5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP
CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1. Tổng quan về doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm của doanh nghiệp
Khoản 1 và 2 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11
năm 2005 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh
là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lợi.
Từ khái niệm trên chúng ta thấy: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi vì
mục tiêu kinh doanh của họ là nhằm tối đa hóa lợi nhuận, mặc dù có một số ít các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, không hoàn toàn nhằm mục tiêu
lợi nhuận.
1.1.1.2. Phân loại của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại,
phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ
các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau để
phân loại các doanh nghiệp.
Dựa vào hình thức pháp lý doanh nghiệp, theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì
hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là
doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều
lệ của công ty.
7
vốn để phân loại doanh nghiệp thành siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp
vừa.
Việc phân loại theo tiêu thức này nhằm giúp cho Nhà nước có những chiến
lược và những chính sách hợp lý nhằm hỗ trợ phát triển các DNNVV trong từng
thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể, đặc biệt là trong lúc nền kinh
tế đang gặp nhiều khó khăn như lạm phát, khủng hoảng ….
1.1.2. Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tiêu chuẩn phân loại DNNVV thường dựa trên hai quan điểm: “kinh tế” và
“thống kê”. Theo quan điểm“kinh tế”, một công ty được đánh giá là nhỏ nếu nó đáp
ứng ba tiêu chí sau đây: (1) nó chiếm một phần tương đối nhỏ trong thị trường của
nó; (2) nó được sở hữu bởi những cá nhân và không được quản lý bởi một cơ cấu
chính thức; (3) nó hoạt động độc lập và không phải là một bộ phận của một doanh
nghiệp lớn hơn. Quan điểm“thống kê” về DNNVV thì căn cứ trên ba khía cạnh
chính: (1) xác định lượng đóng góp của doanh nghiệp vào GDP, việc làm và xuất
khẩu; (2) so sánh mức độ đóng góp vào nền kinh tế quốc gia của các công ty này
theo thời gian; (3) mở rộng phạm vi so sánh trên bình diện giữa các quốc gia. Tuy
nhiên, cả hai quan điểm đều phát sinh một số điểm yếu, chẳng hạn như theo quan
điểm kinh tế cho rằng một doanh nghiệp nhỏ được sở hữu bởi những cá nhân và
không được quản lý bởi một cơ cấu chính thức, không phù hợp với quan điểm thống
kê khi mà một công ty chỉ sản xuất quy mô nhỏ nhưng có đến hơn 200 nhân viên.
Theo Tổ Chức Công Nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO - UN Industrial
Development Organization), định nghĩa một DNNVV là một vấn đề quan trọng cho
sự phát triển của một quốc gia, phụ thuộc nhiều vào mục đích, định hướng phát
triển. Tùy vào chính sách phát triển khác nhau mà UNIDO tư vấn cho các nước
những tiêu chuẩn định lượng, định tính để định nghĩa một DNNVV. Dưới đây là
bảng tóm tắt các chỉ tiêu chính có thể được sử dụng để phân biệt giữa DNNVV và
các doanh nghiệp lớn.
