- 1 -
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu
thế khách quan của các quan hệ kinh tế hiện đại. Xu thế đó đã mở ra cơ hội
cũng như thách thức cho toàn xã hội nói chung và cho nền giáo dục nước nhà
nói riêng. Đổi mới chất lượng giáo dục ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết
đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm cải cách nền giáo dục của các nước có
nền giáo dục phát triển là Chính phủ tăng quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị
trường học.
Phát triển tài chính trong nhà trường là một trong những vấn đề chủ yếu
của bất kỳ hệ thống giáo dục nào trên thế giới. Trong các cuộc thảo luận về
giáo dục học, những vấn đề về tài chính thường nổi bật do những quan điểm
khác nhau của nhiều bên liên quan. Các nhà hoạch định chính sách đang đặt ra
câu hỏi liệu ngân quỹ Nhà nước có thể tiếp tục chi bao nhiêu cho phát triển
giáo dục học giữa những đòi hỏi cấp bách và cạnh tranh của rất nhiều mục tiêu
khác (giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển giao thông
công cộng….). Nhu cầu về tri thức và đổi mới công nghệ, khoa học kỹ thuật
ngày càng tăng buộc các trường học phải tìm kiếm những nguồn thu ngoài
ngân sách Nhà nước để có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội và vượt qua những
thử thách trong xu hướng hội nhập hiện nay.
Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật và Du lịch Yên Bái là đơn vị sự
nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Trường được
nâng cấp trên cơ sở trường Trung cấp văn hoá nghệ thuật Yên Bái theo quyết
định số 961/QĐ-BGĐT ngày 8/3/2008 của Bộ giáo dục và đào tạo. Trước sự
thay đổi cơ chế hoạt động nên phần nào gây khó khăn trong công tác quản lý,
trong đó có công tác quản lý tài chính ở những năm đầu thời kỳ thành lập
trường. Do đó vấn đề cấp bách hiện nay là phải tìm ra các giải pháp nhằm hoàn
- 2 -
thiện công tác quản lý tài chính theo mô hình tự chủ tài chính, từ đó nâng cao
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp công lập.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính theo mô hình tự chủ tài
chính tại trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật và Du lịch Yên Bái.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo mô hình
tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật và Du lịch Yên Bái.
- 4 -
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
LẬP THUỘC LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1. 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP THUỘC LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ là hoạt động cơ bản của toàn xã
hội loài người. Đa phần các hoạt động sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ
trong xã hội đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Xong bên cạnh đó cũng có
những hoạt động dịch vụ không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đó là loại dịch vụ
công – Đây là loại dịch vụ được cung cấp để đáp ứng những lợi ích chung và
lâu dài cho xã hội.
Những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp gọi
là đơn vị sự nghiệp.
Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập, hoạt
động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ công và các dịch vụ duy trì sự
hoạt động bền vững và lâu dài cho các ngành kinh tế quốc dân.
Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong các lĩnh vực như: y tế,
giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật,
văn hoá thể thao và du lịch, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ, việc làm và các lĩnh vực
hoạt động khác.
cộng vật chất hoặc phi vật chất phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực,
mỗi lĩnh vực mang lại sản phẩm khác nhau như hoạt động giáo dục và đào tạo
mang lại những con người tài đức, hoạt động văn hoá mang lại giá trị tình thần
to lớn cho nhân loại, hoạt động sự nghiệp y tế mang lại sức khoẻ cho con
người, hoạt động kinh tế mang lại tiềm lực kinh tế tạo điều kiện nâng cao
- 6 -
chất lượng lao động. Khi chất lượng lao động ngày càng được nâng cao thì yêu
cầu và việc cung cấp các dịch vụ công nghệ cao cho xã hội ngày càng tốt hơn.
Vì vậy hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và có tác động tích cực đến quá
trình tài sản xuất xã hội.
