khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tiềm năng phát triển kinh tế tỉnh quảng ninh - Pdf 22


Lời cảm ơn!

Trong một thời gian miệt mài tìm hiểu nghiên cứu, tôi đã hoàn thành xong
khóa luận này. Đây là sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tôi và sự giúp đỡ rất
nhiệt tình của toàn thể các thầy cô và bạn bè. Qua đây, tôi xin gửi lời biết ơn
sâu sắc nhất tới cô giáo – Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi, người đã trực tiếp hướng dẫn
và chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận này. Đồng thời, tôi cũng xin
gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, tổ Địa Lý,
Thư viện trường Đại học Tây Bắc, Thư viện tỉnh Quảng Ninh, các bạn sinh viên
lớp K51 ĐHSP Địa Lý và toàn thể bạn bè, gia đình đã luôn tạo điều kiện, động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do thời gian và kinh nghiệm còn hạn
chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa
luận được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Trần Quang Thi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Kinh tế trọng điểm
10
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
11
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên Hợp Quốc
12
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
DANH MỤC HÌNH ẢNH

STT
Hình
Tên hình
Trang
1
Hình 1.1
Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Quảng Ninh năm 2012
14
2
Hình 1.2
Quy mô và tỉ suất gia tăng dân số tỉnh Quảng

5.2. Phương pháp xử lý số liệu thống kê 4
5.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ 4
5.4. Phương pháp thực địa 5
6. Đóng góp của đề tài 5
7. Cấu trúc của đề tài 5
CHƢƠNG 1: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH QUẢNG NINH
6
1.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 6
1.1.1. Vị trí địa lí 6
1.1.2. Phạm vi lãnh thổ 8
1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 8
1.2.1. Địa hình 8
1.2.2. Khí hậu 11
1.2.3. Tài nguyên đất 13
1.2.4. Tài nguyên nước 15
1.2.5. Tài nguyên sinh vật 17
1.2.6. Tài nguyên khoáng sản 18
1.2.7. Tài nguyên biển 21
1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 24
1.3.1. Dân cư và nguồn lao động 24
1.3.2. Cơ sở hạ tầng 28
1.3.3. Đường lối, chính sách 31
1.3.4. Vốn đầu tư 31
1.3.5. Thị trường 32
1.3.6. Nguồn lực kinh tế - xã hội khác 33
1.4. Đánh giá chung 33
1.4.1. Tiềm năng 33
1.4.2. Hạn chế 35
CHƢƠNG 2: ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH QUẢNG
NINH 36

1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của các các quốc gia trên thế giới, các nguồn
lực giữ một vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề không thể thay thế được trong
các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các nguồn lực này bao gồm những
nguồn lực về tự nhiên và kinh tế xã hội. Đây là những tiềm năng lớn cho sự phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, sự phân bố các nguồn lực giữa các quốc gia là không
đồng đều, do đó dẫn đến trình độ phát triển kinh tế là rất khác nhau.
Việt Nam với 331.212 km
2
diện tích đất liền và vùng biển rộng trên 1
triệu km
2
. Nước ta được đánh giá là một quốc gia có nhiều tiềm năng cho sự
phát triển kinh tế, với vị trí địa lí quan trọng cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú và các nguồn lực kinh tế - xã hội khá đồng bộ đã tạo điều kiện cho
chúng ta đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập vào nền kinh
tế thế giới. Mới đây, theo đánh giá của một công ty có uy tín chuyên về khảo sát
thị trường của Hoa Kỳ công bố, Việt Nam đứng hàng thứ 7 trên thế giới về tiềm
năng phát triển kinh tế và đứng thứ 4 trong các nền kinh tế mới nổi ở khu vực
châu Á – Thái Bình Dương. Điều này đã minh chứng cho tiềm năng phát triển
kinh tế của đất nước ta. Đóng góp vào những tiềm năng chung của đất nước, có
sự đóng góp không nhỏ của các tỉnh thành trong cả nước, trong đó tỉnh Quảng
Ninh là một điển hình và được mệnh danh là một “Việt Nam thu nhỏ” với nhiều
tiềm năng cho sự phát triển kinh tế.
Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở phía đông bắc của Tổ Quốc, được đánh giá
là tỉnh có nhiều tiềm năng, nguồn lực cho sự phát triển kinh tế. Quảng Ninh
được ví là nơi có rừng vàng biển bạc với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú, đa dạng về khoáng sản, rừng, biển Đặc biệt, Quảng Ninh có nguồn than
đá trữ lượng lớn nhất nước ta, có vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên thế giới
mới. Bên cạnh đó, nguồn lao động dồi dào có chất lượng; cơ sở hạ tầng khá đồng

