Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
………… o0o…………
TRẦN QUANG MINH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỘT BIẾN NHẰM
TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG BỆNH HÉO XANH CÀ
CHUA DO VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM CỦA MỘT
SỐ CHỦNG VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN Tôi xin cảm ơn phòng Đào tạo và các thầy cô giáo tại Cơ sở đào tạo sau đại
học Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
và kính trọng sâu sắc tới TS. Lê Như Kiểu – Trưởng bộ môn Vi sinh vật –
Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực tập.
rARN
ARN riboxom
C
hc
Các bon hữu cơ
CFU
Colony forming unit (Đơn vị hình thành khuẩn lạc)
CT
Công thức
cs
Cộng sự
ĐC
Đối chứng
N
ts
Nitơ tổng số
PCR
Polymerase chain reaction (Phản ứng chuỗi trùng hợp)
P
ts
Phốt pho tổng số
VSV
Vi sinh vật
VSVĐK
Vi sinh vật đối kháng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
49
Bảng 8.
Kích thước vòng đối kháng của các thể đột biến của chủng
DM ở nồng độ xử lý AO 24 µl/ml
50
Bảng 9.
Kích thước vòng đối kháng của các thể đột biến của chủng
DM ở nồng độ xử lý AO 30 µl/ml
51
Bảng 10.
Kích thước vòng đối kháng của các thể đột biến chủng BK
ở nồng độ xử lý AO 24µl/ml
53
Bảng 11.
Kích thước vòng đối kháng của các thể đột biến chủng
BK
1
ở nồng độ xử lý AO 30 µl/ml
54
Bảng 12.
Tác động của một số thể đột biến lên bệnh héo xanh cà chua
trong điều kiện nhà kính
57
Bảng 13.
Ảnh hưởng của một số thể đột biến đến khả năng sinh
Bảng 21.
Thành phần lý hóa của bột bã mía
69
Bảng 22.
Kích thước vòng đối kháng của các thể đột biến trong chế
phẩm
71
Bảng 23.
Một số tính chất hóa học và sinh học đất thí nghiệm
(Mê Linh- Hà Nội)
73
Bảng 24.
Khả năng phòng chống bệnh héo xanh cà chua của thể đột
biến trên ruộng trồng tại xã Tiền Phong- Mê Linh- Hà
Nội
74
Bảng 25.
Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn đột biến đến năng suất
cà chua tại xã Tiền Phong- Mê Linh- Hà Nội
76 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC HÌNH
60
Hình 9.
Hoạt tính đối kháng của các thể đột biến trong chế phẩm sau
6 tháng
72
Hình 10
Các giai đoạn bón chế phẩm vi sinh vật đột biến
74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Cơ sở khoa học của đề tài
2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2
4. Mục tiêu của đề tài
3
5. Nội dung nghiên cứu
3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
13
1.7.1. Biện pháp hóa học
13
1.7.2. Biện pháp sinh học
13
1.8. Phòng trừ bệnh hại cây trồng bằng phương pháp sinh học
14
1.8.1. Khái niệm
14
1.8.2. Lựa chọn tác nhân phòng trừ sinh học
15
1.8.3. Sử dụng tác nhân vi sinh vật trong phòng bệnh hại thực vật
15
1.9. Nghiên cứu đột biến
16
1.9.1. Khái niệm đột biến
16
1.9.2. Gây đột biến nhân tạo bằng tác nhân vật lý
17
1.9.3. Gây đột biến nhân tạo bằng tác nhân hoá học
17
1.10. Phương pháp phát hiện đột biến
19
1.10.1. Phương pháp đề kháng
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
1.10.2. Phương pháp làm giàu chậm
19
2.2.1.3. Nhận dạng vi khuẩn R. solanacearum bằng kỹ thuật PCR
27
2.2.2. Phương pháp phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật đối
kháng
29
2.2.3. Nghiên cứu các đặc điểm sinh học và phân loại các chủng vi
khuẩn đối kháng
32
2.2.3.1. Xác định đặc tính sinh lý, sinh hóa
32
2.2.3.2. Phân loại vi sinh vật đối kháng bằng phương pháp tự gen
phần tử 16S rARN
34
2.2.4. Phương pháp xử lý đột biến
35
2.2.5. Phương pháp đánh giá khả năng phòng chống bệnh héo xanh
cà chua của chế phẩm vi sinh vật trong điều kiện nhà lưới quy mô
nhỏ
36
2.2.6. Đánh giá tính an toàn của các chủng vi sinh vật đối kháng
37
2.2.7. Phương pháp đánh giá khả năng kiểm soát bệnh héo xanh cà
chua của chế phẩm vi sinh đối kháng ngoài đồng ruộng
37
2.2.8. Phương pháp xử lý số liệu
38
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
39
3.1. Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn R.solanacearum gây bệnh héo
xanh cà chua
50
3.5. Đánh giá khả năng kiểm soát bệnh héo xanh cà chua của một số
thể đột biến trong nhà lưới
55
3.6. Đánh giá tính an toàn của các chủng vi sinh vật đối kháng
58
