thực trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi tại thành phố thái nguyên và biện pháp xử lí bằng thực vật thủy sinh - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Tên đề tài:
Thực trạng ô nhiễm nƣớc thải chăn nuôi tại thành phố
Thái Nguyên và biện pháp xử lí bằng thực vật thủy sinh CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
MÃ SỐ: 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hựng
TS. Vũ Thị Thanh Thuỷ

Nguyễn Thị Hồng Nhung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CÁC TỪ VIẾT TẮT

1
BOD
5

Nhu cầu ôxi sinh hoá
2
COD
Nhu cầu ôxi hoá học
3
ĐHNLTN
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
4
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
5
TVTS
Thực vật thủy sinh
6
TTTHTN
Trung tâm thực hành thực nghiệm
7
TT
Trang trại
8
TCCP

Bảng 2.2. Số trang trại phân theo địa phương 7
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động 8
Bảng 2.4. Số lượng gia súc, gia cầm của Việt Nam 9
Bảng 2.5. Qui mô chăn nuôi lợn nái của Việt Nam năm 2003 11
Bảng 2.6. Qui mô chăn nuôi lợn thịt của Việt Nam năm 2003 12
Bảng 2.7. Tổng số lượng lợn qua các năm 13
Bảng 2.8. Số trang trại phân theo huyện, thành phố, thị xã, tỉnh Thái Nguyên 14
Bảng 2.9. Số lượng thịt lợn hơi xuất chuồng phân theo huyện, thành phố, thị xã
tỉnh Thái Nguyên 18
Bảng 2.10. Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu 20
Bảng 2.11. Nhiệm vụ của thuỷ sinh thực vật trong các hệ thống xử lí 20
Bảng 3.1. Các phương pháp bảo quản mẫu trước khi đem phân tích 46
Bảng 3.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoá học trong nước thải 46
Bảng 4.1. Nhiệt độ và độ ẩm trung bình tháng trong năm 2010 tại thành phố
Thái Nguyên 50
Bảng 4.2. Số lượng lợn phân theo huyện, thành phố, thị xã tỉnh Thái Nguyên 59
Bảng 4.3. Số trang trại chăn nuôi phân theo đầu lợn tại thành phố Thái Nguyên 61
Bảng 4.4. Số trang trại và số lượng lợn phân theo phường/ xã tại thành phố
Thái Nguyên năm 2010 62
Bảng 4.5. Tình hình ứng dụng các phương pháp xử lí chất thải tại các trang trại
ở thành phố Thái Nguyên năm 2010 64
Bảng 4.6. Thực trạng môi trường và xử lí nước thải tại các trang trại chăn nuôi
tại thành phố Thái Nguyên năm 2011 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Bảng 4.7. Qui mô một số trang trại chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên
năm 2010 67
Bảng 4.8. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước thải tại một số trang trại ở
thành phố Thái Nguyên năm 2010 70
Bảng 4.9. Sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 72


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 3
1.3. Yêu cầu của đề tài 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại 4
2.1.1. Khái niệm về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại 4
2.1.2. Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi 4
2.1.3. Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi 5
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 6
2.2.1. Tình hình ô nhiễm môi trường chất thải chăn nuôi tại Việt Nam 6
2.2.2. Tình hình ô nhiễm môi trường trong các trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên 13
2.3. Các loài thực vật thuỷ sinh chính 19
2.3.1. Bèo tây 21
2.3.2. Bèo cái 21
2.3.3. Rau ngổ 22
2.3.4. Rau muống 23
2.4. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về xử lý nước thải chăn nuôi 23
2.4.1. Các nước trên thế giới 24
2.4.2. Ở Việt Nam 25
2.4.3. Các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi lợn 26
2.5. Khả năng và cơ chế xử lý nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh 33
2.6. Một số nghiên cứu sử dụng thực vật thủy sinh trong xử lí nước thải 36
2.7. Cơ sở pháp lý có liên quan 41
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 43