và vùng biển rộng lớn trên 6.000 km
2
.
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu các nguồn lực cho quá trình
phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh đến năm 2012, đề xuất các định hướng đến
năm 2020.
- Về nội dung: nghiên cứu các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế ở
Quảng Ninh trên một số lĩnh vực mà tỉnh có ưu thế nổi trội như vị trí địa lí, điều

3
kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh
vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển), điều kiện kinh tế - xã hội (dân cư
và nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, thị trường, vốn, đường lối chính sách).
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quảng Ninh là tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc của Tổ Quốc, thiên
nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên rất phong phú, đa dạng cộng thêm vị trí địa lí
hết sức quan trọng mà từ xưa đến nay tỉnh luôn nhận được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng được nhiều tác giả dày công nghiên cứu tìm
hiểu. Có thể nói đến như sau:
Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh với công trình “Địa chí Quảng
Ninh” do nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2002. Đây là công trình được
biên soạn khá công phu, chi tiết và dày công nghiên cứu của Ủy ban Nhân
dân tỉnh về tỉnh Quảng Ninh trên tất cả các lĩnh vực từ tự nhiên, xã hội đến sự
phát triển kinh tế Quảng Ninh từ khi được thành lập đến nay.
Tác giả Hồng Hải và Nhị Giang đã có công trình liên quan trực tiếp đến
đề tài, đó là “Quảng Ninh tiềm năng và triển vọng”do nhà xuất bản Sự thật xuất
bản năm 1991. Công trình này đi sâu vào nghiên cứu những tiềm năng, lợi thế so
sánh mà thiên nhiên ban tặng cho Quảng Ninh, từ đó phân tích những lĩnh vực có
triển vọng cho phát triển kinh tế của tỉnh.
Tác giả Lê Thông với công trình “Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam”

nghiên cứu.
5.2. Phương pháp xử lý số liệu thống kê
Phương pháp này cũng rất quan trọng, những số liệu thống kê của các
cơ quan ban ngành, được xử lý theo mục đích của đề tài. Qua đó, chúng ta có
thể so sánh, đánh giá, đối chiếu, thấy được sự thay đổi của đối tượng nghiên
cứu. Các số liệu thống kê, được lấy từ Niên giám thống kê tỉnh và các báo cáo
của các sở, ban ngành nên khá đầy đủ và chính xác. Từ các nguồn số liệu đó,
tôi có những phân tích, đánh giá để rút ra những kết luận cần thiết cho việc
nghiên cứu.
5.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này giúp ta có cái nhìn tổng quan về đối tượng nghiên cứu,
đồng thời thể hiện một cách trực quan sinh động các đối tượng địa lí trên thực tế.