3.7. Nghiên cứu, sản xuất chế phẩm vi sinh vật đột biến phòng trừ
bệnh héo xanh cà chua
61
3.7.1. Giống vi sinh vật
61
3.7.2. Môi trường nhân giống
61
3.7.3. Nghiên cứu lựa chọn môi trường sản xuất
62
3.7.4. Một số yếu tố chính ảnh hưởng quá trình lên men thu sinh khối
64
3.7.4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình lên men vi khuẩn đột
biến
64
3.7.4.2. Ảnh hưởng của pH đến quá trình lên men vi khuẩn đột biến
65
3.7.4.3. Nghiên cứu lựa chọn chất mang
69
3.7.4.4. Nghiên cứu quy trình sản xuất chế phẩm vi khuẩn đột biến
70
3.7.4.5. Đánh giá hoạt tính đối kháng của các chế phẩm đột biến
trong thời gian bảo quản
71
3.8. Đánh giá hoạt tính đối kháng của chế phẩm trong điều kiện ngoài
cây trồng [1,3, 10, 11, 13]. Nhưng cho tới nay, những nghiên cứu về bệnh
héo rũ vi khuẩn trên cây trồng chưa nhiều và chưa sâu, chủ yếu chỉ giới hạn
trong phạm vi xác định mức độ thiệt hại, sự phân bố của bệnh và bước đầu
xác định nguồn gen kháng trong tập đoàn một số giống cây trồng hiện có.
Đã có nhiều nghiên cứu tuyển chọn các chủng vi khuẩn đối kháng để ứng
dụng trong phòng trừ bệnh héo này. Song mới chỉ dừng ở mức độ phân lập
và tuyển chọn được chủng vi khuẩn đối kháng dạng dại.
Mặc dù phòng trừ bệnh héo xanh bằng các chế phẩm sinh học đang là
mối quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước, nhưng cho đến nay
chưa có sản phẩm nào có hiệu quả phòng trừ cao và nếu có chỉ có tác dụng
trên một đối tượng cây trồng nhất định. Lý do chủ yếu là do hạn chế về
Khoa học và công nghệ. Do vậy việc ứng dụng các kỹ thuật đột biến rất có
triển vọng tạo ra được các chủng vi sinh vật mới có tính đối kháng cao hơn,
phổ đối kháng rộng hơn chủng gốc phục vụ sản xuất chế phẩm sinh học là
rất cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ những lý do và đòi hỏi nêu trên,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng phƣơng pháp đột biến
nhằm tăng cƣờng khả năng đối kháng bệnh héo xanh cà chua do vi
khuẩn Ralstonia solanacearum của một số chủng vi sinh vật đối kháng”.
2. Cơ sở khoa học của đề tài
- Trước tình hình thực tế bệnh héo xanh một số cây trồng ở Việt Nam
và trên thế giới, cần phải có nghiên cứu cơ bản và hiệu quả để có những kết
quả chính xác và khoa học về loài vi khuẩn R.solanacearum;
- Dựa vào kết quả nhiên cứu, phương pháp phân lập, nhận dạng và đặc
trưng loài R.solanacearum của các nhà tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu
loài vi khuẩn này;
- Trong chiến lược phòng chống bệnh héo xanh một cây trồng bằng
biện pháp sinh học, các nghiên cứu ở nước ngoài trước hết thường bắt đầu từ
R.solanacearum gây bệnh héo xanh cà chua;
2. Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn đối kháng (VKĐK) với
R.solanacearum từ những mẫu đất và mẫu cây cà chua;
3. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân loại các chủng VKĐK;
4. Tuyển chọn các chủng vi khuẩn có hoạt tính đối kháng cao nhất với vi
khuẩn R.solanacearum gây bệnh héo xanh bằng phương pháp đột biến;
5.Đánh giá khả năng phòng chống bệnh héo xanh cà chua của chế phẩm vi
sinh vật trong điều kiện nhà lưới quy mô nhỏ
6. Đánh giá tính an toàn của các chủng vi sinh vật đối kháng;
7. Nghiên cứu, sản xuất chế phẩm vi sinh vật đột biến phòng trừ bệnh héo
xanh cà chua;
8. Đánh giá hoạt tính đối kháng của chế phẩm trong điều kiện ngoài đồng
ruộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình gieo trồng cà chua ở Việt Nam và trên thế giới
Cà chua được trồng rất phổ biến ở nước ta, những năm gần đây diện
tích trồng cà chua vào khoảng 10000 - 12000 ha mỗi năm. Cà chua được
trồng chính vụ vào tháng 10 hàng năm và thu hoạch đến hết tháng 2 năm
sau, nhưng thường có vụ sớm và vụ muộn. Vụ sớm được trồng vào tháng 8
hàng năm còn vụ muộn vào tháng giêng năm sau. ở miền Bắc cà chua được
trồng chủ yếu ở những vùng ven đô và những vùng trọng điểm canh tác rau
màu của một số tỉnh, thành phố như: Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà
Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Vĩnh Phúc. Hơn 70% sản lượng (khoảng
80000 tấn) được thu hoạch trong vụ đông xuân (tháng 12 năm trước đến
tháng 3 năm sau).