4.3.3. Những thuận lợi và khó khăn khi xử lí nước thải chăn nuôi bằng thực
vật thủy sinh 80
4.3.4. Đề xuất giải pháp áp dụng vào thực tiễn 81
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1. Kết luận 82
5.2. Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm trở lại đây, môi trường toàn cầu có những biến đổi theo
chiều hướng xấu đi đối với cuộc sống con người và các sinh vật trên trái đất. Do
đó vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đang được sự quan tâm đặc
biệt của phần lớn các quốc gia trên thế giới, cũng như của các tổ chức chính phủ
và phi chính phủ. Vì vậy mục tiêu phấn đấu của cả nhân loại là phát triển bền
vững nhằm đảm bảo cân bằng giữa phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Hiện nay tại Việt Nam tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày càng trở
nên nghiêm trọng, khi người dân đô thị phải đối mặt với tình trạng tồn ứ rác thải
sinh hoạt, công nghiệp, ô nhiễm nước thải, ô nhiễm không khí do khói bụi,….thì
người dân ở khu vực nông thôn lại phải sống chung với tình trạng ô nhiễm môi
trường do thuốc trừ sâu, hoá chất bảo vệ thực vật, rác thải nông nghiệp…
Ngành Nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi, chủ yếu là gia súc,

tan nên rất khó tách chúng khỏi nước thải. Các chỉ số đại diện chất hữu cơ như
BOD, COD, các chỉ số Ecoli, Coliform trong nước thải chăn nuôi đa số đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần làm ảnh hưởng đến đời sống con
người và hệ sinh thái. Chính vì vậy mà việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải
cho các trại chăn nuôi lợn là một hoạt động hết sức cần thiết.
Tỉnh Thái Nguyên đã và đang có sự phát triển vượt bậc trong sản xuất,
giáo dục, kinh tế và văn hoá xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh quá trình phát triển
kinh tế, tỉnh Thái Nguyên cũng là nơi tập trung rất nhiều trang trại chăn nuôi có
qui mô lớn. Vì thế lượng nước thải thải ra cũng rất lớn gây ô nhiễm nguồn nước
mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất….
Để hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường từ nước thải chăn nuôi, một số
giải pháp được đưa ra như xây dựng hầm khí sinh học bioga….Tuy nhiên
phương pháp này khá tốn kém đối với những hộ gia đình chưa có điều kiện về
mặt kinh tế, đồng thời sẽ là nguy hiểm với những hộ gia đình chưa có những
hiểu biết đầy đủ về qui trình sử dụng hầm bioga.
Ở một số nước phát triển, các nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng
thành công các phương pháp hiếu khí, kị khí và sử dụng thực vật thủy sinh.
Ưu thế của việc xử lí nước thải bằng biện pháp sinh học là đơn giản, tiết kiệm,
tận dụng được nguồn sinh vật sẵn có trong môi trường và hạn chế đến mức tối
đa các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường trong quá trình xử lí.
Đã từ lâu, thực vật thủy sinh đã rất quen thuộc với nhân dân ta vì chúng
được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi cũng như làm phân bón. Từ những
năm 1970, điển hình là bèo tây và bèo cái đã được một số nước trên thế giới
nghiên cứu sử dụng cho quá trình xử lí nước thải sinh hoạt cũng như nước
thải công nghiệp và đã mang lại những kết quả khả quan. Trong hệ thống này,
vai trò của thực vật thủy sinh không chỉ tham gia làm giảm thiểu ô nhiễm hữu
cơ mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nitơ và phôtpho trong
nước thải mà các phương pháp khác khó thực hiện được hoặc rất tốn kém.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

