SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
LỜI MỞ ĐẦU
Vancomycin là chất kháng sinh thuộc nhóm glycolipid có tác dụng tích
cực trong điều trị bệnh, từng được coi là phương thuốc cuối cùng vì có khả năng
điều trị được các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm do các chủng vi sinh vật kháng
methicillin (chất kháng sinh nhóm β-lactam) gây nên. Vancomycin đã được đưa
vào chữa bệnh từ hơn 40 năm qua, nhưng ngày nay vẫn được coi là kháng sinh
quan trọng do hiệu quả chữa bệnh cao khi dùng một mình hoặc phối hợp với các
kháng sinh khác, chống lại các vi khuẩn đã nhờn với nhiều loại kháng sinh thông
dụng. Bởi vậy, việc nghiên cứu sinh tổng hợp vancomycin vẫn được quan tâm,
phát triển, để từ đó hình thành nên thế hệ kháng sinh mới có hiệu quả chữa bệnh
cao. Hơn nữa, nghiên cứu lên men Vancomycin và nắm vững quy trình sản xuất
chất kháng sinh này còn tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở sản xuất các chất
kháng sinh ở quy mô công nghiệp trong điều kiện Việt Nam, góp phần thực hiện
mục tiêu tới năm 2020 sản xuất được 50% tổng số thuốc, do Bộ Y tế đề ra.
Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất
vancomycin bằng nguyên liệu trong nước, phù hợp với điều kiện kinh tế và môi
trường khí hậu của Việt Nam là cần thiết. Cùng với nó, việc triển khai xây dựng
một cơ sở sản xuất kháng sinh này với công suất 5000 kg/năm góp phần phục vụ
công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
CHƯƠNG I: LẬP LUẬN KINH TẾ KỸ THUẬT
Kháng sinh Vancomycin là một sản phẩm có vai trò quan trọng và mang lại
giá trị kinh tế to lớn. Trong khi, nước ta lại rất ít nhà máy sản xuất sản phẩm này.
Đặc biệt, khu vực miền Trung, mặc dù nhu cầu sử dụng kháng sinh của khu vực
này rất cao. Đây là một điều kiện rất thuận lợi để chúng ta tiến hành sản xuất
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong
những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào,
Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua
Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa. Nằm
ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế,
thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển
nhanh chóng và bền vửng
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53 km
2
; trong đó, các quận nội
thành chiếm diện tích 213,05 km
2
, các huyện ngoại thành chiếm diện tích
1.042,48km
2
Hình 1.1: Bản đồ vị trí địa lý Đà Nẵng
1.2. Nguồn cung cấp nguyên liệu
Do điều kiện vị trí địa lý thuận lợi giao thông nên việc nhập nguyên liệu
sản xuất khá dễ dàng
Nhà máy chủ yếu thu mua nguyên liệu bột đậu tương từ các vùng trong
thành phố và các vùng lân cận.Đặc biệt thu mua phế phẩm bã đậu nành từ nhà
máy Vinasoy Quảng Ngãi nhằm giảm giá thành sản phẩm và góp phần bảo vệ
môi trường
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Nước thải của nhà máy sau khi qua hệ thống xử lý của nhà máy được
thải ra hệ thống cống thoát chung của khu công nghiệp để đi đến hệ thống xử lý
nước thải chung của khu công nghiệp. Sau đó, nước thải xử lý đạt tiêu chuẩn mới
được thải ra ngoài.
1.7. Hệ thống giao thông vận tải
Khu công nghiệp Hòa Khánh nằm cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 10km,
cảng biển Tiên Sa 20km, cảng Sông Hàn 13km, cảng biển Liên Chiểu 5km giao
thông thuận lợi cho việc nhập nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm
1.8. Nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ
Nằm ngay trên một trong những tuyến đường và đường hàng không quốc
tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và
bền vững. Thành phố Đà Nẵng có diện tích 1.255,53 km
2
, với gần 800.000 dân
với mức sống khá cao. Đà Nẵng là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng của
các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ. Khi tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây
hoàn thành, thị trường sẽ tiếp tục mở rộng đến Mi-an-ma, Thái Lan, Lào mở ra
cơ hội lớn cho các nhà đầu tư. Trong những năm qua, GDP của thành phố tăng
trưởng liên tục ở mức cao, từ 10-13%/năm (năm 2005 đạt 14%) khẳng định xu
thế đi lên vững chắc của Đà Nẵng
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Ngoài ra, nhà máy còn tiếp nhận các nguồn lao động từ các vùng lân cận
nên sẽ giảm được chi phí thuê công nhân. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và
quản lý nhà máy sẽ tiếp nhận từ các trường Đại học và các cán bộ có kinh
nghiệm.