Mối quan hệ với
người mua
Không ổn định
Có mối quan hệ dài hạn vững
chắc
Năng suất
Căn cứ chủ yếu vào lao động
Căn cứ chủ yếu vào nguồn
vốn, quy mô kinh tế
Nghiên cứu phát
triển
Tiếp cận trực quan, hoàn toàn
phụ thuộc vào thị trường
Có khả năng tác động mạnh
mẽ đến thị trường
Tài chính
Phụ thuộc vào ngân sách của
cá nhân, gia đình
Cơ cấu sở hữu đa dạng, tiếp
cận với cả thị trường vốn bên
ngoài
[Nguồn: UNIDO]
Tiêu chuẩn phân loại DNNVV phần lớn được quyết định bởi mục đích thiết
lập tiêu chuẩn. Mục đích thường gặp nhất là nắm vững được tình hình hoạt động
kinh doanh, kết cấu tỷ lệ của các doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau trong nền
kinh tế quốc dân đồng thời tiến hành quản lý các doanh nghiệp đó về phương diện
hành chính, kinh tế và pháp luật… Ở nhiều quốc gia, tiêu chuẩn phân loại DNNVV
ở các ngành khác nhau cũng có những khác biệt nhất định. Dưới đây là bảng tiêu
chuẩn phân định DNNVV của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực và
trên thế giới:
Công
nghiệp
Thƣơng
mại
Cách gọi
Small and
Medium
Enterprise
Small
and
Medium
Business
Small and
Medium
Enterprise
Micro,
Small and
Medium
Enterprise
Small and
Medium
Enterprise
Small and
Medium
Enterprise
Small and
Medium
10 – 49
15 – 100
0
< 300
Vừa
< 250
< 500
51 – 150
15 – 49
30 – 99
100 – 499
50 – 99
101 – 250
0
300 –
2000
Doanh thu
Siêu nhỏ
3 triệu $
0
250.000 RM
0
10.000 $
0
0
0
< 50 triệu
Rs
0
Nhỏ
DNNVV:
DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,
được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên),
cụ thể như sau:
Bảng 1.3 Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam
Quy mô
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Khu vực
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ trên 10
người đến
50 người
Từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
Từ trên 50
người đến
100 người
[Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, tr.27]
10
1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh những đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung như hoạt động sản
xuất kinh doanh hay dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp nhỏ và
vửa cũng có những đặc điểm riêng.
DNNVV có những lợi thế rõ ràng, chẳng hạn như:
- Đa dạng về loại hình sở hữu: DNNVV tồn tại và phát triển ở mọi loại
hình khác nhau như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, hợp tác xã.
- Năng động và linh hoạt trước những thay đổi của thị trường: do DNNVV
có mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn
lực tại chỗ nên khả năng chuyển hướng kinh doanh, chuyển đổi mặt bằng,
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp nhanh và dễ dàng.
- Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực
hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp qua đó góp phần tiết
kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều này tạo sức hấp
dẫn cho các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh mạnh dạn đầu tư vào khu vực
này.
Tuy nhiên, khu vực DNNVV cũng phát sinh nhiều nhược điểm như:
đáng kể.
Hiện nay, đối với nhiều quốc gia các DNVVN vẫn là xương sống trong sự
phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện ngày nay, sự phát triển của chuyên môn
hóa và hợp tác hóa đã không cho phép một doanh nghiệp tự khép kín chu trình sản
xuất kinh doanh một cách có hiệu quả mà thay vào đó là các DNVVN là vệ tinh của
doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp.
Những nét cơ bản về vai trò của DNNVV cụ thể như sau:
- Các DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể
cho nền kinh tế.
12
- Các DNNVV trong nền kinh tế góp phần tạo việc làm và thu nhập cho
người lao động.
- Các DNNVV thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế .
- Hoạt động của các DNNVV góp phần làm cho nền kinh tế năng động, đạt
hiệu quả kinh tế cao.
- Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,
khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng. Phát triển các DNNVV sẽ
giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động
trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương.
- Các DNNVV tạo được mối liên kết chặt chẽ với các tổng công ty nhà
nước, các tập đoàn xuyên quốc gia…
1.2. Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng
Theo khoản 14 và 16 Điều 4 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng số 47/2010/QH12:
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền thep nguyên tắc có hoàn trả bằng
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
Thứ sáu, về khả năng hoàn trả nợ vay: DNNVV dễ gặp khó khăn trong việc trả
nợ vay khi có sự biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ như: lạm phát, khủng
hoảng kinh tế, tài chính ….
1.2.3. Một số hình thức tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV
Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo mối quan hệ tín dụng ngân hàng ngày
càng đa dạng và phức tạp thông qua các hình thức khác nhau. Có rất nhiều cách
phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích
nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:
Phân loại theo thời gian cấp tín dụng:
14
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với
Quyết Định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2000 của Thống Đốc Ngân Hàng
Nhà Nước Việt Nam thì tín dụng được phân thành 3 loại sau:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được
sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn
lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu
dùng của cá nhân. Hình thức tín dụng này được xác định phù hợp với chu kỳ
sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn
phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng
và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để
cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô
lớn.
Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định
và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Thời gian cho vay của hai hình
thức này không được vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập
hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay:
phát sinh theo nhu cầu của quá trình tuần hoàn luân chuyển vốn mà không
phụ thuộc vào tình hình dự trữ vật tư, hàng hóa; (3) Do vốn tín dụng ngân
hàng tham gia vào toàn bộ quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp nên
các thủ tục cho vay được thực hiện đơn giản dần, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp nhận được vốn kịp thời.
Cho vay từng lần: Áp dụng cho các tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn
không thường xuyên có tính chất đột xuất, không được ấn định hạn mức tín
dụng. Cho vay từng lần có đặc điểm sau: (1) Vốn tín dụng ngân hàng chỉ
tham gia vào một giai đoạn hay một quy trình nhất định trong chu kỳ sản
xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn của đơn vị; (2) Về phía ngân hàng
việc cho vay và thu nợ được xử lý theo từng món vay; (3) Mỗi lần phát sinh
16
nhu cầu vay vốn bắt buộc bên vay phải tiến hành các thủ tục làm đơn xin vay
kèm theo các chứng từ hóa đơn xin vay để cán bộ tín dụng kiểm tra đối
tượng vay vốn, nếu đối tượng vay vốn phù hợp sẽ giải quyết cho vay.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là một hình thức cấp tín dụng cho khách
hàng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt số dư có trên tài
khoản thanh toán của khách hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán kịp
thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Để được vay theo phương thức này,
khách hàng phải là những khách hàng quen biết, thường xuyên giao dịch qua
ngân hàng, tình hình tài chính tương đối ổn định.
Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay, trong đó một nhóm ngân hàng
thương mại cùng tham gia tài trợ chung một dự án vay. Trong đó một ngân
hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay.
Loại hình này áp dụng trong trường hợp dự án có quy mô vốn lớn, vượt quá
khả năng tài trợ của một ngân hàng hoặc vượt quá quy định giới hạn của luật
pháp. Nó cũng được sử dụng với mục tiêu phân tán rủi ro của ngân hàng.
Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với bên nhận
bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
1.2.4.1. Là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ các DNNVV
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, bất cứ ai cũng muốn đồng vốn của
mình sinh lời. Những người có vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn sàng cho vay số tiền đó để
kiếm lãi, còn những nhà doanh nghiệp cũng vì mục đích sinh lợi của vốn mà cần
vay thêm tiền để mở rộng sản xuất. Với tư cách là trung gian dẫn vốn, ngân hàng đã
giải quyết mâu thuẫn đó. Với hoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng đã tạo cơ hội
cho các chủ DNNVV muốn mở rộng sản xuất kinh doanh hay thực hiện một dự án
kinh doanh có thể vay vốn để thực hiện.
Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làm bình quân
hoá tỷ suất lợi nhuận thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV, tín dụng ngân hàng
luôn chuyển hướng đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao, hạn
chế hoặc không đầu tư vào những DNNVV có tỷ suất lợi nhuận thấp. Qua đó tín
18
dụng ngân hàng làm thay đổi quan hệ về cung - cầu hàng hoá và thay đổi cơ cấu
ngành nghề kinh tế.
1.2.4.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp phải tuân thủ các hợp
đồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cũng như tôn trọng các
điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do
đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng ngân hàng của ngân hàng phải
có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn
phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất
lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi.
Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải
ngân buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
1.2.4.3. Góp phần tăng nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh của các
DNNVV
Một trong những quy luật khách quan của cơ chế thị trường là cạnh tranh và
quy luật này ngày càng quan trọng, quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển
Với đặc điểm nguồn vốn thấp, các DNNVV khó đầu tư được công nghệ sản
xuất tiên tiến, hiện đại để cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Vì vậy, nguồn
vốn huy động từ ngân hàng có thể coi là nguồn quan trọng để DNNVV thực hiện
được nhu cầu này.