động chăn nuôi. Nhằm mục tiêu đưa nghành chăn nuôi của nước ta phát
triển một cách bền vững.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại
2.1.1. Khái niệm về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại
Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại là sự thay đổi bất lợi môi
trường không khí, môi trường đất và môi trường nước hoàn toàn hay đại bộ
phận do hoạt động chăn nuôi, các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của con
người tạo nên. Những hoạt động này gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến
sự thay đổi về mặt năng lượng, mức độ bức xạ, về thành phần hoá học, tính
chất vật lí, Những thay đổi đó do tác động có hại đến con người và sinh vật
trên trái đất (Nguyễn Thiện, Trần Đình Miện, 2001) [21].
2.1.2. Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi
- Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn
nuôi chủ yếu được gây ra do nước thải trong khi rửa chuồng, nước tiểu lợn, ô
nhiễm chất thải rắn là do phân, thức ăn thừa của lợn vương vãi ra nền chuồng mà
không được thu gom kịp thời. Các chất này đều là những chất dễ phân huỷ sinh
học: Carbonhydrate, protein, chất béo dẫn đến các vi sinh vật phân huỷ làm phát
tán mùi hôi thối ra môi trường. Đây là các chất gây ô nhiễm nặng nhất và thường
thấy nhất trong các trại chăn nuôi tập trung (Phạm Thị Phương Lan, 2007) [10].
- Mức độ ô nhiễm nguồn nước từ hoạt động chăn nuôi là nặng hay nhẹ tuỳ
thuộc vào lượng thải ngoài môi trường là bao nhiêu và phụ thuộc vào việc xử lí
hay không xử lí lượng nước thải trước khi thải ra ngoài môi trường.
Hiện nay, cả nước có khoảng 135.437 trang trại chăn nuôi, tỷ trọng

mg/l
50
3
COD
mg/l
80
4
Coliform
MNP/100ml
5.000
5
Tổng P
mg/l
6
6
Tổng N
mg/l
30
7
TSS
mg/l
50
8
NH
4
+
mg/l
10

2.1.3. Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi

th
h


u
uc
c
ơ
ơv
v
à
àv
v
ô
ôc

N
N
)
)v
v
à
àP
P
h
h
o
o
t
t
p
p
h
h
o
o(
(

hv
v


t
tg
g
â
â
y
yb
b


n
n
h
hNước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng

116.222
120.699
135.437
Đồng bằng Sông Hồng
10.960
15.222
16.085
17.318
20.581
Trung du và miền núi phía Bắc
4.545
3.850
3.835
4.423
4.680
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
16.788
17.378
18.015
18.202
20.420
Tây Nguyên
9.623
8.730
9.240
9.481
8.835
Đông Nam Bộ
15.864

Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra đang ngày một ở mức báo
động. Xã Trực Thái (Nam Định) có 91,13% hộ nuôi. Kết quả mà cơ quan
chức năng thu được là mức khi độc NH
3
, H
2
S cao hơn mức cho phép 4,7 lần,
mức nhiễm khuẩn không khí trong chuồng nuôi trung bình là 18.675 vi sinh
vật (cao hơn tiêu chuẩn của Nga 12 lần), nước thải nhiễm E.Coli và 25% số
mẫu nhiễm trứng giun với mật độ 4.025 trứng/500ml nước thải. Hàm lượng
COD là 3.916 mg/L trong khi TCVN quy định mức COD trong chất thải chỉ
được phép từ 100 – 400 mg/lít.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế
phân theo ngành hoạt động
Năm
Tổng số
Ngành hoạt động
Trồng trọt
Chăn nuôi
Dịch vụ
Tỷ đồng
2007
236.935,0
175.007,0
578.030
4.125,0

không có công nghệ chế biến chất thải là các nguyên nhân làm chăn nuôi là
ngành gây ô nhiễm môi trường lớn ở nước ta.
Báo Nông nghiệp Việt Nam số 200, ngày 6/10/2006 đã có một bài phản
ánh nỗi niềm bức xúc của nông dân ở Hưng Nguyên – Nghệ An vì đàn bò và các
gia súc của họ lâu nay vẫn béo mượt thì nay rụng lông, toét mắt, ghẻ lở, bán rẻ
mấy cũng chẳng ai mua. Nguyên nhân là do nguồn nước thải của Công ty cổ
phần Giấy Sông Lam, ba cống thải ngày đêm hoạt động hết công suất đẩy dòng
nước thải độc hại ấy thẩm thấu hết vào làng.
Quy hoạch chăn nuôi còn lúng túng, việc xử lý hậu quả của các trang
trại trước đây trót nằm trong khu dân cư như thế nào, hướng dẫn chăn nuôi
nhỏ lẻ an toàn, xác định vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, bãi
chăn thả, còn hết sức nan giải. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Bảng 2.4. Số lƣợng gia súc, gia cầm của Việt Nam
Năm
Trâu

