A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII thực sự mở đầu sau những năm thịnh đạt
cuối cùng của triều đại Lê sơ và kết thúc trước thời kỳ bùng nổ cao trào khởi nghĩa nông dân vào những
năm bốn mươi của thế kỷ XVIII.Đây là một giai đoạn văn học của thời kỳ quốc gia độc lập, nhưng lại là
vào lúc bắt đầu có sự suy thoái của chế độ phong kiến. Cho nên diện mạo, tính chất, đặc điểm,…của văn
học có những biến đổi quan trọng. Lực lượng sáng tác trong giai đoạn văn học này vân là trí thức mang ý
thức hệ phong kiến. Nhưng nếu trước kia lực lượng đó chủ yếu là nho sĩ quan liêu đang cư quan, nhiệm
chức ở triều đình, thì nay lại gồm thêm nhiều nho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân sống ở thôn dã. Các tác phẩm
có giá trị của văn học viết thời này hầu hết là do những nho sĩ viết ra.
Những trang lịch sử nửa sau thế kỷ XV - XVI đã ghi lại nhiều biến động về chính trị, nhiều bất công
trong xã hội và kéo theo đó là những suy đồi về đạo đức. Hầu như những nguyên tắc đạo lí của Khổng giáo
bị sa sút, thói đời đen bạc bị phơi bày làm cho những ai có tâm huyết với đời, có kì vọng trung hưng về xã
hội phong kiến trở nên ngao ngán chán chường. Toàn bộ bức tranh của hiện thực xã hội ấy đã tác động sâu
sắc lên những trang đời và trang thơ của các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình
cảm, tư tưởng, đặc biệt là thái độ xuất xứ ở ẩn của họ trước thời cuộc. Họ nhập thế là để giúp đời cứu nước.
Nhưng rồi họ lui về ở ẩn để giữ vững khí tiết, thực hiện thú nhàn tản.
Ở thế kỷ XVI, đã xuất hiện rất nhiều nhà nho có thái độ ẩn dật. Sáng tác của họ đã góp phần quan
trọng trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Thơ văn của các ẩn sĩ là tiếng nói cho tầng
lớp tri thức bất mãn với hiện thực xã hội lúc bấy giờ và tư tưởng an nhàn thoát tục nhưng vẫn đau đáu một
tấm lòng lo cho dân cho nước. Không những thế thơ văn của họ còn vẻ nên bức tranh hiện thực khá sâu sắc
về đất nước, xã hội và con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng… là những nhà thơ nhà văn trong rất nhiều nhà
văn nhà thơ thời kì trung đại viết về hình tượng nhà nho ẩn dật. Tuy sống cuộc đời ẩn dật nhưng thơ văn của
họ luôn mang những triết lý sâu sắc. Tuy họ đã về ở ẩn nhưng tiếng nói của họ vẫn ảnh hưởng lớn đến hậu
thế, có tác dụng hữu hiệu cho sự phân định những điều thật - giả, tốt - xấu, đúng - sai, thiện – ác… đang
diễn ra hàng ngày hàng giờ trong cuộc sống mỗi chúng ta.
Tất cả những vấn đề trên đều là những điều lí thú cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn về tư tưởng của
các nho sĩ ẩn dật và cũng để bày tỏ tinh thần trân trọng đối với các nhà hiền triết, những tấm gương cao quí
xưa. Đó chính là lí do để chúng tôi chọn khảo sát loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ
XVI làm đề tài nghiên cứu trong bài báo cáo tốt nghiệp này.
nho sĩ “xuất” rồi lại “xử”, hoặc “xử” rồi lại “xuất”, Nguyễn Hàng đã sống trọn đời trong cảnh ẩn dật, chưa
hề có lấy một thời gian ngắn ra làm quan với một triều đại hay một tập đoàn phong kiến nào.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là khảo sát loại hình nhà nho ẩn dật Việt
Nam. Đặc biệt đi sâu vào khảo sát các nhà nho ẩn dật tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn
Hàng.