1.2.4.6. Góp phần nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình
độ tay nghề người lao động
Việc nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình độ tay
nghề người lao động sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp và
tăng năng suất lao động. Mặc dù hiểu được điều này nhưng các DNNVV đặc biệt là
các doanh nghiệp nhỏ không muốn chi tiền để đào tạo, tất cả nguồn vốn doanh
nghiệp đều tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy, nếu
doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn tín dụng từ ngân hàng sẽ làm tăng nguồn
20
vốn hoạt động cho doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong công tác
đào tạo của mình.
Qua một vài khía cạnh nêu trên, ta thấy được vai trò to lớn của tín dụng ngân
hàng đối với các DNNVV. Vì vậy, việc mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng đối với DNNVV là thực sự cần thiết để hoàn thiện một nền kinh tế, đặc
biệt là nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay.
1.3. Đánh giá các nghiên cứu trƣớc đây
Vấn đề khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV đã được
nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu. Mỗi một mô hình nghiên cứu định lượng đều
có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Nghiên cứu của luận văn này xin giới thiệu
một số công trình của các tác giả sau đây:
1.3.1. Công trình nghiên cứu của nhóm Edmore Mahembe
Tháng 12/2011, nhằm chuẩn bị cho chương trình điều chỉnh tín dụng quốc
gia, các chuyên gia tư vấn nghiên cứu mà người quản lý và nghiên cứu chính của dự
án là Edmore Mahembe đã tiến hành nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận tín dụng và hỗ trợ của các DNNVV ở Nam Phi. Trong đó, tác giả có
Liên quan đến quy mô của doanh nghiệp, các DNNVV có khuynh hướng tìm
kiếm nguồn tài chính phù hợp với nhu cầu của họ. Những chi phí liên quan đến việc
đánh giá và giám sát tín dụng của một khoản vay hoặc khoản đầu tư khiến nó không
tương xứng với lợi ích thu được từ việc cung cấp nguồn vốn cho DNNVV (Falkena
et al.,2004). Tuy nhiên, ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD - Organisation for Economic Cooperation and Development), ngân hàng
nhận thức được việc cung cấp tài chính cho DNNVV là một kênh kinh doanh hấp
dẫn, do đó họ đã phát triển một cơ chế giám sát hiệu quả cho việc kinh doanh này
(OECD,2006).
(2) Nhu cầu vay vốn:
Dựa trên nhu cầu vay vốn, các DNNVV ít có khả năng xin cấp một khoản
vay từ ngân hàng, bởi vì tỷ lệ từ chối đối với các nhóm doanh nghiệp này lần lượt là
17% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 7% đối với doanh nghiệp nhỏ và 4% đối với
doanh nghiệp vừa. Những doanh nghiệp này cũng thường nói “không cần vay vốn
ngân hàng” như là một lý do cho việc không nộp đơn xin vay của mình (tỷ lệ của
phản ứng này lần lượt là 46% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 52% đối với doanh
nghiệp nhỏ và 72% đối với doanh nghiệp vừa). Hơn thế nữa, những DNNVV cho
rằng thủ tục xin vay vốn ngân hàng quá phức tạp (tỷ lệ của phản ứng này lần lượt là
22
18% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 14% đối với doanh nghiệp nhỏ và 6% đối với
doanh nghiệp vừa) (Mengistae et al.,2010).
Tương tự, một nghiên cứu của Chimucheka và Rungani (2011) tìm thấy rằng
28% DNNVV ở Nam Phi chưa bao giờ nộp đơn xin vay vốn từ ngân hàng. Lý do
chính là vì họ không biết những thủ tục vay vốn (53%), không biết đến nguồn vốn
tín dụng sẵn có ở ngân hàng (23%), lãi suất thì cao (7%). Trong đó, 17% là tỷ lệ cho
thấy họ không đủ vốn để bắt đầu và vận hành hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong các trường hợp xin vay vốn, có đến 25% trường hợp ngân hàng không
phản hồi yêu cầu vay vốn của họ.
vốn tín dụng.
