MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
3. Phương pháp nghiên cứu 1
4. Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan tình hình khu vực 3
1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.2 Đặc điểm địa hình 3
1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 4
1.1.4 Đặc điểm đất đai thổ nhưỡng 7
1.2 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu tính toán hệ thống sông ở ngoài nước. 8
1.3 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu tính toán hệ thống sông ở trong nước 11
1.4 Nhận xét chung: 13
1.5 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 14
CHƯƠNG II: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ HIỆN TRẠNG THỦY LỢI 17
2.1 Nhiệm vụ và quy mô hệ thống 17
2.2 Hiện trạng các con sông chính trong hệ thống 17
2.3 Hiện trạng các công trình trong hệ thống 19
2.3.1 Công trình đầu mối 20
2.3.2 Hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh 22
2.4 Đánh giá hiện trạng các công trình đã có. 23
2.5 Tài liệu thủy văn 24
2.5.1 Tài liệu mưa 24
2.5.2 Tài liệu địa hình 26
2.6 Phân khu tiêu 27
2.6.1. Mục tiêu phân khu, phân ô tiêu 27
2.6.2. Những cơ sở và nguyên tắc để phân khu, phân ô tiêu 28
2.6.3. Xác định các trục tiêu và phân khu tiêu 30
2.6.4. Phân ô trong các khu tiêu đã được xác định 31
Bảng 2.11 Kết quả phân khu tiêu hệ thống 6 trạm bơm 32
Bảng 2.12 Kết quả phân ô tiêu hệ thống 6 trạm bơm 33
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu đặc trưng của các trục tiêu chính
37
Bảng 3.2 Số mặt cắt địa hình của mạng sông, kênh tiêu chính 38
Bảng 3.3 Chỉ tiêu kỹ thuật của các công trình điều tiết 39
Bảng 3.4 Bảng các tổ hợp đóng mở cống 42DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Bản đồ khu tiêu Nam Hà 6
Hình 2.1 Mô hình lượng mưa dng trong tính toán 26
Hình 3.1 Hiệu chỉnh mô hình mực nước tại Như Trác và tại Cầu Sắt 42
Hình 3.2 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 12 của khu tiêu Như Trác. 45
Hình 3.3 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 18 của khu tiêu Như Trác. 45
.Hình 3.4 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 38 của khu tiêu Như Trác. 46
Hình 3.5 Biểu đồ diện tích ngập khu tiêu Như Trác. 46
Hình 3.6 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 4 của khu tiêu Hữu Bị. 47
Hình 3.7 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 64 của khu tiêu Hữu Bị. 48
Hình 3.8 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 34 của khu tiêu Hữu Bị. 48
Hình 3.9 Biểu đồ diện tích ngập khu tiêu Hữu Bị 49
Hình 3.10 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 2 của khu tiêu Cốc Thành. 50
Hình 3.11 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 18 của khu tiêu Cốc Thành. 50
Hình 3.12 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 63 của khu tiêu Cốc Thành. 51
Hình 3.13 Biểu đồ diện tích ngập khu tiêu Cốc Thành 51
Hình 3.14 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 2 của khu tiêu Vĩnh Trị.
52
Hình 3.15 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 64 của khu tiêu Vĩnh Trị. 53
Hình 3.16 Biểu đồ diện tích ngập trường hợp 35 của khu tiêu Vĩnh Trị. 53
Hình 3.17 Biểu đồ diện tích ngập khu tiêu Vĩnh Trị 54
kin cu thnh h thng gm: a hỡnh, a cht, khớ hu, nc, sinh vt, con ngi,
phng thc qun lý, khai thỏc .v.v, l cỏc thnh phn ca h tng tỏc cú quan
h rng buc, tỏc ng ln nhau.
(2) Tip cn k tha, phỏt trin cỏc kt qu nghiờn cu v tip thu cụng ngh
+ Tip cn cỏc kt qu nghiờn cu v tớnh toỏn ng lc hc dng chy trờn
th gii v trong nc nht l cỏc kt qu vng nghiờn cu.