5
Dựa trên các số liệu thống kê của Niên giám thống kê tỉnh, chúng tôi đã tiến
hành xây dựng các bản đồ, biểu đồ về các đối tượng nghiên cứu nhằm thể hiện
một cách trực quan về đối tượng nghiên cứu.
5.4. Phương pháp thực địa
Địa lí là một bộ môn khoa học tổng hợp, luôn gắn với thực tế tự nhiên và
xã hội, đặc biệt việc nghiên cứu về tiềm năng phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh
thì không thể tách rời với việc nghiên cứu thực tế.
Tôi đã trực tiếp đi tham quan tìm hiểu về các tiềm năng của tỉnh Quảng
Ninh thông qua chuyến đi thực địa do trường tổ chức và do chính bản thân tôi để
hiểu rõ hơn về vấn nghiên cứu. Qua đó, giúp cho tôi có những tư liệu thực tiễn
rất bổ ích cho quá trình nghiên cứu.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành là tư liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan về
những tiềm năng, nguồn lực để phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh.
Đề xuất một số định hướng chính cho sự phát triển kinh tế của Quảng
Ninh đến năm 2020. Qua đó, các cơ chức năng, ban ngành trong tỉnh có thể

phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái.
Về mặt tiếp giáp, phía Bắc Quảng Ninh giáp Trung Quốc với đường biên
giới trên bộ dài 132,8 km thông qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia như Móng
Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh, Pò Hèn, Lục Lầm.
Vị trí tiếp giáp với nước láng giềng Trung Quốc sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho tỉnh trong việc thông thương, trao đổi hàng hóa với Trung Quốc qua hệ
thống các cửa khẩu quốc tế và quốc gia. Các cửa khẩu này đóng vai trò quan
trọng là cầu nối thông thương, trao đổi buôn bán các mặt hàng sản xuất và tiêu
dùng giữa các huyện, thị, thành phố trong tỉnh với huyện Phòng Thành và thị
trấn Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong tương lai, sự phát
triển mạnh của tuyến đường hành lang xuyên Á đi qua lãnh thổ nước ta với hai
đầu mút là Lào Cai và đặc biệt là Móng Cái, sẽ có ảnh hưởng lan tỏa, tạo khả
năng hợp tác, hội nhập cho nền kinh tế miền Bắc nói chung cũng như tỉnh
Quảng Ninh nói riêng.
Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài 250 km, cùng những
tiềm năng biển to lớn. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đa
dạng hóa nền kinh tế, đặc biệt phát triển các ngành kinh tế biển như giao thông
vận tải, du lịch, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản ở thềm

7
lục địa… Quảng Ninh là cửa ngõ ra biển của vùng Trung du và Miền núi Bắc
Bộ, để giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới.
Hệ thống các cảng biển trong tỉnh, đặc biệt là cảng nước sâu Cái Lân;
cảng Cửa Ông; cảng Mũi Chùa và cảng Vạn Gia kết hợp với hệ thống đường bộ,
đường sắt sẽ góp phần đẩy nhanh quan hệ kinh tế với các địa phương trong nước
với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Phía Tây, một phần giáp với miền núi trùng điệp của tỉnh Lạng Sơn (dài
58 km), phần còn lại giáp với tỉnh Bắc Giang (dài 71 km) và với vùng đồng
bằng phì nhiêu của Hải Dương (dài 21 km) qua hệ thống tuyến đường quốc lộ
như 4B, 279 và 18A. Đây là những thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ngành