Thị trường tiêu thụ được chọn là thị trường của cả nước và hướng đến
1. Các kháng sinh có chứa
đường trong phân tử
Aminoglycosid
Orrthsomycin
N-glycosid
C-glycosid
Glycolipid
Streptomycin,
neomycin
Everninomycin
Streptothricin
Vancomycin
Moenomycin
2. Kháng sinh chứa vũng
lacton lớn
(macrocycliclacton)
Kháng sinh macrolid
Kháng sinh polyen
Ansamycin
Macrotetrolid
Erythromycin
Candicidin, nistatin
Rifamicin
Tetranactin
3. Quinon và các kháng sinh
cựng họ
Anthracyclin
Naphthoquinon
Benzoquinon
Adriamycin
thơm
Cloramfenicol
Novobiocin
2.2 Đặc tính chủng xạ khuẩn Streptomyces
Streptomyces là chi lớn nhất của Actinobacteria. Hơn 500 loài
Streptomyces vi khuẩn đã được mô tả. Cũng như với các Actinobacteria khác,
Streptomyces là Gram dương, và có bộ gen với tỉ lệ GC cao được tìm thấy chủ
yếu trong đất và thảm thực vật mục nát, nhất Streptomyces sản xuất bào tử.
Streptomyces được nghiên cứu rộng rãi nhất và được biết đến nhiều nhất là chi
của họ xạ khuẩn (atinomyces). Streptomyces thường sống ở đất và chúng nhận
vai trò là vi sinh vật phân hủy rất quan trọng. Chúng cũng sản xuất hơn một nửa
số thuốc kháng sinh của thế giới và đó là sản phẩm có giá trị lớn trong lĩnh vực y
tế.
2.2.1. Cấu trúc bộ gen
Toàn bộ bộ gen của Streptomyces orientalis đã được xác lập trình tự từ
tháng 7 năm 2001. Các nhiễm sắc thể tuyến tính là 8.667.507 bp dài và được dự
đoán sẽ có 7.825 gen, khoảng gấp đôi so với vi khuẩn thường sống tự do, và đó
là bộ gen lớn nhất của vi khuẩn đã được lập trình tự. Các nhiễm sắc thể tuyến
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
tính lập lại từ một nguồn gốc trung tâm. Nhiễm sắc thể đơn lẻ cũng có một cấu
trúc telomere độc đáo.
Trong quá trình nhân rộng đuôi 5’ của nhiễm sắc thể vẫn chưa đầy đủ, dẫn đến
một dải đơn của RNA ở hai đầu. Streptomyces orientalis cũng được sắp xếp trình
tự gene vào tháng 10 năm 2001. Nó dài 9.025.658, và có 7.575 ORFs. Gen này
dung sản xuất ra Avermectin - chất chống kí sinh được sử dụng rộng rãi để loại
bỏ giun sán có trong vật nuôi, côn trùng và để bảo vệ số lượng lớn động vật sống
trúc dạng sợi . Streptomyces phát triển và phân tán thông qua việc hình thành các
bào tử, bào tử nấm được gọi là conidia, sau thời kì sinh trưởng, sinh dưỡng. Các
bào tử đó sinh trưởng trên vật chủ. Bởi vì chu kỳ sống phức tạp của Streptomyces
tương tự như của sinh vật chuẩn đa bào, nó cho phép các nhà nghiên cứu dễ dàng
nghiên cứu sự phát triển của vòng đời phức tạp này. [7]
2.3 Tổng quan về kháng sinh Vancomycin
2.3.1 Lịch sử phát triển
Năm 1937, Dubos đã phân lập được từ vi khuẩn Bacillus brevis chất
Tyrothrycin có tác dụng diệt khuẩn. Sau này, qua phân tích đã xác định được
Tyrothrycin là 1 hỗn hợp gồm 2 chất gramicidin và Tyrocidin có cấu trúc là một
polypeptid. Đối lập với Dubos, đến năm 1944 Gause và Brazhnikova cũng đã
phân lập được từ vi khuẩn B. Brevis chất Gramicidin S. Gramicidin S là một hỗn
hợp gồm 4 polypeptid có cấu tạo vòng. Thử nghiệm lâm sàng các hợp chất này
có tác dụng với vi khuẩn gram dương nhưng độc tính đối với thận nên được dùng
chủ yếu để điều trị nhiễm trùng ngoài da, các vết thương.
