp thời những thiếu sót, những nhân tố
làm giảm kết qủa hoạt động kinh doanh và dự đoán sự phát triển trong tương lai
17
- Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tổng quát về kinh tế-xã hội, giúp
cho việc phân tích tình hình và kết qủa hoạt động kinh doanh, trên cơ sở đú giỳp
cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động các nguồn
vốn vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Những thông tin trên BCTC là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích,
phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế, dự đoán tình hình kinh doanh, xu
hướng phát triển, đưa ra các lời khuyên cho các quyết định của các đối tượng quan
tâm đến ngân hàng như nhà đầu tư, nhà quản trị, chủ nợ
Như vậy, có thể nói hệ thống báo cáo tài chính là bức tranh sinh động nhất,
đầy đủ nhất, cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích cho việc phân tích
Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng làn lượt từng
nhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách khi xác định sự ảnh
hưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác.
Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả của các
hoạt động tài chính, phương pháp loại trừ có thể được thực hiện bằng hai cách:
- Dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố và được gọi là “Phương
pháp số chênh lệch”
- Thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố và được gọi là “Phương pháp
thay thế liên hoàn”
2.3.3. Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp
của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Bởi vậy, trước hết phải biết được số lượng
các chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu
phân tích, từ đó xác định được công thức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố đó.
Sau đó, phải sắp xếp và trình tự xác định sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ
tiêu phân tích cần tuân theo quy luật lượng biến dẫn đến chất biến. Nghĩa là nhân tố
số lượng xếp trước nhân tố chất lượng xếp sau. Trong trường hợp, có nhiều nhân tố
19
số lượng và nhiều nhân tố chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu
xếp sau.
2.3.4. Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp này dựa trên cơ sở sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các
yếu tố, trong đó mối quan hệ giữa chỉ tiêu nhân tố và chỉ tiêu phân tích được biểu
hiện dưới dạng tổng số hoặc hiệu số (khác với phương pháp số chênh lệch và
phương pháp thay thế liên hoàn biểu hiện dưới dạng tích số hoặc thương số). Do đó,
khi xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhõn tú đến chỉ tiêu phân tích chỉ cần xác
định mức chênh lệch của từng nhân tố giữa 2 kỳ.
2.3.5. Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố
theo một trình tự nhất định. Nhân tố này được thay thế nó sẽ xác định mức độ ảnh
sản và nguồn vốn, so sánh cơ cấu cũng như sự biến động cơ cấu theo thời gian
Nội dung phân tích BCTC bao gồm:
- Phân tích sự biến động về tổng tài sản, cơ cấu tài sản, tỷ trọng các khoản
mục trong tổng tải sản. Đánh giá tương quan giữa các khoản mục tài sản có sinh lời
và tài sản dự trữ, chỉ tiêu này thể hiện quan điểm kinh doanh của NH trong việc cân
đối giữa an toàn thanh khoản và mục tiêu lợi nhuận.
Tỷ lệ lãi theo
doanh thu
Lợi nhuận
thuần
Doanh thu
thuần
Doanh thu
thuần
Tổng chi
phí
Chi phí ngoài
sản xuất
Chi phí sản
xuất
Vòng quay của
tài sản
Doanh thu
thuần
Tổng tài
sản
Tổng tài sản
ngắn hạn
Tổng tài sản
dài hạn