+ S dng cỏc cụng c tiờn tin trin khai thc hin ti nh: S dng
cỏc phn mm VRSAP (Vietnam River System and Plan , GS Nguyn Nh Khuờ )
c ci biờn bi GVHD v cỏc ph n mm ng dng khỏc phc v cụng tỏc tớnh
toỏn, d bỏo mc nc khu vc.
2
4. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, những thông số kỹ thuật cơ bản
của khu vực nghiên cứu.
- Thu thập số liệu cao trình các cống then chốt làm việc trong khu tiêu
- Tính toán thủy lực hệ thống sông nội đồng
- Tính toán xác định được phạm vi ngập úng: diện tích ngập, mức độ ngập
Nhân, ven sông Đào, sông Châu; một số vng đất trũng cốt +0,7 - +0,8m ở Bình
Lục, Ý Yên, Vụ Bản; một số nơi có đồi núi như ở Vụ Bản, Thanh Liêm, Ý Yên.
Tình hình phân bố cao độ ruộng đất được thể hiện trong Bảng 1.1
4
Bảng 1.1 Phân bố cao độ ruộng đất khu vực Nam Hà
Cao độ (m)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
% cộng dồn
< 0,5
3.113,75
3,65
3,65
0,5 - 0,75
12.857,75
15,07
18,72
0,75 - 1,0
22.127,15
25,93
44,65
1,0 - 1,25
16.506,87
19,34
63,99
1,25 - 1,5
8.567,78
10,04
74,03
bng Bắc Bộ, trong năm chia ra hai ma mưa và khô rõ rệt.
- Nhiệt độ trung bình nhiều năm 23,5°C, thấp nhất tuyệt đối là 5°C và cao
nhất tuyệt đối là 40°C. Tháng nóng nhất là tháng VII (29,2°C), tháng lạnh nhất là
tháng I (16,3°C).
- Độ ẩm các tháng trung bình đều lớn hơn 80%, độ ẩm trung bình nhiều năm
tại Nam Định là 86%, cao nhất là tháng III (91%) và thấp nhất là tháng VII (82%).
- Tốc độ gió trung bình nhiều năm tại Nam Định là 2,3 m/s, tốc độ gió trung
bình tháng không có sự thay đổi nhiều giữa các tháng, trong đó lớn nhất vào các
tháng X (2,5 m/s), nhỏ nhất vào tháng III (2,0 m/s). Tốc độ gió lớn nhất từng đo
5
được tại Nam Định là 48 m/s, trong mùa mưa lũ tốc độ gió lớn nhất thường xảy ra
vào các tháng VIII, IX và X.
- Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm đo bng ống piche là 800 - 840 mm.
Tại Nam Định là 810 mm, trong đó tháng lớn nhất đạt 103 mm (tháng VII) và nhỏ
nhất là 38 mm (tháng III)
- Lượng mưa trung bình nhiều năm từ 1500 - 1800 mm, ma mưa thường từ
tháng V đến tháng X, tháng mưa lớn nhất là tháng VIII, lượng mưa 3 tháng lớn nhất
(VII, VIII, IX) chiếm hơn 60% tổng lượng mưa cả năm. Tại Nam Định lượng mưa
trung bình nhiều năm đạt 1740 mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng IX (320 mm), và
mưa ít nhất vào tháng III (7,8 mm).
Nguyên nhân gây mưa lớn của khu vực thường do bão, áp thấp nhiệt đới, dải
hội tụ nhiệt đới Các trận mưa lớn lịch sử trong khu vực là tháng VIII/1971, tháng
IX/1985. Hai năm này do mưa lớn đã gây lũ lụt rất nghiêm trọng trên lưu vực sông
Đáy và vng hạ lưu dẫn đến ngập úng trên diện rộng, một số nơi bị vỡ đê.
Một số thông số khí hậu bình quân của trạm Nam Định như trong Bảng 1.2
Bảng 1.2 Đặc trưng khí hậu trung bình trạm Nam Định.
