ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
!"
#$%&
'()*+
, /00120,3%4
"567389:;<:9<:=9
%>?@A%4
1BCD,BE01FG0H,IJ,KL3@:MN?O
MPQR9=R
%"
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu Khoa học của
riêng tôi và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu Khoa học của
tác giả khác. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ luận văn nào.
Tôi khẳng định rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin liên quan đến Luận văn đều được lấy từ các
nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Bộ , ngành chủ
quản, cơ sở đào tạo và Hội đồng đánh giá Khoa học của trường Đại học Kinh
tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên về công trình và kết quả nghiên cứu
của mình.
Bắc Ninh, ngày 10 tháng 11 năm 2012
1BCDS,TL,DU0
BV01DUSWL
i
%"
Trong thời gian nghiên cứu và thực hành luận văn này, tôi đã nhận
được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, góp ý kiến của các cá nhân, tập thể
"XY+
,Z[D\SS]S ,Z[D\S^_.^`
ĐTN Đào tạo nghề
CĐ Cao đẳng
TC Trung cấp
SC Sơ cấp
KCN Khu công nghiệp
HĐTVTN Hội đồng Tư vấn Trường Ngành
TBTVCT Tiểu ban Tư vấn Chương trình
LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội
iv
"X*
v
"X@ab*ca
Biểu đồ 3.1. Đánh giá của nhà trường về khả năng đáp ứng yêu cầu công việc
của sinh viên tốt nghiệp Error: Reference source not found
vi
"de
=:f0,LghS,D\SL`J^iS2D
Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố quan trọng quyết định sự phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia dựa trên sự phát triển của sản xuất.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi diễn ra từng ngày, sự
phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển. Vô
số các công nghệ, kỹ thuật mới, các loại vật liệu mới được ứng dụng vào sản
xuất đòi hỏi người lao động phải được đào tạo ở những trình độ lành nghề
nhất định.
Ở Việt Nam, đào tạo nghề (ĐTN)có lịch sử phát triển trên 30 năm và đã
góp phần rất lớn vào sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Giáo dục nghề
nghiệp là một phân hệ của hệ thống giáo dục, có vị trí tiếp thu thành quả giáo dục
của phổ thông và tạo nguồn lao động trực tiếp cho xã hội. Luật giáo dục sửa đổi
Trong khi đó, khoảng cách giữa cung - cầu nhân lực ngày càng lớn, khiến
cuộc đua giữa các doanh nghiệp để tranh giành nguồn nhân lực chất lượng
cao và tìm người lao động theo đúng chuyên ngành còn nhiều bất cập.
Xác định được nhu cầu của xã hội nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh nói riêng, trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh từ
khi thành lập đã có nhiều giải pháp trong nâng cao chất lượng ĐTN. Tuy
nhiên việc tổ chức, quản lý hoạt động dạy nghề chưa thực sự có tính lý luận
cao, chưa mang tính hệ thống cụ thể. Điều đó đặt ra cho nhà trường phải xem
xét một cách tổng thể việc tổ chức, quản lý ĐTN; đặc biệt là sự hợp tác với
doanh nghiệp trong thực hành nghề cho học sinh. Trong khi hiện nay, Bắc
Ninh đã vươn lên là một tỉnh khá trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tạo
lập được những nền tảng kinh tế-xã hội để cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp
vào năm 2015.
2
Nhằm đáp ứng được yêu cầu của thực tế đó, đòi hỏi tỉnh Bắc Ninh phải
có một nguồn nhân lực đảm bảo các yêu tố về đạo đức, pháp luật, trí tuệ, kỹ
năng… nghề nghiệp thì mới đáp ứng được tốc độ phát triển trên địa bàn tỉnh.
Xuất phát lý luận và thực tế nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
nói riêng, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: jkhSlL[EDFIJ0,
01,DUh0,mn0o01LJIL,gSpBk01^2ISqI01,irSsBC01JI^t01u01
01,U*]L2v làm luận văn Thạc sĩ quản lý kinh tế cho mình.
R:"wL^fL,01,D/0LW-
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng vấn
đề hợp tác với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở trường
Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh, đề xuất giải pháp nhằm thực
hiện tốt hơn nữa vấn đề hợp tác với doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề
ở trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
"wLSD/-LwS,x3
- Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chất lượng đào
tạo nghề và sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề.