Trong quá trình hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập được phép thu một
số các loại phí, lệ phí do Nhà nước quy định để tiến hành các hoạt động cung
ứng dịch vụ và bù đắp một phần chi phí hoạt động thường xuyên góp phần tăng
thu nhập cho người lao động trong đơn vị. Nguồn thu này gọi là thu sự nghiệp,
nó rất quan trọng đối với đơn vị, là một trong những động lực làm cho các đơn
vị sự nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, cung ứng các dịch vụ ngày càng tốt
hơn cho xã hội. Đây cũng là nguồn thu góp phần to lớn trong việc giảm bớt
gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên nguồn kinh phí chính để duy trì hoạt động thường xuyên của
đơn vị sự nghiệp là được ngân sách Nhà nước cấp. Hoạt động sự nghiệp trong
các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát
triển kinh tế xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường chính phủ tổ chức duy trì hoạt động sự
nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện phát
triển các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, trong mỗi thời kỳ, Nhà nước có các
chủ chương, chính sách, có các chương trình mục tiêu kinh tế xã hội nhất định
như chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình xoá nạn mù chữ,
chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng, chương trình phòng chống
AIDS Những chương trình này chỉ có Nhà nước với vai trò lãnh đạo của mình
=
Tổng số nguồn thu sự
nghiệp
Tổng số chi hoạt động
thường xuyên
x 100 %
Trong đó: Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường
xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định. Căn cứ vào mức
tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp được phân loại
như sau:
- 8 -
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động: Đơn vị sự nghiệp có
mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên,
bằng hoặc lớn hơn 100%. Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ
nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền
của Nhà nước đặt hàng.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự
nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công
thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%.
Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt
động. Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên
xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống. Đơn vị sự nghiệp không có
nguồn thu. Đối với các đơn vị sự nghiệp đặc thù, các đơn vị sự nghiệp có quy
trình hoạt động đặc thù thì được phân loại theo loại của đơn vị sự nghiệp cấp
trên.
1.1.3. Vai trò đơn vị sự nghiệp công lập.
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, nó
là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế
quốc dân. Thông qua việc thực hiện các chức nặng nhiệm vụ Nhà nước giao
quốc dân.
Hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo luôn mang tính định
hướng của nhà nước trong từng thời kỳ, đặc biệt là đối với các hoạt động đào
tạo. Mục tiêu của đào tạo thường hướng vào nhu cầu của xã hội và định hướng
của nhà nước để tạo ra nguồn nhân lực đàp ứng đủ cả về số lượng và chất
lượng lao động cho sự phát triển nền kinh tế. So với các đơn vị sự nghiệp đào
tạo thì hoạt động của các đơn vị sự nghiệp giáo dục thường ổn định về thời
gian, nội dung và chương trình học tập ít bị thay đổi.
Đặc điểm lớn nhất chi phối hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục là
năm học không trùng với năm ngân sách. Đặc điểm này chi phối tới nguồn thu
sự nghiệp của đơn vị bởi thu từ học phí, lệ phí chỉ giới hạn theo số tháng thực
học của học sinh sinh viên ( Đối với khối giáo dục là 9 tháng thực học, đối với
khối đào tạo là 10 tháng thực học ).
- 10 -
Sản phẩm của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo cung ứng ra thị
trường là tri thức. Trong tất cả các hoạt động sự nghiệp thì chỉ có hoạt động sự
nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo chuyên môn hoá trong việc giáo dục
và đào tạo con người, đem lại tri thực cho nhân loại. Tri thức là nhu cầu cần
thiết của mỗi con người. Thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo, nguồn tri
thức hết sức phong phú và đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực được tiếp cận đến
những đối tưọng có nhu cầu cần học chúng.
Ngày nay nền kinh tế tri thức sẽ quyết định đến chất lượng của lao động,
quyết định đến sự phất triển của mỗi quốc gia. Vịêt Nam là một quốc gia đang
phát triển, để đưa nước ta nên là nước phát triển sánh vai cùng các nước phát
triển khác thì con đường ngắn nhất là phát triển nền kinh tế tri thức. Chính vì
vậy mà Đảng và nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu góp phần sớm
nhất đưa nước ta trở thành một nước phát triển.
Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo được sử dụng con
người để giáo dục và đào tạo con người. Kết quả của nó là tạo ra những con
người được trang bị đầy đủ tri thức. Bên cạnh việc trang bị những kiến thức
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên
chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của bộ tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 40/2006/NĐ-PC ngày 25/4/2006 của chính phủ quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành ngày
31/08/2006 về quy chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập;
Thông tư số 81/2006/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành ngày
06/09/2006 hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công
lập thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm;
Nghị định số 137/2006/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 14/11/2006
quy định việc phân cấp quản lý tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước;
- 12 -
Thông tư số 153/2007/TT-BTC sửa đổi, bổ sung thông tư số 81/2006/TT-
BTC ban hành ngày 06/09/2006 hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm;
Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ
về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường;
Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT của Bộ giáo dục và đào tạo ngày
28/5/2009 Ban hành Điều lệ trường cao đẳng . Điều lệ này quy định nhiệm vụ
và quyền hạn của các trường cao đẳng; Điều lệ này áp dụng đối với các trường
cao đẳng công lập và tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân;
Thông tư liên tịch số: 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15 tháng 04
năm 2009. Hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục
và đào tạo.
1.2.2. Nội dung quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công
toán thu chi cho năm kế hoạch xác định phân loại đơn vị sự nghiệp, đề nghị
NSNN cấp đảm bảo hoạt động thường xuyên, lập dự toán chi không thường
xuyên theo quy định hiện hành.
Hai năm sau trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị căn cứ vào mức kinh
phí NSNN đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng nhiệm vụ
được cấp có thẩm quyền giao của năm trước năm liền kề và nhiệm vụ tăng
giảm trong năm kế hoạch, đơn vị lập dự toán thu chi hoạt động thường xuyên
cho năm kế hoạch. Đối với kinh phí hoạt động không thường xuyên, đơn vị lập
dự toán theo quy định hiện hành.
Dự toán kinh phí được thực hiện theo đúng quy trình ngân sách.
Căn cứ vào dự toán thu chi năm đầu thời kỳ ổn định của đơn vị, cơ quan
chủ quản cấp trên dự kiến phân loại đơn vị sự nghiệp trực thuộc và tổng hợp
- 14 -
vào dự toán thu, dự toán NS đảm bảo chi hoạt động thường xuyên gửi cơ quan
tài chính cùng cấp và các cơ quan có liên quan theo quy định hiện hành.
Khi có ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp cơ quan chủ
quản của đơn vị tiếp tục làm văn bản trình uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết đinh
phân loại đơn vị sự nghiệp ổn định trong ba năm và phê duyệt dự toán kinh phí
ngân sách nhà nước đảm bảo hoạt động thường xuyên năm đầu của thời kỳ ổn
định.
- Việc giao dự toán và thực hiện dự toán của các đơn vị sự nghiệp công lập
thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo hoạt động theo mô hình tự chủ tài chính.
+ Giao dự toán.
Khi đơn vị nhận quyết định giao dự toán thu chi ngân sách năm đầu thời
kỳ ổn định từ cơ quan chủ quản. Các năm tiếp theo căn cứ vào tình hình tăng
giảm kế hoạch mà kinh phí được tăng hoặc giảm theo quy định chung của cơ
quan có thẩm quyền trong phạm vị dự toán ngân sách được giao.
+ Chấp hành dự toán.
Các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo hoạt
động theo mô hình tự chủ tài chính tuân thủ các nội dung chi, các nhóm mục
Nhìn chung, các khoản kinh phí trên đều được nhà nước cấp phát theo
nguyên tắc dựa trên giá trị công việc thực tế đơn vị thực hiện và tối đa không
vượt quá dự toán đã được phê duyệt. Riêng đối với khoản kinh phí bảo đảm
hoạt động thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo mô
hình tự chủ tài chính bảo đảm một phần chi phí thường xuyên thì mức kinh phí
Ngân sách Nhà nước cấp được thực hiện ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng
năm được tăng thêm theo tỷ lệ do cơ quan chủ quản hoặc uỷ ban nhân dân tỉnh
quy định. Hết thời hạn 3 năm, mức ngân sách Nhà nước bảo đảm sẽ được xác
định lại cho phù hợp.
* Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp.
Các nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công lập
hoạt động theo mô hình tự chủ tài chính phát sinh tại đơn vị bao gồm:
- 16 -
Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước theo quy
định của Pháp luật;
Thu từ các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả
năng của đơn vị (bao gồm các hoạt động trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo,
sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội, sự nghiệp văn hoá, thông tin, sự nghiệp thể dục,
thể thao, sự nghiệp kinh tế);
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân
hàng từ các hoạt dộng dịch vụ.
* Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật
* Nguồn thu khác
Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên
chức trong đơn vị.
Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước theo quy định của pháp luật
Kinh phí cấp cho các đơn vị để thực hiện nhiệm vụ do đơn vị chủ quản giao
theo cơ chế giao chỉ tiêu nhiệm vụ hoặc cơ chế đặt hàng của cơ quan chủ quản
Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
Chi thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch,
khảo sát, nhiệm vụ khác…) theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định;
Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy
định hiện hành;
Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu
có);
Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản
cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
- 18 -
Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
Các khoản chi khác theo quy định (nếu có);
Quy định về các khoản chi, mức chi:
Với quan điểm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự
nghiệp, Nhà nước đã cho phép các đơn vị sự nghiệp được chủ động xây dựng
định mức chi tiêu nội bộ của mình. Cụ thể:
Hiện nay, Nhà nước chỉ khống chế một số tiêu chuẩn, định mức chi, các
đơn vị sự nghiệp bắt buộc phải thực hiện theo đúng các quy định của Nhà
nước, bao gồm: Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; tiêu chuẩn, định mức về
làm nhà việc; tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và
điện thoại di động; chế độ công tác phí nước ngoài; chế độ tiếp khách nước
ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam; chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các
chương trình mục tiêu quốc gia; chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ
đột xuất được cấp trên có thẩm quyền giao; chế độ chính sách thực hiện tinh
giảm biên chế (nếu có), chế độ quản lý, sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện
trợ thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước; chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư
hoạch đề ra;
Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, không vượt quá 3 tháng lương thực tế
bình quân trong năm của đơn vị. Quỹ này dùng để chi khen thưởng cho các tập
thể và cá nhân người lao động, chi các hoạt động phúc lợi tập thể. Thủ trưởng
quyết định việc sử dụng và mức chi Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi sau khi đã
thống nhất với tổ chức Công đoàn;
Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, sau khi đã trích lập 3 quỹ trên, quỹ này
được sử dụng nhằm tái đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, hỗ trợ đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Trong phạm vi nguồn của quỹ,
Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng vào các mục đích trên theo quy định.
1.2.3. Những nhân tố tác động đến cơ chế tự chủ tài chính đối với các
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực GD&ĐT theo mô hình tự chủ tài
chính
- 20 -
* Về phía nhà nước.
- Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo
dục và Đào tạo và sự nhận thức đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước trong
từng thời kỳ từng giai đoạn.
Nhà nước ta xác định rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo. sự phát
triển của giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực trong xã
hội, đặc biệt là phát triển kinh tế. Nước ta đang trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước đưa đất nước ta thành quốc gia phát triển. Nguồn
nhân lực dồi dào với chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trong giúp
chúng ta rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Xuất phát từ chủ chương, chính sách đó mà Nhà nước ta dần dần thay
đổi phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với lĩnh vực giáo dục
đào tạo. Đánh dấu sự đổi mới cơ chế quản lý là sự ra đời của nghị định số
10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002. Đây là nghị định quy định về quyền tự chủ
tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục và đào
tạo. Nội dung nghị định 10 đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về
trực tiếp đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý nói chung cũng như
quản lý tài chính nói riêng.
Cơ chế quản lý tài chính sẽ khuyến khích hay hạn chế sự phát triển cửa
đơn vị sự nghiệp tuỳ thuộc và năng lực, trình độ của người vận dụng nó người
quản lý nó. Nếu xét ở tầm vĩ mô, trình độ của những nhà hoạch định chính
sách, những nhà xây dựng pháp luật là nhân tố chính tác động tới cơ chế tự chủ
tài chính. Họ là những người đề ra cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị thực
hiện. Đối với đơn vị thực hiện tự chủ tài chính lại phụ thuộc vào ý chủ quan
của người lãnh đạo, người làm công tác quản lý tài chính. Người sử dụng ngân
sách từ lãnh đạo cho đến người quản lý cần thiết phải có trình độ, chuyên môn
để quản lý tài chính một cách chặt chẽ, đảm bảo đúng pháp luật và phát huy tối
đa hiệu quả của nguồn tài chính.