chiếm 1,84% diện tích tự nhiên toàn quốc. Quảng Ninh bao gồm 14 huyện, thị
xã và thành phố. Tính đến năm 2012, toàn tỉnh có 186 xã, phường, thị trấn; 9
huyện (Bình Liêu, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, Ba Chẽ, Vân Đồn, Hoành Bồ,
Đông Triều và Cô Tô); 1 thị xã (Quảng Yên); 4 thành phố trực thuộc tỉnh (Hạ
Long, Cẩm Phả, Móng Cái và Uông Bí).
1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.2.1. Địa hình
Quảng Ninh là vùng đất có lịch sử địa chất trẻ, là nơi tiếp giáp giữa miền
nền và địa máng, lại thuộc nhiều đới kiến tạo có đặc điểm phát triển khác nhau
nên cấu trúc địa chất của lãnh thổ rất phức tạp. Nơi đây được ví như là “hình
ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam” với đầy đủ các dạng địa hình như đồi núi,
trung du, đồng bằng, ven biển, hải đảo và thềm lục địa.
1.2.1.1. Địa hình núi
Địa hình này chiếm tới trên 60% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, bao gồm
toàn bộ vùng núi chạy dài từ Đông Triều đến Móng Cái (cánh cung Đông
Triều). Cánh cung Đông Triều chạy theo hướng Tây - Đông ở phía Nam và
hướng Đông Bắc - Tây Nam ở phía Bắc và nó được coi như là xương sống của
lãnh thổ Quảng Ninh. Vùng núi Quảng Ninh được chia ra làm 2 miền:
* Vùng núi miền Đông
Là vùng núi cao và đồ sộ nhất Quảng Ninh, kéo dài gần 50 km từ Tiên
Yên qua Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà đến Móng Cái. Đây là vùng núi nối tiếp
của vùng núi Thập Đại Vạn Sơn từ Trung Quốc, chạy dài theo hướng Đông Bắc
- Tây Nam. Với hai dãy chính đó là dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao

9
Xiêm (1.330 m), chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Đầm
Hà, Hải Hà.
* Vùng núi miền Tây
Vùng núi này tiếp nối từ Tiên Yên kéo dài qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía
bắc Uông Bí và thấp dần xuống phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này có độ

Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên. Đây là những đồng bằng nhỏ hẹp được bồi
đắp phù sa của các con sông suối trong tỉnh và hệ thống sông Thái Bình. Riêng
đồng bằng Quảng Yên và Đông Triều do được bồi đắp của một phần phù sa
sông Thái Bình nên diện tích đồng bằng khá lớn.
Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng nhìn chung địa hình này thuận
lợi cho phát triển nông nghiệp và giao thông. Đồng thời, đây cũng là mặt bằng lý
tưởng cho việc quy hoạch, xây dựng các KCN, cụm công nghiệp… hấp dẫn các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh.
1.2.1.4. Địa hình vùng biển và bờ biển
* Địa hình vùng biển
Vùng biển Quảng Ninh rộng hơn 6.000 km
2
là phần phía tây bắc của vịnh
Bắc Bộ. Đây là một vịnh nông với nhiều đảo và quần đảo chắn phía ngoài nên
rất kín gió và sóng lặng.
Quảng Ninh có số lượng đảo nhiều nhất ở nước ta, chiếm hơn 2/3 số đảo
của cả nước (2078/2779 đảo) trải dài theo 250 km đường bờ biển và chia thành
nhiều lớp. Trong vùng biển nổi lên một số đảo lớn như đảo Cái Bầu, Cái Chiên,
Vĩnh Thực, Bản Sen… Bên cạnh đó còn có hàng nghìn hòn đảo nhỏ xếp thành
hai dãy nối đuôi nhau từ núi Ngọc đến nam Hạ Long. Tỉnh có hai huyện đảo đó
là Vân Đồn và Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bãi Tử Long có hàng nghìn đảo đá
vôi là vùng địa hình đá vôi bị nước mài mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên
ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú, tạo nên sức hấp dẫn thu hút khách
du lịch. Các đảo và hệ thống các đảo, vùng biển Quảng Ninh tạo điều kiện thuận lợi
cho ngư dân tiến hành khai thác thủy sản. Hệ thống các đảo ven bờ là căn cứ an
toàn của tàu, thuyền neo đậu trong mùa mưa bão. Ngoài ra, các đảo và quần đảo xa
bờ, đặc biệt là quần đảo Cô Tô còn có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược
kinh tế biển của cả nước; có vị trí quan trọng đối với việc phát triển thương mại với
quốc tế, là vị trí tiền tiêu bảo vệ an ninh quốc phòng đất nước.


, cán cân bức xạ trung bình năm luôn luôn dương đạt từ 40 – 60
kcal/cm
2
/năm.