- Làm rõ thêm một số cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc ĐTN,
việc hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.
- Làm rõ thực trạng việc hợp tác giữa trường Cao đẳng Công nghệ Bắc
Hà với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao chất
lượng ĐTN hiện nay và xây dựng được các giải pháp thực hiện tiếp theo.
8:*7LwLL`Jp-{0[|0
a. Tên luận văn: Hợp tác với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà.
b. Kết cấu luận văn: Ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục chữ viết tắt,
danh mục bảng biểu, kết luận và các tài liệu tham khảo, luận văn được chia
làm 4 chương:
4
•,BV01=3 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng
biện pháp tăng cường sự hợp tác giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp.
+ ,BV01R3 Phương pháp nghiên cứu.
+ ,BV01;3 Phân tích thực trạng về chất lượng đào tạo nghề và sự hợp
tác với doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề của trường Cao đẳng Công nghệ
Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
+ ,BV01<3 Các biện pháp đẩy mạnh sự hợp tác giữa nhà trường và
doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
5
,BV01=
@d%4%>ON&#$%
&*!*?@O
€M&:
=:=:V6rp•p-{0
1.1.1. Đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề
1.1.1.1. Khái niệm về đào tạo nghề.
J:,lD0DUn[i^2ISqI01,i
Luật dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy
thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp
theo yêu cầu của từng công việc”
Điều 26, khoản 1 Luật dạy nghề quy định về phương pháp dạy nghề:
“Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện
năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính
tích cực, tự giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm”
Về đổi mới phương pháp đào tạo, Nghị quyết Trung ương IV ghi rõ:
Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học. Kết hợp tốt học với hành,
học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học; gắn nhà
trường với xã hội, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi
dưỡng học sinh năng lực giải quyết vấn đề.
Như vậy, đối với ĐTN nghề, phương pháp dạy học không những có ý
nghĩa đối với công tác giáo dưỡng, mà còn phải góp phần vào việc giáo dục
đạo đức, ý thức nghề nghiệp, gắn học đi đôi với hành, với trải nghiệm thực
tiễn thông qua các điều kiện có sẵn để đạt được mục tiêu đặt ra.
1.1.1.2. Phân loại và các hình thức đào tạo nghề
J:,o0pIqD^2ISqI01,i:
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta
có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi
của luận văn này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
7
y|0LW[2IS,CD1DJ0^2ISqI01,i3
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một
năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có
thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người
không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại
chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về
mặt giáo trình, giảng viên…
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trở
lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.
tương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, sinh viên có thể chủ
động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc
tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của
sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng
giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật.
Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạo
tương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội
ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý… nên kinh phí đào tạo cho một học viên là
rất lớn.
y2ISqI01,iSqD0VDp2n[DUL†^2ISqISsI01Lu01[DUL‡3
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó
người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc
thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của
những người lao động có trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về
thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp
(hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
thường chia làm bai giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất
9
vừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên
sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn
ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một
cách độc lập.
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng
đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng;
Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên
chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng… nên tiết kiệm chi phí
đào tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào
quá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
lãnh thổ và khu vực.
Hình thức ĐTN kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt
Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp đào
tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:
- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho các
trường đào tạo);
- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
- Nhà trường có xưởng sản xuất;
- Một số trường hợp tác đưa sinh viên đi thực tập ở các doanh nghiệp.
1.1.1.3. Khái niệm về chất lượng và chất lượng đào tạo nghề.
J:,lD0DUn[iL,gSpBk01
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, cùng với sự phát
triển của xã hội, khái niệm chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể. Trước
đây, người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêu chuẩn chất
lượng được coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài. Ngày nay, khái
niệm chất lượng không được gắn với một tiêu chuẩn cố định nào đó, mà “chất
lượng là một hành trình, không phải là một điểm dừng cuối cùng mà ta đi
11
tới”. Đây là quan niệm “động” về chất lượng, trong đó chất lượng được xác
định bởi người sử dụng sản phẩm – dịch vụ hay trong nền kinh tế thị trường
còn gọi là khách hàng. Khách hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sản phẩm
– dịch vụ có nghĩa là sản phẩm – dịch vụ đó có chất lượng.
Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhau
cũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng, cụ thể như:
“Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất
của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó
với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu
thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật
lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và
không tách rời khỏi sự vật. Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể
- QL,GV: giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo.
- HV: học viên.
- ND: nội dung đào tạo.
- CSVC, TC: cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo.
- Q: chất lượng đào tạo.
MT
HV
PP, PT
CSVC, TC
ND
QL-
GV-
GV
13
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ được
đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng
phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền”. ĐTN sẽ đảm
bảo, nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu
của khách hàng; tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ
chức của mình; có tầm nhìn dài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu
quả; có đổi mới; hữu hiệu; tổ chức tiếp thị tốt với thị trường.
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm
về chất lượng ĐTN nêu trên, có thể hiểu chất lượng ĐTN với những điểm cơ
bản như sau: “Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất
cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận
hành trong môi trường nhất định”.
1.1.2. Các yếu ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
Chất lượng giáo dục nói chung và ĐTN nói riêng chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Có thể phân các yếu
cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có. Vì vậy, năng lực giáo viên dạy nghề tác động
trực tiếp đến chất lượng ĐTN, là yếu tố quyết định đến chất lượng ĐTN.
Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền
giáo dục quốc dân đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng và học viên học nghề
cũng có trình độ văn hóa rất khác nhau. Bên cạnh đó, cấp trình độ đào tạo ở
các cơ sở đào tạo nghề cũng rất khác nhau (chưa có nghề, trung cấp nghề, cao
đẳng nghề, bồi dưỡng, nâng bậc thợ). Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo
viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau.
Vì vậy, giáo viên dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng, có
đủ về số lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ
giáo viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học
viên học nghề một cách hiệu quả nhất.
15
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
đó là đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề. Trong giai đoạn trước đây, vai trò của
các cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy
nhiên trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và
cạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là
những người thực sự có trình độ. Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnh
hưởng rất lớn đến đào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều
phối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo…
* Học viên học nghề:
Học viên học nghề là nhân tố chủ thể trong quá trình đào tạo, có tính
chất quyết định khi xác định mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo, nó
ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề. Trình độ văn hoá, sự hiểu biết,
tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian… của bản thân học viên đều
có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng đào tạo nghề. Trình độ văn
hoá cũng như khả năng tư duy của học viên càng cao thì khả năng tiếp thu các
kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất lượng đào tạo nghề
càng cao và ngược lại.
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý
và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể
nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng đào tạo.
Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình đào tạo nghề. Chất
lượng của các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng đào tạo nghề.
Tuy nhiên, hệ thống ĐTN vận hành trong môi trường văn hoá, chính
trị, xã hội … nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi
trường.
17
1.1.2.2. Sự khác nhau giữa dạy học lý thuyết và dạy học thực hành nghề
Dạy lý thuyết nghề và dạy thực hành nghề trong ĐTN có cùng một mục
đích, nhưng lại có những nhiệm vụ khác nhau. Dạy học thực hành nghề thể
hiện sự khác biệt chính ở những điểm sau:
+ Trong dạy thực hành nghề xuất hiện mối liên hệ tức thời giữa lý
thuyết với thực tiễn sản xuất, trong khi đó nói chung thì trong dạy lý thuyết
nghề không có sự sản xuất.
+ Trong dạy thực hành thì đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo
nghề như: Xưởng thực hành, hoặc phân xưởng sản xuất ngoài xí nghiệp hoặc
ở phòng học thực nghiệm. Nhưng trong dạy lý thuyết nghề, thời gian là tiết
học ở lớp hoặc ở phòng học.
+ Trong dạy thực hành nghề, số lượng học sinh nghề rất khác nhau
(thường có từ 15 đến 25 học sinh cho mỗi ca). Trong dạy lý thuyết nghề thì số
lượng học sinh lớn hơn (thường từ 30 đến 50 học sinh) và không thay đổi
trong toàn bộ thời gian.
+ Trong dạy thực hành nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sản
xuất mà tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các quy định về an toàn, về
bảo hộ lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề.
+ Trong dạy thực hành nghề, học sinh học nghề tiếp xúc trực tiếp với
giai cấp công nhân, được giáo dục và đào tạo thông qua các tập thể lao động.