Mỗi đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo được
phân cộng nhiệm vụ cụ thể. Nhiệm vụ đó chi phối toàn bộ hoạt động của đơn vị
sự nghiệp trong đó có hoạt động tài chính ( Nội dung và phạm vi nguồn thu,
- 22 -
nhiệm vụ chi của các đơn vị là khác nhau). Cơ chế tự chủ tài chính nhằm giúp
đỡ các đơn vị quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi tiêu cho hợp lý và hiệu quả đảm
bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị do đơn vị tự lập ra nhằm kiểm tra,
kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị. các quy định, các thủ tục kiểm soát và
các loại kiểm soát nhằm kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của đơn vị, bảo đảm
các hoạt động của đơn vị tuân thủ đúng pháp luật và các quy định của nhà
nước Với bất kỳ cơ chế quản lý nào khi đặt ra đều phải được giám sát thực
hiện bởi một hệ thống kiểm tra, kiểm soát. Đây có thể là công tác kiểm tra nội
bộ trong đơn vị hay là sự giám sát của các cơ quan khác ngoài đơn vị như cơ
quan thanh tra, cơ quan kiểm toán, cơ quan thuế Việc kiểm tra giám sát luôn
luôn cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến mô hình tự chủ tài chính trong các
đơn vị bởi trong quá trình điều hành còn có những sai sót. Việc kiểm tra kiểm
soát sẽ tìm ra những thiếu sót trong công tác quản lý tài chính từ đó kịp thời
961/QĐ-BGDDT ngày 8 tháng 3 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
trường được nâng cấp thành trường cao đẳng Văn hoá nghệ thuật và Du lịch.
Nhiệm vụ của nhà trường được Đảng và Nhà nước giao cho là: Đào tạo
và bồi dưỡng cán bộ làm công tác văn hoá thông tin phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Trải qua 44 năm, trường đã đào tạo được hơn 3 nghìn
cán bộ làm công tác văn hoá thông tin có trình độ từ sơ cấp, trung cấp theo các
hình thức chính quy tập trung, tại chức, bồi dưỡng theo chuyên đề trong tỉnh và
đào tạo liên kết. Mục tiêu định hướng đào tạo của Trường trong những năm tới
là: Phát triển quy mô một cách hợp lý trên cơ sở giữ vững và ổn định các ngành
- 24 -
và chuyên ngành hiện có, bổ sung một số chuyên ngành; tiếp tục tăng cường cơ
sở vật chất nhằm từng bước hiện đại hóa thiết bị phục vụ giảng dạy, học và
nghiên cứu khoa học tiến tới xây dựng các phòng học chuẩn quốc gia và quốc
tế, đưa trường trở thành một một trong những trung tâm đào tạo chất lượng cao
của cả nước. “Mở rộng quy mô đào tạo theo hướng đào tạo nguồn nhân lực có
trình độ cao, vững về chuyên môn và nghiệp vụ, trú trọng đến đào tạo nghệ
thuật dân tộc học theo chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo là mục tiêu hàng đầu.
Đào tạo bồi dưỡng và NCKH về Đào tạo Mỹ thuật đồ hoạ, Sư phạm mỹ thuật -
Âm nhạc, văn hoá du lịch, quản lý văn hoá, các môn nghệ thuật khác và đào tạo
nguồn nhân lực du lịch cả về kiến thức lẫn kỹ năng thực hành ở trình độ cử
nhân cao đẳng, trung cấp, có phẩm chất chính trị, đạo đức và nhân cách
XHCN; có khả năng sáng tác nghệ thuật và tổ chức các hoạt động văn hoá -
nghệ thuật để giảng dạy và hoạt động trong bậc học của giáo dục tiểu học và
phổ thông trung học, các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân và phụ
vụ nhu cầu nâng cao dân trí; đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước”.
Bảng 2.1 Danh mục ngành đào tạo của Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ
thuật và Du lịch Yên.
( Xem phụ lục số 01 )
Các chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên thông có bậc
Tổ chức bộ máy hoạt động của trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thật và
Du lịch Yên Bái. Hoạt động theo quy chế và Điều lệ trường cao đăng do bộ
giáo dục và đào tạo ban hành.
Ban giám hiệu gồm: Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng. Thực hiện theo
chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Các tổ chức tư vấn cho hiệu trưởng: Hội đồng khoa học và đào tạo, Hội
đồng thi đua khen thưởng và kỷ luật, Hội đồng tư vấn khác được thành lập theo