12
Nhiệt độ trung bình năm toàn tỉnh là 21
0
C, tuy nhiên có sự phân hóa theo
mùa: vào mùa hạ (bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10) nhiệt độ
trung bình đạt trên 25
0
C, còn vào mùa đông (bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết
thúc vào cuối tháng 3 năm sau) nhiệt độ trung bình dưới 20
0
C.
- Về chế độ mưa, ẩm
Quảng Ninh mang đặc điểm chung của các tỉnh Bắc Bộ là mưa nhiều vào
mùa hạ. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10, số ngày mưa
trung bình trong nhiều năm trong tỉnh thường từ 90 – 170 ngày. Mưa tập trung
chủ yếu vào tháng 7 và tháng 8. Lượng mưa vào mùa hạ chiếm tới 85% lượng
mưa cả năm. Ngược lại, mùa đông lượng mưa nhỏ, chỉ khoảng 150 mm đến 400
mm. Lượng mưa trung bình năm đạt từ 1700 – 2400 mm/năm. Do đó, độ ẩm
trong không khí khá lớn, trung bình từ 82 – 85% nhưng có sự phân hóa theo
mùa. Mùa mưa độ ẩm trong không khí cao và ngược lại.
- Về chế độ gió
Là một tỉnh ven biển, địa hình phức tạp nên cơ chế gió không thuần nhất.
Vào mùa đông, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, Quảng Ninh có gió thịnh hành
là bắc – đông bắc. Từ tháng 5 đến tháng 9, gió thịnh hành là nam – đông nam.
Các nơi có địa hình đặc trưng thì cơ chế gió mang tính địa phương.

- Đất phù sa: đa phần có độ phì tự nhiên khá cao, giàu chất dinh dưỡng,
thích hợp trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp. Phân bố dọc theo
Quốc lộ 18A từ Đông Triều đến Móng Cái, với tổng diện tích khoảng 40.105 ha
(chiếm 6,6% diện tích đất tự nhiên).
* Nhóm đất đồi núi
Nhóm đất đồi núi ở Quảng Ninh chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất đai
với 510.755 ha, chiếm 83,7% đất tự nhiên. Trong đó, chiếm diện tích lớn nhất
là đất feralit vàng đỏ và đất feralit đồng cỏ thứ sinh phát triển ở địa hình đồi,
núi thấp.
- Đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi, núi thấp (dưới 700 m): phân bố ở hai
sườn của cánh cung Đông Triều với diện tích 370.000 ha (chiếm 60,6% diện tích
đất tự nhiên). Nhóm đất này có phản ứng chua, thành phần cơ giới từ trung bình
đến nặng, tầng đất mùn dày, độ phì khá cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng

14
như chè, cây ăn quả, ngô… Tuy nhiên, đất dễ bị rửa trôi, xói mòn nên trồng cây
lâu năm kết hợp với nông lâm nghiệp là biện pháp hữu hiệu.
- Đất feralit vàng đỏ có mùn trên núi: phân bố ở những vùng núi cao trên
700 m thuộc cánh cung Đông Triều. Tổng diện tích đất là 59.298 ha chiếm 9,7%
đất tự nhiên. Đất này có hàm lượng mùn cao, khá tốt và có màu vàng đỏ, thích
hợp phát triển lâm nghiệp, trồng các cây công nghiệp lâu năm như hồi, quế, trẩu,
cây ăn quả ôn đới và cây dược liệu…
- Đất vùng đồi núi đá vôi: phân bố chủ yếu ở các đảo, quần đảo có diện
tích 46.627 ha (chiếm 7,6% diện tích tự nhiên). Đất có màu vàng đỏ, xám vàng
hoặc xám thẫm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, có thể phát triển
trồng lúa và hoa màu trên một số đảo như Cái Chiên, Cái Bầu, Cái Rồng, Cô
Tô… Tuy nhiên diện tích nhỏ và năng suất không cao.
Ngoài ra, trong nhóm đất đồi núi còn có một số nhóm đất khác chiếm diện
tích nhỏ như đất thung lũng, đất dốc tụ…
1.2.3.2. Cơ cấu sử dụng đất