Ngoài ra, chúng tôi còn chú ý bám sát các tài liệu như: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ
XVIII của Đinh Gia Khánh (chủ biên) - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là tập trung khảo sát loại hình nhà nho ẩn dật
Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
4. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Khảo sát loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI” chúng tôi
sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp
- Thi pháp học
- Tự sự học
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác để hoàn thành đề tài.
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài PHẦN MỞ ĐẦU và PHẦN KẾT LUẬN, bài báo cáo tốt nghiệp của chúng tôi được chia
thành các chương sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Chương 2. Sự thể hiện của loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
Chương 3. Nghệ thuật biểu hiện của loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Về kiến trúc thì có chùa Tây Phương, đình Đình Bảng, chùa Bút Tháp…rồi những bức phù điêu trong các
đình chùa như lao động, sân bắn, vui chơi, chèo thuyền…với nghệ thuật độc đáo, phong cách dân gian đã
chứng tỏ tài hoa của nghệ nhân tạo hình.
Những hình thức sinh hoạt văn hóa quen thuộc của nhân dân như: đánh vật, đấu võ, đánh đu… phổ biến
khắp Đàng Trong và Đàng Ngoài. Âm nhạc và ca múa phát triển hơn trước.
Đặc điểm nổi bậc của văn hóa nghệ thuật dân tộc trong thời kỳ này là sự thoát ra ngoài những khuôn
khổ chính thống, là sự phục hồi và phát triển những truyền thống dân gian.
Nhìn chung, bất chấp sự khủng hoảng của chế độ phong kiến, dân tộc ta vẫn tiến lên dần trong sự
nghiệp mở mang đất nước và nâng cao nền văn hóa dân tộc. Điều đó tác động mạnh đến sự phát triển của
văn học, đặc biệt là văn học viết bằng chữ Nôm.
1.1.3. Tình hình văn học
Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII thực sự mở đầu sau những năm thịnh đạt
cuối cùng của triều đại Lê sơ và kết thúc trước thời kỳ bùng nổ cao trào khởi nghĩa nông dân vào những
năm bốn mươi của thế kỷ XVIII.Đây là một giai đoạn văn học của thời kỳ quốc gia độc lập, nhưng lại là
vào lúc bắt đầu có sự suy thoái của chế độ phong kiến. Cho nên diện mạo, tính chất, đặc điểm,…của văn
học có những biến đổi quan trọng. Lực lượng sáng tác trong giai đoạn văn học này vân là trí thức mang ý
thức hệ phong kiến. Nhưng nếu trước kia lực lượng đó chủ yếu là nho sĩ quan liêu đang cư quan, nhiệm
chức ở triều đình, thì nay lại gồm thêm nhiều nho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân sống ở thôn dã. Các tác phẩm
có giá trị của văn học viết thời này hầu hết là do những nho sĩ viết ra.
Về mặt nội dung, văn học viết từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, một mặt kế thừa những truyền
thống của giai đoạn trước, một mặt chuyển hướng dần trước tình hình mới. Chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa nhân đạo vẫn là nội dung quan trọng của văn học.
Phát triển trong những điều kiện xã hội mới, xu hướng chung của văn học viết đã đổi khác. Những
tác phẩm ca ngợi triều đình, bảo vệ chế độ, thỏa mãn với hiện thực thường chứa đựng nhiều yếu tố tiêu cực.
Ngược lại những tác phẩm phê phán chế độ phong kiến mục nát và triều đình hủ bại, tố cáo tệ lậu của xã hội
phong kiến thì thường có nội dung tích cực, tiến bộ.