Tháng
Đặc trưng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả năm
- Vng đồi bán sơn địa phía Tây chủ yếu là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ
vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ và mn đỏ vàng, đất nâu đỏ trên đá vôi. Nhìn
chung thành phần N, P và tỷ lệ mùn thấp, độ chua cao. Hiện trạng đất ở đây cũng
phù hợp với sự phát triển của nhiều loại cây trồng như chè, lạc, lúa, ngô, sắn và một
số cây ăn quả như vải, chuối
Dưới tác động nhiều năm của điều kiện tự nhiên, con người, đất ph sa đã bị
biến đổi nhiều: Ở những nơi cao bị rửa trôi, đất trở nên bạc màu, khô cn; ngược lại
ở những nơi trũng thấp, quanh năm có nước thì bị gley hóa, tích đọng nhiều chất
như sắt, nhôm, mangan ảnh hưởng lớn đến cây trồng (vùng Thanh Liêm, Vụ Bản,
Ý Yên). Do bị ngập úng thường xuyên nên quá trình phân giải chất hữu cơ trong
điều kiện yếm khí rất chậm chạp và sinh ra các chất làm kìm hãm cây trồng như
H
R
2
RS, CHR
4
R, SOR
2
R Các chất này kết hợp với sắt, nhôm trong đất tạo thành các dạng
firit bám vào rễ cây, gây khó khăn cho việc hút các chất dinh dưỡng của cây và gây
nên hiệ
n tượng thối rễ ở cây.
Từ khi 6 trạm bơm điện lớn được xây dựng, những vng trũng đã thoát khỏi
cảnh úng ngập triền miên. Nhưng một vấn đề phát sinh là những vng trước đây
ngập nước, đất mang tính chất phèn tiềm tàng, pH = 5,5, thì sau khi tiêu nước, đất
phèn tiềm tàng trở thành phèn hiện thực. Nguyên nhân do đất được phơi ải, các
dạng firit bị ôxy hóa tạo thành các sunfat sắt, nhôm, tạo thành các axit tự do, đất trở
nên rất chua , pH ≤ 4. Điển hình là khu vực Ý Yên, Vụ Bản, Bình Lục. Do vậy việc
tiêu triệt để sẽ giảm hiệu quả thực tế rất nhiều nếu như giai đoạn tiếp theo không
9
hình thủy lực và chất lượng nước loại một chiều và 2 chiều có độ tin cậy rất cao,
thích ứng với các bài toán thực tế khác nhau. Mô hình này đã được áp dụng rất phổ
biến trên thế giới để tính toán, dự báo lũ, chất lượng nước và xâm nhập mặn.
Để tính dòng chảy trong sông kênh MIKE 11 sử dụng hệ phương trình Saint –
vennant một chiều, hệ phương trình sai phân được giải trực tiếp và bng phương
pháp lặp, vì vậy tốc độ tính chậm và cần có kinh nghiệm xử lý khi tạo điều kiện ban
đầu. Trong MIKE 11 đã xét các công trình cống đập phổ biến, tuy nhiên đôi khi gặp
trường hợp không ổn định khi phải vận hành công trình.
Nhìn chung những ưu nhược điểm của bộ MIKE 11 như sau:
- Ưu điểm:
+ Là phần mềm thương mại nên phần giao diện rất mạnh, hữu hiệu.
+ Phần kết nối với công cụ GIS rất mạnh kể cả tạo Database (mặc dù phải cần
thêm các phần mềm GIS như ArcView hay ArcGIS,…)
+ Các tiện ích đầy đủ, dễ cho người sử dụng.
+ Thuận tiện cho việc giải quyết các bài toán vừa và nhỏ.