Theo số liệu của FAO năm 1999, trên thế giới hiện có 158 nước trồng
Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Srilanka, Ethiopia, Lybia, Kenya, Hoa Kỳ,
Việt Nam, Zambia [1, 10, 30, 34]. Ở Việt Nam, bệnh héo xanh cà chua do vi
khuẩn R.solanacearum gây ra là một trong những bệnh gây hại phổ biến làm
chết héo hàng loạt cây cà chua trên đồng ruộng, nhất là ở vùng đồng bằng
sông Hồng. Bệnh được ghi nhận trên cà chua, khoai tây, thuốc lá, lạc, vừng,
gừng, ớt [5, 16, 17, 18]… Ở Indonesia, bệnh được phát hiện đầu tiên trên lạc
vào năm 1905 ở vùng Cirebo. Thiệt hại do bệnh gây ra có thể từ 15 – 90 %
năng suất [30, 46]. Ở Đài Loan bệnh được gây hại trên cà chua, khoai tây,
thuốc là, ớt, lạc… trên nhiều loại cây trồng sự thiệt hại do bệnh gây ra có thể
từ 5 – 100 % năng suất [40].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
1.4. Vi khuẩn Ralstonia solanacearum
1.4.1. Hình thái và phân loại
Tế bào loài R.solanacearum có hình oval ngắn, gram âm, tròn ở hai đầu,
thường thấy ở dạng đơn, ghép đôi hoặc ghép 4, nhưng ít khi kết thành chuỗi.
Tuy có sự dao động đáng kể nhưng kích thước của chúng khoảng 0,5 - 1,0 µm
1,5 – 5,0 µm (Bergey’s Manual of Determinative Bacteriology, 1994). Hầu như
chúng luôn chuyển động, có một đến vài tiên mao ở một cực của tế bào, bề mặt
khuẩn lạc thường nhẵn, đôi khi gồ ghề, chảy hoặc không chảy, màu trắng đục
hoặc phớt hồng, hoặc trắng. Cả chủng có tính độc cao và tính độc thấp đều có
các lông nhỏ ở rìa [18, 53 ].
Vị trí phân loại của R. solanacearum được sắp sếp như sau: Bacteria-
Proteobacteria-
Proteobacteria- Burkholderiales- Burkholderiaceae-Ralstonia
solanacearum.
Trong gần 30 năm qua, một hệ thống phân loại theo hai xu hướng đã
được sử dụng, nó phản ánh những hướng tiếp cận thật khác biệt để giải
Chủng 3: Gồm các cá thể gây bệnh ở lạc, khoai tây và một số ít cây
chủ khác.
Năm 1964, Hayward đã nhóm các chủng thuộc loài R. solanacearum
thành 5 biovar. Dựa vào sự đa hình về chiều dài đoạn ADN được tạo ra bởi
các enzym cắt giới hạn (RFLP) và đã chia các chủng sinh học thành hơn 40
nhóm RFLP [56, 57]. Kelman và Hayward cho rằng R. solanacearum là một
loài không đồng nhất, đa dạng với tính chuyên hoá khác nhau, bao gồm một
số biovar và pathovar khác biệt nhau [52, 53].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
1.4.2. Đặc điểm sinh lý, sinh hoá của vi khuẩn R. solanacearum
Vi khuẩn R.solanacearum có dạng hình gậy, hai đầu hơi tròn, kích
thước 0,5 - 1,5 µm, gram âm, sinh trưởng hiếu khí, không hình thành bào tử,
có khả năng tổng hợp poly - - hydroxybutyrat như là nguồn cacbon dự trữ.