Nội dung dân tộc được mở rộng. Bên cạnh các chủ đề, đề tài đã thấy giai đoạn trước, xuất hiện nhiều
chủ đề, đề tài mới. Với thơ văn Nôm thì những chủ đề, đề tài mới là màu sắc dân tộc rõ nét hơn so với văn
thơ chữ Hán. Trong xu thế ấy, phải kể đến bước phát triển mới của văn học chữ Nôm với sự trưởng thành
dần của ngôn ngữ văn học dân tộc và sự phát triển mạnh mẽ của thể loại văn học dân tộc, trong đó ưu thế đã
tình cảm lớn đối với dân tộc, và từ đó thể hiện niềm tin ở tiền đồ của Tổ Quốc.
1.2.2. Khuynh hướng thỏa mãn với hiện thực và ca tụng các vương triều
Bên cạnh khuynh hướng văn học yêu nước thì phải kể đến khuynh hướng văn học thỏa mãn với hiện
thực và ca tụng vương triều. Đây là một khuynh hướng của văn học viết trong suốt thời kỳ phong kiến. Từ
thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, nội dung vơ bản của khuynh hướng văn học này không đổi, nhưng ý
nghĩa tích cực của nó không còn nhiều vì đối tượng nó ca tụng đã dần dần mất tác dụng lịch sử tích cực. Từ
thế kỷ XVI trở đi thì tư tưởng ca ngợi chế độ phong kiến, thỏa mãn với thực tại đã có phần lỗi thời, mâu
thuẫn với tư tưởng yêu nước.
Đầu thế kỷ XVI, Lê Đức Mao trong khúc ca Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào, ca tụng chính
sách huệ dân của triều đình qua việc thể hiện cuộc sống hòa bình thịnh vượng ở nông thôn:
“Mừng xuân, xuân yến, xuân ca,
Bốn dân mưa huệ, trăm nhà gió huân.
Rồi từ đó nhờ ân cấp túc,
Tiếng quảng huyền nô nức nhân gia.”
Bùi Vịnh trong bài phú Nôm Cung trung bảo huấn chẳng hạn vừa ca ngợi triều Mạc:
“Thương sinh bốn bể chiêu an; hoàng cực chính lần áo rủ.
Thôi văn đốc vũ, việc ngoại đình đều đã được sửa sang,
Cõi hóa ngàn nhân, tôi nội đài sá ư dạy nhủ”
Trong thời kỳ mà có nhiều biến cố liên tiếp diễn ra, không ít nho sĩ đi theo tập đoàn phong kiến để
mưu cầu quan cao, bổng hậu. Một số thì vẫn kiên trì ra làm quan để “dương danh hiển thân”. Nhưng công
danh đó phải đạt đến một cách chính đáng, bằng ý thức trách nhiệm. Tác phẩm của họ là tiếng nói của
nhũng con người có lý tưởng, có lòng yêu nước lo đời. Đó là thơ văn của Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ
đều là kẻ sĩ có bản lĩnh, chí khí, trọng danh giáo.
“Quét sạch mây mù ai đó nhỉ,
Ung dung định lại bốn phương trời”
(Phùng Khắc Khoan)
“Chốn này thiên hạ đời dùng,
Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời.
Chúa hay dùng đặng tôi tài,
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên”
họ không thực hiện được. Cực chẳng đã, họ đành phải “lánh đục về trong” bằng con đường ẩn dật, vui với
đạo lý trong cảnh thanh bạch. Ở ẩn để tránh vòng danh lợi, để giữ mình, yên thân, di dưỡng tính tình, giữ
tròn khí tiết. Vì thế chữ “nhàn” trở thành lẽ sống.
Trong khi tố cáo chế độ phong kiến và phê phán những sai trái của kẻ cầm quyền, nho sĩ ẩn dật
thường đặt vấn đề trên bình diện đạo đức.