Lợn
Ngựa
Dê, cừu
Gia cầm
Nghìn con
Triệu con
2000
2.897,2
4.127,9

1022,8
218,2
2005
2.922,2
5.540,7
27.435,0
110,5
1314,1
219,9
2006
2.921,1
6.510,8
26.855,3
87,3
1525,3
214,6
2007
2.996,4
6.724,7
26.560,7
103,5
1777,7
226,0
2008
2.897,7
6.337,7
26.701,6
121,2
1483,4
248,3

khi đó ước tính ở Hà Nội có khoảng 1 triệu tấn/năm chất thải rắn được thải ra
môi trường. Chỉ một phần nhỏ của chất thải rắn được ủ để làm phân bón, một
phần được dùng trực tiếp tưới cho hoa màu và nuôi cá. Chất thải lỏng bao
gồm nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng đa phần đều chảy
trực tiếp ra hệ thống cống thoát nước chung trong khu dân cư.
Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó phòng NN&PTNT huyện Thanh Oai
cho biết, chăn nuôi ở Thanh Oai phát triển mạnh ở các xã Tân Ước, Thanh
Mai, Thanh Cao Tuy nhiên, hiện tượng chuồng gia súc, gia cầm nằm ngay
cạnh khuôn viên nhà ở, chen chúc trong khu dân cư không phải là điều hiếm
gặp ở đây vì chăn nuôi hộ gia đình là cách người dân tận dụng các sản phẩm
dư thừa hằng ngày. Tuy nhiên, chỉ cần một gia đình nuôi 5-10 con lợn không
vệ sinh chuồng trại, xử lý phân không hợp lý thì tất cả các hộ xung quanh phải
cùng chịu hậu quả: nguồn nước, không khí bị ô nhiễm và nguy hiểm hơn là
việc lây lan dịch bệnh rất nhanh. Không chỉ có chăn nuôi nhỏ lẻ mà chăn nuôi
quy mô lớn cũng không được cải thiện nhiều, tuy các trang trại này đã nằm
tách biệt với khu dân cư nhưng công nghệ xử lý chất thải phần lớn vẫn là chôn
lấp do thiếu kinh phí và công nghệ. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về
các quy định pháp luật bảo vệ môi trường trong chăn nuôi còn rất hạn chế.
- Tại Đồng Nai, theo ước tính của ngành môi trường, mỗi ngày có
khoảng 5 tấn phân lợn, phân gà và 12.000 m
3
nước thải chăn nuôi trên địa bàn
thành phố Biên Hoà được thải trực tiếp ra sông Đồng Nai. Các trại không có
hệ thống xử lí nước thải và tất cả đều được đổ ra dòng suối Săn Máu đã và
đang dần giết chết dòng sông này, những bao phân tươi được đặt ngay trên
đường đi, khiến cho môi trường không chỉ trong các khu chăn nuôi bị ô nhiễm
nặng nề, mà còn gây mùi hôi thối nồng nặc ảnh hưởng đến sức khoẻ người
dân vùng lân cận. Theo số liệu thống kê Biên Hoà hiện có khoảng 140.000
đầu lợn và 1 triệu con gia cầm được nuôi trong hơn 8000 hộ chăn nuôi qui mô
lớn ở Tân Hoà, Tân Biên, Tân Phong nhưng trong đó chỉ có khoảng 15% số