- Nhược điểm:
+ Không biết được phần lõi (phần thuật toán, tổ chức chương trình,…) nên
người sử dụng không thể cải biên, cập nhập mà phải qua nơi bán, khi đó phải trả
thêm tiền và mất thời gian chờ đợi,…)
+ Khi phải tính toán cho bài toán lớn như đồng bng sông Cửu Long trong
một thời gian dài (mô phỏng cả một năm cho lũ và cạn) MIKE 11 đi hỏi nhiều thời
gian tính trên máy không không thuận tiện cho giai đoạn chạy hiệu chỉnh vì phải
chạy rất nhiều lần mời hiệu chỉnh được một tham số nên tốn thời gian chạy trên
máy hơn nữa để tạo điều kiện ban đầu đi hỏi nhiều kinh nghiệm và thường phải
xuất phát từ bước thời gian nhỏ…
+ Độ chính xác của kết quả tính, đặc biệt cho các bài toán lan truyền chất
(mặn, BOD, DO,…) nhiều khi không đảm bảo do bản chất thuật toán được sử dụng
(khuếch tán số dẫn đến nồng độ âm hoặc nồng độ sát biên lớn hơn biên khi không
Mô hình Qual2-E: phần mềm này do cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (US
EPA) phát triển và đã áp dụng rộng rãi ở Mỹ và một số nước Châu Âu. Qual2-E
cũng sử dụng hệ phương trình Saint – vennant và lan truyền chất một chiều và giải
11
bng phương pháp sai phân và có thể sử dụng cho nhiều yếu tố ô nhiễm (BOD, DO,
tảo, Nitơ, phốt pho…). Nhược điểm của Qual2-E là chỉ áp dụng cho mạng sông đơn
giản có dạng hình cây (không áp dụng cho mạng sông dạng mạch vòng); thiết diện
kênh sông phải đều dạng hình thang, hay hình chữ nhật và không chịu ảnh hưởng
của thủy triều.
Mô hình Duflow: Đây là phần mềm được phát triển bởi Viện Thủy lực của
Hà Lan. Phần mềm này được thiết kế để sử dụng cho nhiều mục tiêu (tính triều, lũ,
sử dụng nước,…). Duflow cũng giải quyết các bài toán lan truyền chất trong kênh
sông có các công trình. Duflow có giao diện đồ họa tiện dụng. Vì đây là phần mềm
thiết kế chủ yếu cho giảng dạy và đào tạo, cho nên khi sử dụng cho các bài toán lớn
cần có cải biên.
1.3 Tổng quan về các kết quả nghiên cứu tính toán hệ thống sông ở trong nước.
Do các yêu cầu thực tiễn quy hoạch và sử dụng tài nguyên nước, nhiều chuyên
gia trong nước phải tự xây dựng các bộ phần mềm, để khi cần thiết có thể tự sửa đổi
và cập nhập thuật toán, mã nguồn (code) để có thể đáp ứng được các yêu cầu tính
toán cụ thể. Các bộ phần mềm do các cán bộ trong nước được nhắc tên và áp dụng
nhiều cho các dự án trong nước gồm:
Phần mềm VRSAP: đây là bộ phần mềm được xem là đầu tiên cho tính toán
thủy lực mạng kênh sông, do cố GS Nguyễn Như Khuê phát triển sau đợt thực tập ở
Hà Lan vào năm 1978. Từ khi ra đời chương trình này đã được các kỹ sư trong
nước sử dụng rộng rãi và thành công cho nhiều dự án quy hoạch tài nguyên nước
trên đồng bng sông Hồng và đồng bng sông Cửu Long. Trong quá trình áp dụng,
chương trình VRSAP đã được hoàn thiện dần từ chạy trên môi trường DOS chuyển
sang môi trường WINDOWS. Về cơ bản chương trình VRSAP đã đáp ứng được các
yêu cầu tính toán, tuy nhiên do nhu cầu phát triển, kích cỡ của các bài toán quy
cho các dự án quốc tế (thủy lực, mặn, ô nhiễm, chua phèn). SAL cũng giải hệ
phương trình Saint – vennant một chiều bng sơ đồ sai phân Preissmann. Tuy nhiên
trong SAL đã dng phương pháp tuyến tính hóa nên không cần giải lặp. Mặt khác
trong SAL, trước tiên dùng các công thức truy đuổi để đưa về giải hệ phương trình
có ẩn số chỉ là mực nước tại nút hợp lưu và sử dụng thuật toán giải ma trận thưa nên
13
tốc độ tính toán nhanh. Dùng SAL có thể tính được các yếu tố dòng chảy (mực
nước, lưu lượng, vận tốc,…) tính được độ mặn và một số yếu tố của chất lượng
nước (ô nhiễm hữu cơ, nước làm mát, phèn,…) Nhược điểm của SAL là phần giao
diện, kết nối GIS và Databse. Phần này đang trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện. Phần học thuật của SAL là cơ sở chính trong cải tiến VRSAP cho nên có tên
là VRSAP-SAL.