Từ thế kỷ XVI trở đi, chế độ phong kiến bắt đầu suy vi, áp bức bóc lột ngày càng nặng nề, chiến
tranh diẽn ra triền miên, đời sống nhân dân bần cùng, cơ cực. Trật tự và đạo đức phong kiến bị phá hoại
ngay từ trong nội bộ giai cấp phong kiến, danh phận rối loạn, cương thường đổ nát. Thêm vào đó, đồng tiền
và lối sống thị dân đã phá hoại đạo lý. Là những người lánh đục về trong, nhưng không hoàn toàn quên đời,
nho sĩ ẩn dật nêu cao đạo lý thánh hiền, hy vọng chấn chỉnh lại kỷ cương, xây dựng lại chế độ thông qua
việc cải thiện phẩm chất con người. Và đạo lý trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong tác phẩm
của họ. Trong đó Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại biểu nổi bật nhất của thơ văn đạo lý. Nguyễn Dữ trong nhiều
truyện muốn khẳng định lại lễ giáo.
Nhìn chung, trong lịch sử văn học dân tộc, chưa có một giai đoạn nào mà khuynh hướng ẩn dật phát
triển mạnh mẽ và trở thành khuynh hướng chủ đạo như trong giai đoạn văn học thế kỷ XVI, XVII. Gía trị
chủ yếu của các tác phẩm văn học có khuynh hướng ẩn dật là phát huy chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc. Do
sông gần nhân dân nên nho sĩ ẩn dật đã phản ánh được hiện thực đương thời trong các phẩm của mình. Văn
học có khuynh hướng ẩn dật còn là lời khước từ công danh, phú quý, là tiếng ca trong trẻo của những con
người an nhiên, tự tại, yêu lẽ phải, trọng đạo nghĩa.
1.3.Các nhà nho ẩn dật tiêu biểu Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
1.3.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là
xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Sinh trưởng trong một gia đình vọng tộc (cháu ngoại
quan thượng thư Nhữ Văn Lan) có học vấn, cả hai thân mẫu đều là những người có văn tài học hạnh nên
Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Nhất là phụ mẫu của Nguyễn Bỉnh
Khiêm, tương truyền bà là người giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tướng số. Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh
Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà đã dốc lòng đào tạo con trai
thành một tài năng giúp nước, cứu đời. Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm được thầy
học có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh từ nhỏ, lại gặp
thầy giỏi khác nào như rồng gặp mây. Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm thành tài năng kiệt xuất nổi tiếng. Và sau
tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới
được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi
đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút
Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa
Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý
Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm,
có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh
hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh
Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền
suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước
đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI.
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ.
Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những
câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ
hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở
làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi
truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các
truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc.
Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ , tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê
phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm
nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí
đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy
sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư
sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là
phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của
ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số
phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị
Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì
số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng
và viết lại những truyện trong Lĩnh Nam chích quái. Thiên Nam cổ tích,… tức là những truyện dân gian,
chắc chắn Nguyễn Hàng đã có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của văn học dân gian ở địa phương
nhà văn cư trú. Cũng như Vũ Quỳnh, Kiều Phú và nhiều nhà nho khác, quan niệm của Nguyễn Hàng khi
biên soạn truyện cổ dân gian là quan niệm của nhà nho, với tinh thần dân tộc và quan điểm đạo lý kiểu Nho
gia, do đó hạn chế là khó tránh và chắc Nguyễn Hàng không thể trung thành tuyệt đối với các truyện dân
gian. Song mặt tích cực vẫn là chủ yếu.