ở mức độ khá cao.
Như vậy, tài nguyên đất đa dạng cùng với khí hậu nhiệt đới có một mùa
đông lạnh, phân hóa theo lãnh thổ tạo điều kiện cho tỉnh phát triển một nền nông
nghiệp đa dạng. Tuy nhiên, cần có những biện pháp hạn chế quá trình rửa trôi,
xói mòn, thoái hóa trong quá trình sản xuất.
1.2.4. Tài nguyên nước
1.2.4.1. Nước trên mặt
Nguồn nước trên mặt ở Quảng Ninh khá phong phú với hệ thống các sông
suối, hồ phân bố dày đặc. Mật độ trung bình đạt từ 1 đến 1,9 km/km
2
, có nơi tới
2,4 km/km
2
. Phần lớn các sông ở Quảng Ninh đều nhỏ, ngắn và dốc; thung lũng
sâu và hẹp, xâm thực mạnh, hầu như không có bồi tụ. Các sông, suối đều bắt
nguồn từ các vùng núi trong cánh cung Đông Triều trên độ cao 500 – 1.300 m.
Sông ngòi phần lớn chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, vuông góc với biển.
Trong tỉnh có một số hệ thống sông chính như:
* Các sông đổ ra sông Bạch Đằng: bắt nguồn từ khu vực sườn nam của
vùng đồi núi thuộc dãy Yên Tử như sông Đá Bạch, sông Sinh, sông Uông và

16
sông Kinh Thầy. Sông Bạch Đằng với đoạn chảy qua Quảng Yên dài 20 km là
con sông nối liền sông Lục Nam với sông Thái Bình.
* Hệ thống sông đổ ra Cửa Lục – vịnh Hạ Long: các sông này chảy từ
miền núi Hoành Bồ, đều là những con sông nhỏ, dốc và không có khả năng
bồi đắp phù sa ở hai bên bờ. Đó là các sông Thác Cát, Diễn Vọng, Vũ Oai,
Yên Lập…
* Hệ thống sông Tiên Yên – Móng Cái: bao gồm một số sông lớn trong
tỉnh, trong đó có sông Tiên Yên dài 63 km chảy từ Bình Liêu ở độ cao 500 –

Quảng Ninh đã phát hiện được một số điểm nước khoáng như Quang Hanh
(Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Ho (Bình Liêu), trong đó có giá trị và
được nhiều người biết đến là nước khoáng Quang Hanh. Nguồn nước khoáng
này hiện đã và đang được khai thác có hiệu quả. Ngoài ra, nguồn nước khoáng
còn có tác dụng chữa bệnh và phát triển du lịch.
1.2.5. Tài nguyên sinh vật
Quảng Ninh là nơi hội tụ của nhiều luồng sinh vật: luồng Bắc Việt Nam –
Nam Trung Hoa, luồng sinh vật từ Himalaya và Mianma di cư sang, cùng với
các loài bản địa. Do đó, Quảng Ninh là nơi có thảm thực vật tự nhiên rất đa dạng
và phong phú, bao gồm nhiều loài thực – động vật tự nhiên, cũng như các loại
cây trồng, vật nuôi khác nhau.
Năm 2011, diện tích rừng toàn tỉnh đạt 316.578 ha (chiếm 2,34% diện tích
rừng cả nước), độ che phủ rừng đạt 51,9%; trong đó diện tích rừng tự nhiên là
146.514 ha (chiếm 46,3% tổng diện tích rừng của toàn tỉnh và 1,42% diện tích
rừng tự nhiên của cả nước).
Hệ sinh thái ở Quảng Ninh khá đa dạng với nhiều kiểu rừng như rừng tự
nhiên nguyên sinh, rừng tự nhiên thứ sinh, rừng trồng, rừng trên núi đá vôi, rừng
tre nứa, rừng cây bụi trảng cỏ, rừng ngập mặn… Trong rừng có nhiều loại cây
gỗ quý như lim, gội, gụ, kim giao, sến, trai, nghiến, lát hoa, trầm hương… Các
cây dược liệu quý như: ba kích, bình vôi Quảng Tây, thổ phục linh, hồi, quế…
Động vật cũng tương đối phong phú. Trong tỉnh có tới 56 loài thú loài,
189 loài chim, 42 loài bò sát và 26 loài ếch nhái. Nhiều loại động vật quý hiếm
như dơi bao đuôi, culi, vượn Hải Nam, gấu ngựa, báo hoa mai, cò đen, vịt biển,
trĩ khoang cổ, rùa vàng…
Bên cạnh sinh vật trên cạn, khu vực ven biển và trên các đảo trong tỉnh
còn có diện tích rừng ngập mặn với các loài chính như sú, vẹt, đước… dải rừng
ngập mặn có diện tích lớn thứ hai cả nước sau Cà Mau. Đây là địa bàn cư trú của