1.4 Nhận xét chung:
Hà Nam và Nam Định là hai tỉnh thuộc đồng bng chiêm trũng, về ma mưa
lũ thường xuyên trong tình trạng ngập úng. Để giải quyết tình trạng này, hệ thống
các trạm bơm lớn đã được xây dựng từ những năm 1970. Tuy nhiên, công trình đầu
mối cũng như hệ thống kênh mương, công trình trên kênh đã trên 40 năm khai thác,
sử dụng, đến nay đã xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống thủy nông Bắc Nam Hà là
hệ thống liên tỉnh, bao gồm tỉnh Hà Nam ở phía bắc và Nam Định ở phía nam (hình
1.1). Địa giới hành chính giới hạn bởi:
- Bắc và Đông bắc là sông Hồng và giáp tỉnh Thái Bình.
- Tây và Tây bắc là sông Đáy, giáp với huyện Duy Tiên, Kim Bảng.
- Đông và Đông nam là sông Đào giáp với huyện Nam Trực và Nghĩa Hưng.
- Nam và Tây Nam là sông Đào và sông Đáy giáp tỉnh Ninh Bình và huyện
Nghĩa Hưng.
Hướng dốc chính của địa hình là từ bắc xuống nam, địa hình tương đối bng
phẳng, chỉ có vùng phía Tây của khu vực hệ thống là có đồi cao (thuộc Thanh
Liêm). Các sông ngòi chính của hệ thống gồm:
- Sông Hồng là sông bao quanh một phần phía bắc và phía đông vng dự án,
Biên Hòa, sông Chanh. Các sông này vừa làm nhiệm vụ tưới đồng thời vừa là
những trục tiêu chính của các trạm bơm lớn được liên hệ với nhau bng các cống và
đập điều tiết hoặc âu thuyền. Các công trình điều tiết giữa các phân khu chưa hoạt
động hợp lý và hiệu quả. Chính vì vậy việc nghiên cứu các phương pháp vận hành
tối ưu các công trình điều tiết trên các trục tiêu chính hệ thống các trạm bơm tiêu
trong khu vực là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này nhm tìm ra các phương án
đóng/ mở phối hợp các cống sao cho diện tích ngập của các khu tiêu là nhỏ nhất từ
đó tìm ra được phương án hợp lý nhất cho diện tích vùng tiêu là lớn nhất.
Để giải quyết các bài toán trên tác giả đã sử dụng phần mềm VRSAP
(Vietnam River System and Plan, GS Nguyễn Như Khuê) được cải biên bởi TS
Nguyễn Cao Đơn và các phần mềm ứng dụng khác để phục vụ công tác tính toán,
dự báo mực nước khu vực.
1.5 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hà Nam và Nam Định là hai tỉnh thuộc vng đồng chiêm trũng. Lưu vực của
hệ thống được bao bọc bởi các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Đào
ngoài ra trong nội đồng còn có Sông Châu Giang và một số sông nhỏ khác và v ề
15
ma mưa lũ thường xuyên trong tình trạng ngập úng. Để giải quyết tình trạng này ,
hệ thống các trạm bơm lớn đã được xây dựng từ những năm 70 của Thế kỷ trước.