Năm 1945, John Son và các cộng sự lại tách được từ B.Subtilis chất
Bacitracin. Bacitracin cũng là 1 hỗn hợp của nhiều polypeptid, thành phần chủ
yếu là Bacitracin A, 1 peptid có 10 axit amin kết hợp với 1 vòng Thiazol.
Bacitracin cũng độc tính với thận nên chỉ được sử dụng qua đường uống để điều
trị các bệnh nhiễm trùng đường ruột.
Cũng vào thời gian đó, năm 1947, từ B.polymyxa đã phân lập được 5 hợp
chất là polymyxin A, B, C, D và E do 3 nhóm các nhà khoa học (nhóm
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Ainsworth, nhóm Benedict và nhóm Stansly). Do độc tính đối với thận nên trong
5 chất trên chỉ có 2 chất polymyxin B và E là được sử dụng dưới dạng muối
sunfat để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gram âm.
Xuân
nó có thể kéo dài từ 5 - 9 ngày và có thể phát hiện được trong huyết thanh lâu tới
21 ngày sau khi tiêm 1 liều độc nhất 1g.
2.3.2 Đặc tính của Vancomycin
Vancomycin là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế quá
trình sinh tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn, ở giai đoạn sớm hơn so với các kháng
sinh nhóm beta - lactam. Vancomycin còn tác động đến tính thấm màng tế bào và
quá trình tổng hợp RNA của vi khuẩn. Cho tới nay, chưa có báo cáo về kháng
chéo của vi khuẩn giữa các kháng sinh khác và Vancomycin.
Vancomycin có tác dụng tốt trên các vi khuẩn Gram dương ưa khí và kỵ
khí, bao gồm: Tụ cầu, gồm Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis
(kể cả các chủng kháng methicilin không đồng nhất). liên cầu, gồm
Streptococcus pneumoniae (kể cả chủng đã kháng penicilin), Streptococcus
agalactiae, Streptococcus pyogenes, Streptococcus bovis, cầu tràng khuẩn (ví dụ
Enterococcus faecalis) và Clostridiae. Vancomycin có tác dụng in vitro trên các
vi khuẩn: Listeria monocytogenes, Lactobacillus spp., Actinomyces spp.,
Clostridium spp. và Bacillus spp.
2.3.3 Ðộ nhạy cảm
Nồng độ tối thiểu ức chế (MIC) của Vancomycin đối với hầu hết các chủng
nhạy cảm từ 0,1 đến 2,0 microgam/ml. Nồng độ diệt khuẩn của thuốc không cao
hơn nhiều so với MIC. Các chủng vi khuẩn có MIC dưới 4,0 microgam/ml được
coi là nhạy cảm với Vancomycin, các chủng có MIC từ 4,0 microgam/ml đến
16,0 microgam/ml là nhạy cảm vừa phải. Các chủng vi khuẩn có MIC từ 16
microgam/ml trở lên được xếp là loại kháng thuốc. Bột vancomycin chuẩn có
MIC từ 0,5 microgam/ml tới 2,0 microgam/ml đối với S. aureus ATCC 29213 và
từ 1,0 tới 4,0 microgam/ml đối với E. faecalis (sưu tập chủng mẫu chuẩn của Mỹ
- ATCC 29212). [10]
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
phá vỡ, cuối cùng là gây ra sự dung giải của tế bào vi khuẩn. [14]
2.3.5 Dược động học:
+Vancomycin có tác dụng diệt khuẩn do ức chế sinh tổng hợp vách tế bào,
thay đổi tính thấm của màng tế bào.
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
+Thay đổi sự tổng hợp ARN của vi khuẩn, thuốc không hấp thu qua
đường tiêu hóa, phân bố khắp các tổ chức ngoại trừ dịch não tủy, thải ra trong
nước tiểu (90% trong 24 giờ).
+Thuốc nhạy cảm với tụ cầu vàng, cầu khuẩn ruột, Clostridium, liên cầu,
phế cầu, não mô cầu, lậu cầu, bạch hầu.