18
nhiều loài cá, tôm, chim, ong… góp phần cung cấp nguồn thực phẩm cho ngư

19
+ Ở dải than Bảo Đài: chiều dày trầm tích than 339 m, chứa từ 2 – 15 vỉa
than trong đó có từ 2 – 13 vỉa than công nghiệp. Ở phần trung tâm của dải than
có độ chứa than cao sau đó giảm dần về phía Tây và phía Đông.
- Về trữ lượng: theo tài liệu của Lê Đỗ Bình (1994 – Viện Kinh tế Địa
chất thuộc cục Địa chất Việt Nam), tổng tiềm năng tự nhiên của bể than ở
Quảng Ninh là 12 tỉ tấn, trong đó tiềm năng thu hồi là 8,4 tỉ tấn. Tổng trữ lượng
địa chất đã tìm kiếm, thăm dò của 33 khu từ độ sâu 350 m lên đến lộ vỉa là
3.633,3 triệu tấn.
- Về chất lượng: than antraxit ở Quảng Ninh được đánh giá có chất lượng
hàng đầu ở Việt Nam và cả ở khu vực Đông Nam Á. Than có hàm lượng cacbon
ở khối cháy thuộc loại cao, đa số lớn hơn 90%, trong khi đó hàm lượng các khí
hiđrô, nitơ… thấp. Nhiệt lượng tỏa ra khi cháy đạt từ 7.800 đến 8.600 cal/g.
* Đá dầu: mỏ đá dầu Đồng Ho là mỏ đá dầu duy nhất ở Quảng Ninh cũng
như là ở Việt Nam. Mỏ nằm cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km về phía tây
bắc, hiện thuộc địa phận huyện Hoành Bồ. Khu mỏ có diện tích 1,5 km
2
, trong
đó diện tích chứa quặng 0,34 km
2
. Độ dày phần chứa dầu là 170 m, gồm 3 lớp
đá dầu, Asphan, cát kết chứa dầu.
Mỏ đá dầu có diện tích chứa dầu không lớn, nếu chỉ khai thác mỏ để lấy
dầu có thể giá thành sản phẩm sẽ cao, hiệu quả kinh tế thấp. Tuy nhiên, nếu
nghiên cứu tận thu cả phần đất phủ mà chủ yếu là đất sét vào mục đích sản xuất
xi măng tại Hoành Bồ thì giá trị kinh tế sẽ cao hơn.
1.2.6.2. Khoáng sản kim loại
Nhìn chung, Quảng Ninh nghèo khoáng sản kim loại, kể cả chủng loại và
quy mô, trữ lượng. Một số khoáng sản như antimon, sắt, inmenit đã được phát
hiện nhưng có quy mô nhỏ; chì, kẽm, thủy ngân, đồng, vàng… mới phát hiện ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status