2
50 – 100
508
17,0
3
100 – 150
181
6,1
4
150 – 250
85
2,8
5
250 – 500
54
1,8
6
> 500
31
1,0
(Nguồn: Phùng Đức Tiến và cs, 2009) [25].
Trong 3 năm gần đây, quy mô chăn nuôi lợn trong các trang trại có xu
hướng tăng nhanh do có tương quan giữa tỷ lệ lợi nhuận và số lượng đầu con
chăn nuôi. Số nái tăng dần từ 20 con/trại lên mức phổ biến là 40-50 con/trại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Vùng có quy mô chăn nuôi lợn nái lớn nhất là Đông Nam Bộ có 20 TT
với quy mô 250 - 500 con/TT và 16 TT với quy mô trên 500 con/TT; tiếp đến

24
0,5
7
> 2.500
140
0,3
(Nguồn: Phùng Đức Tiến và cs, 2009) [25].
Vùng có quy mô chăn nuôi lợn thịt lớn nhất là Đông Nam Bộ có 14 TT
với số đầu con từ 1.500 - 2.500 con/TT và 8 TT trên 2.500 con/TT; tiếp đó là
Đồng bằng sông Hồng có 3 TT quy mô từ 1.500 - 2.500 con/TT và 6 TT có
quy mô trên 2.500 con/TT.
Quy mô lợn thịt phổ biến từ 100-200 con/TT, chiếm 75,5% đã cho thấy
về cơ bản chăn nuôi lợn TT còn ở quy mô nhỏ, TT hộ gia đình là chính. Số
TT quy mô lớn hàng trăm nái hoặc hàng ngàn lợn thịt/TT còn rất ít. Vùng có
quy mô TT lớn nhất vẫn là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.
Với những số lượng trang trại như vậy nên hiện nay Việt Nam đang đứng
trước một thực trạng đó là ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi từ các
trang trại tập trung gây ra. Chủ yếu là chất thải trong chăn nuôi lợn bao gồm
phân, nuớc tiểu, chất độn chuồng, thức ăn rơi vãi và nước làm vệ sinh chuồng
trại. Không giống như phân bò hay phân của gia cầm khác, việc quản lí chất thải
trong chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn (Hồ Thị Kim Thoa và cs, 2002) [20].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
2.2.2. Tình hình ô nhiễm môi trường trong các trại chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên
- Thái Nguyên hiện có 638 trang trại trên địa bàn tỉnh, tăng hơn 250
trang trại so với năm 2001, tập trung chủ yếu ở T.P Thái Nguyên, Đồng Hỷ,
Phổ Yên, Phú Bình Trong đó có 9 trang trại trồng cây hằng năm, 53 trang
trại trồng cây lâu năm, 234 trang trại chăn nuôi, 56 trang trại lâm nghiệp, 22

465,9
24.884,6
1,87
2004
502,4
26.143,7
1,92
2005
519,3
27.435,0
1,89
2006
497,4
26.855,3
1,85
2007
509,4
26.560,7
1,92
2008
529,2
26.701,6
1,98
2009
560,0
27.627,7
2,03
(Niên giám thống kê, 2009) [15]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

192
Thị xã Sông Công
24
20
24
28
Huyện Định Hoá
23
11
40
42
Huyện Võ Nhai
34
24
27
39
Huyện Phú Lương
31
27
29
38
Huyện Đồng Hỷ
102
89
100
102
Huyện Đại Từ
72
51
80