Mặc dù nó không tạo ra sắc tố phát huỳnh quang nhưng nó có thể tổng hợp
sắc tố khuếch tán mầu nâu trên môi trường thạch có chứa Tyrozin.
R.solanacearum có thể khử nitrat thành nitrit và tạo ra khí nhưng không thể
thuỷ phân tinh bột, hoá lỏng yếu hoặc không hoá lỏng gelatin.
Những đặc tính sinh hoá chính của vi khuẩn R.solanacearum được
tóm tắt ở bảng 1 (Hayward, 1960 ) [47].
Bảng 1. Đặc tính sinh lý, sinh hoá chính của vi khuẩn R.solanacearum
Các chất thử
Phản ứng
Sự hoá lỏng gelatin
-
Sự thuỷ phân tinh bột
-
Kiểm tra MRI
+
Sự ôxi hoá malonat
+
Sự ôxi hoá gluconat
+
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Chú thích:
(+): Phản ứng dương hoặc phát triển được.
(-): Phản ứng âm hoặc không phát triển.
Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn phát triển thay đổi từ 25 – 35
0
C.
R.solanacearum có phản ứng khác nhau với chất kháng sinh, các nòi vi
khuẩn có thể mẫn cảm với Streptomyxin, chống chịu với Penixilin,
Viomyxin, [21, 50]. R. solanacearum là loại vi sinh vật tồn tại ở trong đất
thường xuyên gây ra bệnh chết héo trên nhiều loại cây trồng như lạc, khoai
tây, cà chua, ớt, thuốc lá phổ biến rộng ở hầu hết khắp các vùng, gây tác hại
lớn cho sản xuất, chúng lan truyền theo nước tưới, xâm nhập vào cây qua
các vết thương và di chuyển vào trong các bó mạch. Bệnh thường xảy ra vào
lúc cây đang tăng trưởng. Vi khuẩn phát triển ở nhiệt độ tương đối cao, đất
ẩm, xâm nhập qua vết thương, sinh sản ở các bó mạch, ký chủ và di chuyển
ở các bó mạch từ thân đến lá, sinh độc tố phá bó mạch làm cây tắc nghẽn sự
vận chuyển nước và các chất dinh dưỡng làm cây héo và chết, bệnh hại
nhiều trên đất cát pha, đất thịt bệnh nhẹ hơn. Trên những ruộng trồng luân
canh với cây lúa nước bệnh nhẹ. Vi khuẩn thích hợp ở nhiệt độ 30 – 37
0
C
nhiệt độ tối thiểu là 10
chủng R. solanacearum có độc tính. Bản thân tính độc phức tạp hơn nhiều, nên
không thể giải thích chỉ căn cứ vào sự hiện hữu hay không hiện hữu của chất
nhầy polysacarit, vì tính độc nếu xem xét trong phạm vi mối quan hệ với tính đặc
hiệu loài thì không liên quan tới sự tổng hợp chất nhầy, thường các nguồn vi
khuẩn gây độc trên cà chua có độc tính cao hơn các nguồn phân lập từ các cây
chủ khác [31, 71, 74, 77].
Một sự tương quan chặt chẽ giữa việc tạo ra exopolysacarit (EPS) và tính
độc, được chứng minh bằng việc tạo ra những đột biến không độc, gen điều
khiển EPS nằm ở vùng gen ops và eps [77]. Cấu trúc của polysacarit đã được xác
định [38], những đột biến không có polysacarit và không độc hoàn toàn sẽ không
có khả năng hình thành khuẩn lạc trên rễ cây chủ. Những số liệu này cho thấy, đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
có mối liên quan giữa tính độc, tính xâm thực vào rễ và chất lượng của
polysacarit đã được tạo ra trong thân cây.
1.5. Các con đƣờng xâm nhiễm của vi khuẩn R. solanacearum
Người ta thường thấy các hình thức chủ yếu mà R. solanacearum xâm
nhập vào cây chủ như sau:
- Do tương tác giữa vi khuẩn gây bệnh với các quần thể đơn bào ăn rễ
như giun tròn thì tỷ lệ mắc bệnh cao vi giun tròn làm tổn thương và biến
dạng bộ rễ và qua đó vi khuẩn rễ dàng xâm nhập vào [33,50].
- Côn trùng sâu hại mang vi khuẩn, chúng chích hút vào cây, qua đó vi
khuẩn rễ dàng xâm nhập vào cây chủ. Hình thức này rất phổ biến và vi
khuẩn lan truyền nhanh có thể làm cho cả một cánh đồng bị chết héo [50].