+Đề kháng tự nhiên đối với các trực khuẩn Gram âm, Mycobacter và các
vi nấm[15]
2.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men Vancomycin
2.4.1.Đặc điểm lên men sản xuất Vancomycin từ Streptomyces
Lên men Streptomyces là quá trình lên men hiếu khí. Nhiệt độ lên men
khoảng 26-28
0
C, thời gian lên men 120 giờ. Trong thời gian lên men cần phải
thông khí và khuấy trộn môi trường. Lượng không khí thổi qua môi trường trung
bình là 1 thể tích khí/1 thể tích môi trường. Khuấy trộn môi trường liên tục trong
suốt cả quá trình lên men (kể cả khi nhân giống) nếu ngừng khuấy chỉ trong một
thời gian ngắn sẽ làm giảm hiệu suất Streptomyces. Độ pH trong những giờ đầu
có giảm chút ít sau đó tăng dần
2.4.2.Điều kiện lên men
- Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp kháng sinh của
chủng S. orientalis là 28
Lên men
26-280C,pH=6-8/120h
Lọc tách sinh khối
Tách tinh thể (máy lọc thùng quay)
Trao đổi ion lần 1 (Wofatit KPS200)
(NH4OH 0.2N, pH=9-11)
Tẩy màu (than hoat tính)
Sấy băng tải
Cô chân không 50C, 48h
Vancomycin
Trích ly ,pH=2-2.5, 0-30C
Kết tinh (Aceton lạnh)
Trao đổi ion lần 2 ( WofatitN)
(HCL, 0.1, pH=2-3)
h N
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
3.1. Quy trình sản xuất kháng sinh Vancomycin
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
3.2 Thuyết minh quy trình sản xuất kháng sinh Vancomycin
3.2.1. Nguyên liệu( bột đậu tương)
Bột đậu tương được chọn làm nguyên liệu cho lên men và nhân giống
chủng xạ khuẩn cần phải lựa chọn kỹ lưỡng. Bột đậu tương thường vẫn còn mùi
thơm đặc chưng của bột đậu, không bị ẩm mốc, không lẫn tạp chất, mảnh kim
loại…Chính vì vậy bột phải được bảo quản nơi thoáng mát, tránh bảo quản trong
điều kiện ẩm dễ gây mốc. Ngoài ra trong quá trình bảo quản phải đảm bào bột
4
10mg/l
3.2.4 Thanh trùng, làm nguội
Để môi trường đảm bảo được độ vô trùng tránh sự nhiễm vi sinh vật lạ
vào môi trường làm giảm bớt khả năng sinh vật lạ tranh giành thức ăn với chủng
Streptomyces orientalis và tăng hiệu suất lên men ở công đoạn tiếp theo.
- Thông số kĩ thuật: quá trình thanh trùng dịch được bơm ngược chiều
với hơi nước, để tạo ra quá trình trao đổi nhiệt. Thanh trùng ở 110
0
C trong thời
gian 15 phút rồi được làm nguội nhiệt độ của dịch lên men xuống 30
÷
32
0
C. [7]
- Thiết bị: sử dụng thiết bị thanh trùng bản mỏng.
3.2.5 Lên men
Chủng S.orientalis có hoạt tính kháng khuẩn mạnh và đã lựa chọn được
môi trường MT48 cho hoạt tính kháng sinh cao nhất có thể làm môi trường cơ sở
để nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn dinh dưỡng và điều kiện lên men đến
khả năng tạo kháng sinh.
Chủng S.orientalis sử dụng tốt nguồn đường saccharose với hàm lượng
thích hợp là 3%, cho hoạt tính kháng sinh cao. Trong số các nguồn nitơ thử
nghiệm thì bột đậu tương cho hoạt tính kháng sinh cao nhất, với hàm lượng 0,2%
là thích hợp. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và pH cho thấy, nhiệt độ thích
hợp cho sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp kháng sinh của chủng S.
orientalis là 28
0
C và pH từ 6 đến 8. Lượng giống được cấy vào môi trường lên
men thích hợp 6 - 8 % so với môi trường lên men.
Mục đích: Vancomycin là sản phẩm lên men ngoại bào. Dịch sau lên men
gồm một hỗn hợp gồm: tế bào xạ khuẩn và những sản phẩm mà do tế bào tiết ra
môi trường trong quá trình trao đổi chất trong đó có Vancomycin, bên cạnh đó
một phần các chất dinh dưỡng vẫn chư được chuyển hoá hết còn sót lại ở dịch
sau lên men.
Vì vậy, ngay sau khi kết thúc quá trình lên men người ta thường tiến hành lọc
ngay để giảm tổn hao do phân hu• Vancomycin và giảm bớt khó khăn khi tinh
chế, do các tạp chất tạo ra trong lên men .
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Thiết bị lọc: Sử dụng hệ thống lọc thùng quay. Thông thường, người ta
chỉ cần lọc một lần rồi làm lạnh dịch ngay để chuyển sang công đoạn tiếp theo.
Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt mới cần phải xử lý kết tủa một phần
protein và lọc lại dịch lần thứ hai.
Quá trình lọc :Dịch lên men được lọc qua hệ thống lọc thùng quay sau đó
cô đặc ở 10mmHg còn 1/50 thể tích.