dù trong các trang trại cũng đã bước đầu có những biện pháp giảm thiểu như
xây bể bioga để tận dụng chất thải rắn, nước thải rửa chuồng. Song do thiếu kĩ
thuật trong thiết kế, xây dựng thiếu kinh phí mà hầu hết các hầm xử lí đều
không còn sử dụng được hoặc có sử dụng được thì cũng không đủ đáp ứng
được với số đầu lợn của trại trong việc xử lí.
- Tại Thành phố Thái Nguyên (TPTN): Chăn nuôi lợn trên địa bàn thành
phố những năm qua đã có những phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê
đến hết năm 2008, tổng đầu lợn lên tới 53.450 con, sản lượng thịt đạt hơn 3
nghìn tấn, với 32 trang trại nuôi lợn nái và lợn thịt .Tuy nhiên vấn đề nước thải
của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn thành phố đang rất đáng lo ngại, theo
điều tra cho thấy chỉ có 80% nước thải của các trang trại này được qua xử lý
bằng hầm ủ Biogar [30], nhưng chất lượng của các hầm ủ này kém, công suất
nhỏ nên nước thải ra môi trường có thể vẫn còn gây ô nhiễm.
Trong những năm gần đây, sản xuất chăn nuôi trên địa bàn T.P Thái
Nguyên đã có những phát triển rõ rệt. Tuy nhiên, do dịch bệnh xảy ra thường
xuyên cùng với biến động của thị trường, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng
cao… nên ngành chăn nuôi của thành phố đã gặp không ít khó khăn…
Trong những năm qua, để đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu
kinh tế nông nghiệp đạt 31,35% năm 2010, UBND T.P đã có nhiều chính sách
khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm như: Chương trình cải tạo,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
nâng cao tầm vóc, lai tạo đàn bò theo hướng chăn nuôi bò thịt; hỗ trợ đầu tư
xây dựng mới trang trại tập trung chăn nuôi lợn ngoại và gia cầm nhằm phát
triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hiệu quả, an toàn dịch bệnh và phát
triển bền vững. Nhờ đó, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân
7,06%/năm; chất lượng con giống tiếp tục được cải thiện mang lại giá trị kinh
tế cao, tăng thu nhập, tạo việc làm cho khoảng 1.200 lao động, với mức thu

trong chuồng của gia đình tôi luôn nuôi dao động khoảng 400 đến 450 con lợn
thương phẩm. Chăn nuôi lợn, nhất là chăn nuôi theo hình thức trang trại lớn
như gia đình tôi, có thời điểm gặp rất nhiều khó khăn như khi lợn chuẩn bị
xuất chuồng thì giá lợn hơi trên thị trường lại đột ngột xuống thấp. Nhiều lần
phải chịu hòa vốn, thậm chí là thua lỗ khi giá cả xuống quá thấp. Trong khi
đó, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm thời gian qua diễn biến khá
phức tạp như dịch bệnh tai xanh ở lợn, cúm gia cầm… ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố. Khi có dịch bệnh
xảy ra, các gia đình có gia súc, gia cầm chết thường ngừng hoạt động chăn
nuôi do không có vốn để tiếp tục đầu tư mua con giống. Nếu tiếp tục chăn
nuôi thì lượng gia súc, gia cầm cũng giảm đi nhiều. Hoặc có những hộ thường
xuyên chú trọng phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm nhưng vì
tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nên vẫn gặp cảnh “dở khóc, dở cười”
khi lợn, gà lăn ra chết hoặc phải mang đi tiêu huỷ.
Không chỉ vậy, việc cắt điện luân phiên cũng khiến cho nhiều trang trại
chăn nuôi trên địa bàn rơi vào tình cảnh khó khăn. Theo bà Nguyễn Thị Thảo,
ở xóm Đức Hòa (Thịnh Đức) - hiện đang nhận nuôi lợn gia công cho Công ty
cổ phần Chăn nuôi Việt Nam thì: nuôi theo hình thức công nghiệp, lợn chịu
nóng kém, việc cắt điện luân phiên đã làm ảnh hưởng lớn đến hệ thống làm
mát, cung cấp nước uống cho lợn. Với quy mô nuôi 2.000 con/lứa, do đó mỗi
ngày mất điện Công ty phải bỏ ra 400 đến 500 nghìn đồng mua dầu chạy máy
phát điện. Vì chỉ ngưng các hệ thống trong nửa ngày là lợn không chịu được
nóng sẽ sinh bệnh và có thể chết hàng loạt.
Khi nói về giải pháp, định hướng để ngành chăn nuôi của thành phố phát
triển theo hướng bền vững, đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Trưởng phòng Kinh
tế (T.P Thái Nguyên) cho biết: Thành phố cũng như ngành chức năng tập trung

Trích đoạn Các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi lợn Cơ sở pháp lý có liên quan Nghiên cứu phương pháp xử lí ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng Khả năng sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong nước thải chăn nuôi Khả năng xử lí nước thải chăn nuôi bằng thực vật thủy sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status