(5) Quan điểm của chủ sở hữu doanh nghiệp
Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới năm 2008, những người chủ doanh
nghiệp ở Châu Phi có xu hướng dùng nguồn tài chính của ngân hàng cung cấp để bổ
sung vốn lưu động. Truyền thống kinh doanh của các DNNVV ở Nam Phi là họ
không tích lũy vốn, vì vậy cả nguồn vốn sở hữu và tài sản cố định – cái mà có thẻ
cung cấp nhầm đảm bảo cho khoản vay tại ngân hàng – thì tương đối hiếm (Falkena
et. Al., 2004). Họ thường báo cáo là cần nguồn vốn lớn cho hoạt động kinh doanh
nhưng lại không tiếp cận đến nguồn vốn ngân hàng vì quan điểm của chính những
người chủ doanh nghiệp này.
(6) Khả năng tiếp cận thông tin tín dụng
Theo Falkena et. Al., các DNNVV thường cung cấp những thông tin không
đáng tin cậy (ngoại trừ những thông tin được công bố trên các phương tiện thông tin
đại chúng). Một khi doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng, họ phải đối mặt với
vấn đề cung cấp thông tin về tình hình tài chính và những nhân tố rủi ro có thể xảy
ra của chính doanh nghiệp mình.
Ngân hàng sử dụng những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp để phân tích
tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại và dự đoán triển vọng tương lai để làm cơ
sở cho quyết định cấp tín dụng. Thông tin đáng tin cậy của doanh nghiệp sẽ làm
giảm sự sai lệch do bất cân xứng thông tin. Nếu doanh nghiệp đã trải qua thời gian
24
phát triển và có những bước kinh doanh đúng đắn trong kế hoạch kinh doanh toàn
diện của mình, có giải pháp giảm rủi ro thì khả năng tiếp cận vốn tín dụng sẽ tăng
lên.
(7) Thủ tục pháp lý
Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới năm 2008, chỉ 80 trong tổng số 120
DNNVV được khảo sát là có pháp lý hòan chỉnh. Liên quan đến việc sử dụng các
sản phẩm tín dụng ngân hàng, không một doanh nghiệp nào có pháp lý không hoàn
chỉnh được sử dụng các sản phẩm tín dụng của ngân hàng mặc dù có đến 13%
[Nguồn: Edmore Mahembe et al., 2011]
Kết quả của bài nghiên cứu nhằm hướng đến hai mục tiêu: (1) nhận ra được
nhu cầu cung cấp tài chính của các DNNVV và (2) tìm giải pháp hỗ trợ nhu cầu
cung cấp tài chính của DNNVV trên cả hai mặt “quantity” (phải đáp ứng đủ vốn) và
“quanlity” (nguồn vốn phải phát huy đúng hiệu quả của nó).
1.3.2. Công trình nghiên cứu của Ricardo N. Bebczuk
Thêm một nghiên cứu của Ricardo N. Bebczuk nhằm xác định những yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng thông qua việc khảo sát 140 DNNVV ở
Argentina. Trong phạm vi quốc gia, tác giả chỉ ra rằng khả năng tiếp cận nguồn tín
dụng của các doanh nghiệp chịu sự chi phối của các nhân tố sau:
Biến phụ thuộc
Khả năng tiếp cận tín dụng
Biến độc lập có ý nghĩa
thống kê
1. ROA
2. Độ thanh khoản (Tiền/Tổng TS)
3. Doanh thu của doanh nghiệp
4. TSCĐ/ Tổng TS
Bƣớc 1: Giai
đoạn lập kế
hoạch
•Xây dựng
kế hoạch
thực hiện
•Xây dựng
kế hoạch
truyền thông
•Thu thập và
đánh giá sơ
dữ liệu
•Sàng lọc và
đánh giá dữ
liệu
Bƣớc 5:
Hoàn thiện
bài nghiên
cứu
•Viết, chỉnh
sửa và ra
báo cáo
nghiên cứu
26
5. Tổng nợ/ Tổng TS
[Nguồn: Ricardo N. Bebczuk, 2004]
Những nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng của DNNVV như sau:
(1) Suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản,
nó đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty. Giá trị
ROA càng cao thì khả năng tiếp cận vốn càng lớn.