Thu hồi sinh khối : Phần sinh khối tạo ra được rửa sạch, sấy khô và sử
dụng để chế biến thức ăn gia súc.
3.2.7. Cô đặc
Cô bớt nước ở áp suất chân không 10mmHg cho tới khi độ ẩm của dung
dịch đạt 38 – 39% .
Cuối quá trình cô đặc bổ sung HCl để điểu chỉnh pH = 2- 3 tạo thuận lợi
cho sắc kí trao đổi ion sau này.
3.2.8. Trích ly
Vancomycin thường được trích ly ở dạng axít ra khỏi dịch lọc bằng dung
môi amylacetat hoặc butylacetat ở pH = 2,0 - 2,5, nhiệt độ 0 - 3
0
điện của các cấu tử có trong dung dịch mà các cấu tử này sẽ đi ra khỏi cột ở các
phân đoạn khác nhau khi được rửa giải bởi NH
4
OH. Các cấu tử tích điện dương
nhỏ sẽ đi ra trước tiếp đó là các cấu tử mang điện tích dương lớn hơn sẽ đi ra sau.
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Hình 3.1: Minh họa sắc ký trao đổi ion
3.2.10. Chiết bằng NH
4
OH
Vancomycin, và các protein mang điện tích dương bám trên bề mặt trao đổi
ion của nhựa Wofatid 200 sẽ được rửa giải ra khỏi cột nhựa bằng dung dịch
NH
4
OH 0,2N; pH= 9-11.
3.2.11. Trao đổi ion lần 2 bằng nhựa Wofatid N
Dung dịch sau trao đổi ion lần 1 không chỉ chứa Vancomycin mà còn chứa
các protein và các axit hữu cơ. Vì vậy dung dịch được tiếp tục trao đổi ion lần 2
bằng cột nhựa Wofatid N mang điện tích dương.
Hầu hết các protein và peptide ( kể cả Vancomycin ) có trong dịch sau khi
trao đổi ion lần 1 sẽ mang điện tích âm vì pH của dung dịch lúc này là 9-11.
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
Butanol - axit acetic - H2O (4 : 3 : 7) cho giá trị Rf; bằng phương pháp phổ khối
Agilent 6310 Ion Trap trên máy HPLC-MS, trọng lượng phân tử là 1449,27 và
bằng sắc ký lỏng cao áp trên máy HPLC-SPA-10 Shimadzu,thời gian lưu là ở 4,4
phút giống như Vancomycin chuẩn (Merck).Sắc ký đồ HPLC cho thấy không có
các pic tạp chứng tỏ vancomycin chế phẩm khá tinh sạch, độ tinh khiết đạt 95%.
Khi sản phẩm đã đạt độ tinh sạch theo yêu cầu, thường độ tinh khiết không
dưới 95% sau khi lọc tánh tinh thể; tiếp theo rửa và làm khô sơ bộ bằng dung môi
kỵ nước như izopropanol hay butylalcohl; hút chân không tách dung môi trên
máy lọc băng tải, rồi sấy bằng không khí nóng từ 50-60
0
C đến dạng sản phẩm bột
muối Vancomycin có độ ẩm là 5%. Thời gian sấy là 1h.
Sản phẩm này, một phần được sử dụng trực tiếp để pha chế thuốc kháng
sinh Vancomycin; còn lại, phần lớn được sử dụng làm nguyên liệu phục vụ cho
việc sản xuất các sản phẩm Vancomycin và Vancomycin bán tổng hợp khác.
Ngoài ra, để sản xuất ra các sản phẩm Vancomycin có độ tinh khiết rất cao,
người ta cần phải sử dụng phối hợp thêm một số giải pháp công nghệ khác.
CHƯƠNG IV: TÍNH CÂN BẰNG VẬT CH‡T
4.1 Biểu đồ sản xuất
Nhà máy làm việc 12 tháng trong 1 năm, nghỉ các ngày lễ, Tết và chủ nhật.
Mỗi ngày làm việc 3 ca. Mỗi ca làm việc 8 giờ.
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm
SVTH: Lê Thành Nhân GVHD : Ths.Nguyn Th Minh
Xuân
-Lượng giống đặc thù cần dùng so với thể tích dịch lên men là 6%
Bảng 4.2 Mức tiêu hao nguyên liệu qua từng công đoạn
STT Công đoạn Tổn thất (%)
1 Pha chế dịch lên men 1
Thiết kế nhà máy sản xuất kháng sinh Vancomycin năng suất 5000kg
sản phẩm/năm