Hệ thống này được tiêu bng động lực qua 6 đầu mối chính là Như Trác, Hữu Bị (ra
sông Hồng), Cốc Thành (ra sông Đào Nam Định), Nhâm Tràng, Cổ Đam, Vĩnh Trị
(ra sông Đáy). Ngoài ra cn có một số đầu mối trạm bơm mới được bổ sung để
nâng cao khả năng tiêu gồm : Quán Chuột, Sông Chanh, Kinh Thanh, Quỹ Độ, Yên
Bng, Yên Quang, Quang Trung, Đinh Xá, Triệu Xá Từ đó đến nay, hệ thống các
trạm bơm này đã góp phần gi ải quyết cơ bản nạn úng ngập triền miên, góp phần cải
thiện đời sống nhân dân trong vùng.
Tuy nhiên, công trình đầu mối cũng như hệ thống kênh mương, công trình
trên kênh đã trên 40 năm khai thác, sử dụng, đến nay đã xuống cấp nghiêm trọng.
Các thiết bị máy móc ở công trình đầu mối hỏng hóc, xuống cấp nên hiệu suất bơm
học, sử dụng tài nguyên một cách hợp l và bền vững là rất thiết thực và cần thiết.
17
CHƯƠNG II: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ
HIỆN TRẠNG THỦY LỢI
2.1 Nhiệm vụ và quy mô hệ thống
Nhiệm vụ chính của hệ thống gồm:
- Đảm bảo nước tưới và tiêu thoát cho toàn bộ 8 đơn vị hành chính trong vùng
hệ thống trong điều kiện thời tiết bình thường. Hạn chế diện tích mất trắng trong
những năm lũ vượt báo động 3.
- Tiêu nước cho diện tích phi canh tác trong ma mưa, kết hợp cấp nước phục
vụ sinh hoạt và các nhu cầu khác như giao thông.
Cụ thể hiện nay hệ thống đảm nhiệm tưới vụ chiêm xuân 47.000 ha, vụ mùa
46.000 - 46.500 ha, vụ đông 13.000 - 15.000 ha; tiêu nước với diện tích tiêu mặt
bng 85.326 ha.
2.2 Hiện trạng các con sông chính trong hệ thống
Lưu vực của hệ thống Nam Hà được bao bọc 4 phía bởi các đoạn sông (Xem
hình 1.1)
- Sông Hồng là sông bao quanh một phần phía Bắc và phía Đông vng quy
hoạch, đây là con sông lớn nhất có nhiệm vụ cấp nước cho hệ thống qua các trạm
bơm Như Trác, Hữu Bị I và Hữu Bị II.
- Sông Đào Nam Định có chiều dài 23 km và diện tích lưu vực 185 km
P
2
P, sông
Đào nối sông Hồng với sông Đáy là sông bao quanh phía Nam và Đông Nam và là
nguồn cấp nước cho hạ lưu sông Đáy và hệ thống Nam Hà vào mùa khô, tiêu thoát
nước thải và nước mưa trong ma lũ từ các trạm bơm tiêu. Thực tế sông Đào Nam
Định là phân lưu của sông Hồng tại Phù Long ở phía bắc thành phố Nam Định và
chảy vào sông Đáy. Dọc theo sông Đào có nhiều cống và trạm bơm lớn như Quán
+ Sông Chanh dài 8,8 km là trục tiêu của hệ Cốc Thành.
Về điều kiện thủy văn, số liệu đo đạc thủy văn ở một số trạm trên sông Hồng,
sông Đáy, sông Đào cho thấy:
- Chế độ dòng chảy sông Hồng chi phối lớn đến việc tiêu thoát nước của hệ
thống ra phía Đông. Sông Đáy ở phía Tây có chế độ dòng chảy phân mùa trong
năm, ma khô lượng nước sông Đáy rất ít vì nguồn nước từ sông Hồng không còn
nên chế độ nước trong mùa khô phụ thuộc vào các sông nhánh như sông Tích, sông
Thanh Hà, sông Hoàng Long và sông Nhuệ. Trong đó các sông Tích (diện tích 1300
km
P
2
P), sông Hoàng Long (1515 kmP
2
P), sông Nhuệ (1070 kmP
2
P) đóng góp đáng kể
nguồn nước cho sông Đáy.