- Do sự chăm sóc làm cho cây bị đứt rễ, sây xát thân, dập lá…mà vi
khuẩn tiềm trữ trong đất, không khí hoặc qua nguồn nước có cơ hội tấn công
vào cây chủ.
- Với những vi khuẩn có khả năng gây bệnh mạnh, chúng có thể xâm
nhập qua các lỗ mở ở rễ cây, khí khổng ở lá cây, thủy khổng và lỗ ở vỏ [50].
0
C mặc dù sự xâm nhiễm vẫn xảy ra.
1.6.3. Cường độ chiếu sáng
Đã có một số nghiên cứu, khảo sát ảnh hưởng phối hợp của cường độ
chiếu sáng và chu kỳ quang lên sức đề kháng của cây chủ đối với vi khuẩn
gây bệnh héo xanh. Cường độ chiếu sáng giảm, không làm giảm sức đề
kháng của cà chua 1169 đối với chủng vi khuẩn LB - 6 ở nhiệt độ 26,6
0
C,
trong khi đó làm giảm rất đáng kể sức đề kháng của cà chua ở 29
0
C [52].
1.6.4. Độ ẩm của đất
Độ ẩm cao của đất thường thấy ở những nơi đất phẳng, ruộng, vùng
bình nguyên hoặc những vùng có mưa lớn, nói chung rất thuận lợi cho bệnh
héo xanh vi khuẩn phát triển. Sức đề kháng của vi khuẩn gây bênh là rất lớn
ở những nơi đất ẩm, nhưng chúng sẽ bị tổn thương nặng khi đất gặp hạn và
ngập nước, như không tăng sinh ở đất khô. Mức độ giảm quần thể
R.solanacearum trong đất bị sấy khô xảy ra chậm hơn so với đất bị xử lý ướt
(ngập nước) [1, 42].
1.6.5. Ảnh hưởng của các loại đất
Vander Zaang quan sát những cánh đồng ở Đông Nam Á đã cho rằng,
đất ngập nước, đất trồng mía có mùa khô thật sự, những cánh đồng ngập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
nước sông với chu kỳ mối năm một lần đều thuộc loại không chứa
R.solanacearum.
Năm 1965, Chae Gun Phea phát hiện ra rằng, sự xâm nhiễm không xày
ra ở trên cát, nhưng nó lại là cao nhất ở đất thịt nặng, một mẫu đất sẽ không
Ngoài ra, chúng ta cần phải làm đất vườn ươm sạch bệnh, cày bừa kỹ,
bón đạm vừa phải, phân chuồng phải hoai mục, luân canh với cây lúa nước
và dùng thuốc một cách hợp lý.
1.8. Phòng trừ bệnh hại cây trồng bằng phƣơng pháp sinh học
1.8.1. Khái niệm
Ptrừ sinh học bệnh cây (Biocontrol) là việc thông qua sử dụng một hoặc
nhiều vi sinh vật (ngoại trừ con người) để khống chế mầm bệnh hay làm
giảm sự sinh trưởng và phát triển một số tác nhân gây hại nào đó. Đến năm
1988, Cook đó đưa ra một khái niệm rộng hơn về phòng trừ sinh học. Theo
theo tác giả (Biocontrol) là việc sử dụng vi sinh vật, gen và các sản phẩm
của gen để điều khiển các tác nhân gây bệnh. Các cách điều khiển tác nhận
gây bệnh có thể là:
- Duy trì mật độ nguồn bệnh ở mức độ thấp dưới ngưỡng kinh tế.
- Làm chậm hoặc loại trừ tiến triển xâm nhiễm của bệnh.
- Kích hoạt và tạo điều kiện phát huy hệ thống tự vệ của cây. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
1.8.2. Lựa chọn tác nhân phòng trừ sinh học
Chiến lược (Biocontrol) có thể chia thành 2 loại:
- Chiến lược dựa trên nguyên tắc cơ bản về sinh thái học hay còn gọi là
phòng trừ sinh học cổ điển [54]. Hay phòng trừ sinh học chỉ xử lý một lần.
- Chiến lược sử dụng vi sinh vật như là một loại thuốc sinh học và việc
xử lý có những điểm gần giống như xử lý thuốc hóa học nhằm mục đích
kiểm soát bệnh trong một khoảng thời gian giới hạn. Chiến lược này còn
được gọi là phòng trừ sinh học tăng dần. Sự khác nhau về chiến lược phòng
trừ ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phương pháp sàng lọc tác nhân phòng trừ
sinh học.