(2) Độ thanh khoản: tài sản cố định có thể sử dụng như tài sản thế chấp, do
đó làm giảm thiệt hại của ngân hàng khi không thu hồi được nợ và cũng
là một biện pháp ngăn hảng rủi ro đạo đức từ các DNNVV. Chỉ số này
được đo lường bằng tỷ lệ tổng lợi nhuận trên tổng tài sản.
(3) Doanh thu của doanh nghiệp: DNNVV có doanh thu càng lớn, thể hiện sự
thành công trong lĩnh vực kinh doanh. Kết quả là khả năng tiếp cận vốn
tín dụng của các DN này sẽ mang tính tích cực.
(4) TSCĐ/Tổng TS: tài sản cố định có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp,
do đó sẽ làm giảm rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng khi cấp tín dụng cho các
sự chi phối mạnh mẽ bởi doanh thu, kinh nghiệm, chủ sở hữu, ngành nghề kinh
doanh… (Francis Nathan Okurut et al., 2006).
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của
DNNVV
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng là đi tìm cầu nối hay trở ngại giữa nhu cầu vốn của doanh nghiệp và
nguồn vốn tín dụng ngân hàng của ngân hàng. Thông qua kết quả của các công trình
nghiên cứu đã công bố, có thể rút ra một số nhân tố mà các nghiên cứu trước đây đã
phát hiện và kiểm định một cách riêng biệt, bao gồm ba nhóm nhân tố: (1) liên quan
đến pháp lý của doanh nghiệp; (2) liên quan đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp và (3) liên quan đến nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Cụ thể:
28
Liên quan đến pháp lý của doanh nghiệp:
Số năm hoạt động của DNNVV: Nhân tố này phản ánh sự tồn tại của
doanh nghiệp trên thị trường, được tính từ khi doanh nghiệp được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đến thời điểm hiện tại. Số năm hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp càng lâu, doanh nghiệp càng có nhiều
kinh nghiệm kinh doanh và uy tín đối với cả đối tác lẫn ngân hàng, khả
năng tiếp cận vốn vay cũng sẽ cao hơn. (Underhill Corporate Solutions
(Project Manager and Lead Reasearcher: Edmore Mahembe), 2011)
Ngành nghề kinh doanh: là biến giả với hai giá trị 1 và 0 tương ứng cho
nhóm ngành nghề như sau: biến nhận giá trị 1 nếu ngành nghề là “thương
mại dịch vụ”, biến nhận giá trị 0 nếu không thuộc ngành “thương mại
dịch vụ” tức biến có thể thuộc ngành nông – lâm – ngư nghiệp hoặc công
nghiệp xây dựng. Theo đánh giá của các chuyên gia, các doanh nghiệp
kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ dễ tiếp cận nguồn tín dụng
doanh nghiệp hơn do đặc thù ngành kinh doanh này có nguồn vốn luân
chuyển nhanh, ổn định và ít rủi ro từ việc đầu tư nhiều máy móc thiết bị
mà không khai thác được. (Francis Nathan Okurut et al., 2006)
Liên quan đến nhu cầu vay vốn:
Mục đích vay vốn: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu doanh nghiệp xin vay
tiền phục vụ cho mục đích bổ sung vốn lưu động và nhận giá trị 0 nếu
doanh nghiệp xin vay vì các mục đích khác. Những doanh nghiệp vay
tiền với mục đích bổ sung vốn lưu động có khả năng nhận được vốn vay
nhiều hơn so với những doanh nghiệp xin vay với mục đích khác. Vì
doanh nghiệp vay với mục đích này thì họ sẽ sử dụng số tiền vay được
vào sản xuất kinh doanh và ít có trường hợp họ sẽ sử dụng số tiền vay
vào mục đích khác. Khi họ đầu tư tiền vào sản xuất kinh doanh nhiều thì
thu nhập từ các khoản đầu tư đem lại lợi nhuận cao và họ có thể trả được
lãi và tiền vay. (Underhill Corporate Solutions (Project Manager and
Lead Reasearcher: Edmore Mahembe), 2011)