19
- Riêng sông Đào ở phía Nam hệ thống là nguồn bổ sung nước chủ yếu từ
sông Hồng cho hạ lưu sông Đáy vào ma khô, trung bình mỗi năm khoảng 20 tỷ m
P
3
P
được chuyển từ sông Hồng cho hạ lưu sông Đáy. Lưu lượng trung bình trong mùa
cạn của sông Đào là khoảng 250 - 300 m
P
3
P/s. Vào ma lũ, lưu lượng nước sông Đào
khá lớn, như năm lũ lịch sử VIII/1971 lưu lượng lớn nhất của sông Đào tại tuyến
+ 432 kênh tưới, 343 kênh tiêu.
+ Hệ thống được chia thành 5 vùng tưới và 7 lưu vực tiêu khác nhau.
20
2.3.1 Công trình đầu mối
Từ năm 1964 đến năm 1972, trong vng quy hoạch đã xây dựng 6 trạm bơm
điện lớn với tổng lưu lượng thiết kế 220 m
P
3
P/s, tiêu cho 77.448 ha, đạt hệ số tiêu 2,9
l/s.ha. Đến năm 1973, do một số vng đất cao không tiêu tự chảy được nên hệ thống
được điều chỉnh và bổ sung một số công trình cần thiết. Từ năm 1964 đến năm 1972
trong hệ thống thủy nông đã xây dựng 6 trạm bơm độc lập với các thông số trong
bảng 2.1:
Bảng 2.1 Các thông số thiết kế của 6 trạm bơm động lực
STT Trạm bơm Loại máy Số máy
Diện tích tiêu
(ha)
Lưu lượng
tiêu (m3/s)
1
Cốc Thành
o
Π
6-145
7
18.705
56
2
Cổ Đam
6
Như Trác
o
Π
6-87
6
6.406
18
Tổng số 77.448
220
Ghi chú: Theo nhiệm vụ thiết kế năm 1963
Tổng lưu lượng thiết kế 220m
P
3
P/s tiêu cho 77.448 ha, đạt hệ số tiêu q=2,9l/s-ha.
Đến năm 1973 do một số vng đất cao không tiêu tự chảy được nên hệ thống được
điều chỉnh và bổ sung một số công trình cần thiết:
- Hệ Như Trác: Q=18m
P
3
P/s, diện tích được điều chỉnh: 6.800 ha
- Hệ Hữu Bị: Q=32m
P
3
P/s, diện tích được điều chỉnh: 8.400 ha
- Hệ Cốc Thành: Q=56m
21
- Hệ Cổ Đam: Q=56mP
3
P/h diện tích tiêu được điều chỉnh: 18.672 ha
Xây dựng thêm một số trạm bơm tưới tiêu kết hợp:
+ Triệu Xá: 20x1000m
P
3
P/h +3x4000mP
3
P/h
+Năm 1992 xây dựng thêm trạm bơm tiêu Quỹ Độ: 20x1000m
P
3
P/h, nhận tiêu
cho phần diện tích 2.832 ha.
+ Năm 1997 xây dựng thêm cho trạm bơm tiêu Đinh Xá, Q = 12 m
P
3
P/s, kết hợp
với trạm bơm Triệu Xá, tiêu cho 3.633 ha.
- Hệ Nhâm Tràng: Q = 18m
P
3
P/s; diện tích tiêu 6.850ha
+ Năm 1993 xây dựng thêm trạm bơm tiêu Kinh Thanh: 12x4000m
P
3
P/h, tiêu
cho phần diện tích 2.195 ha.
43,1
24.817 3,02
Sông Chanh
28,0
Quán Chuột
4,0
4 Cổ Đam
Cổ Đam
42,8
18.672 3,41
Quỹ Độ
12,0
Triệu Xá
9,0
5 Vĩnh Trị
Vĩnh Trị
30,7
17.850 1,93
Yên Bng
4,0
Yên Quang
4,0
6 Nhâm Tràng
Nhâm Tràng
12,6
6.850 3,59
Kinh Thanh
12,0
7
Quang Trung