Chương 2. Sự thể hiện của loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
2.1. Hình tượng người ẩn dật
2.1.1. Lối sống ẩn dật của các nhà nho
Như chúng ta đã biết, những người ẩn dật đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo. Họ đi theo
học thuyết Lão Tử là sống ẩn dật, xa lánh cuộc đời. Nhưng mỗi người chọn cho mình một cách sống ẩn dật
khác nhau, và mang những đặc trưng riêng của mình. Một số người ra làm quan do bất lực trước thời cuộc
nên lui về ở ẩn để vui thú với thiên nhiên thoát khỏi những vòng danh lợi tầm thường. Một số người lại chọn
đường ẩn dật để giữ tròn khí tiết kẻ sĩ trong thời loạn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số rất nhiều nhà thơ ẩn dật thời kì văn học trung đại, thế nhưng
ông lại mang nhiều suy nghĩ khác nhau, và mang đặc trưng riêng của mình.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỷ XVI, trong thời kỳ diễn biến sự suy thoái của chế độ
phong kiến. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan ở nhà Mạc được 8 năm thì xin từ quan về ở ẩn. Lý do ông xin
về ở ẩn là ông dâng sớ xin chém 8 lộng thần nhưng không được vua chấp nhận.
Trở về Trung Am, ông cho xây dựng Bạch Vân, lấy đạo hiệu Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân
bên dòng sông Tuyết để dạy học trò. Học trò ông có nhiều người lỗi lạc như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc
Khoan… Nguyễn Bỉnh Khiêm yêu mến cảnh thôn quê yên tĩnh, thanh bạch. Thời gian ở ẩn ông có điều kiện
được gần nhân dân, hiểu về đời sống lam lũ, vất vả của nhân dân. Qua đó ông hiểu thêm nếp sống chất phác
giản dị cũng như nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chính vì thế lâu nay người ta thường xem Nguyễn
Bỉnh Khiêm là một ẩn sĩ tiêu biểu ở thế kỷ XVI.
Điều tuyệt diệu nhất, khi nói về Nguyễn Dữ so với các nhà Nho ẩn dật khác thời trung đại như Trần
Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Ngô Thế Lân hay Nguyễn Khuyến chính là: từ sự bất đắc chí, bất hợp tác với
triều đại đương thời, Nguyễn Dữ đã nhanh chóng chuyển ẩn dật trở thành một lẽ sống, một lối sống, một
cách thế sống của ông. Và ở đây, danh Nho Nguyễn Dữ khá thoả mãn, yên tâm và yên tĩnh với lối sống đó
cho đến suốt cuộc đời. Sáng tác của ông theo đó mà không mang cái cảm xúc dằn vặt đến đớn đau, khắc
viết theo thể tự do, với bút pháp lãng mạn và phóng khoáng tự cốt cách, khí khái phóng túng của người ẩn
dật:
“Thích gì?Ta thích ngủ thôi
Vì chưng ngủ được trong người sởn sang
Nhân duyên xe chặt giường màn
Trúc mai rừng suối muôn vàn cảnh thanh
Quanh mình bạn đỏ hầu xanh.”
(Thích ngủ)
“Thích gì? Ta thích cờ thôi
Gió mây biến hoá ai ôi lạ lùn,
Ngày vui thời khắc êm đưa
Trăng tà hương lạnh trúc ngơ ngẩn cành.”
(Thích cờ)
Khác với nhiều nho sĩ “xuất” rồi lại “xử”, hoặc “xử” rồi lại “xuất” Nguyễn Hàng đã sống trọn đời
trong cảnh ẩn dật, chưa hề có lấy một thời gian ngắn ra làm quan với một triều đại hoặc một tập đoàn phong
kiến nào. Nguyễn Hàng đã phải chọn đường ẩn dật để giữ tròn khí tiết kẻ sĩ trong thời loạn.
Phong độ khí tiết cao của ông cũng không hiếm trong trí thức “tỵ, trọc đãi thanh” thời ấy. Có điều,
vẫn với thái độ và tâm trạng của nho sĩ ẩn dật, mà ở Nguyễn Hàng, lại có những nét riêng ít thấy ở những
tác giả ẩn dật khác. Đó là thái độ an nhiên “cầm quật lá xênh xang, quẩy túi tơ xốc xếch”, là niềm tự hào
“cảnh hẹp lòng càng rộng, nhà thấp đạo càng cao”… Những nét riêng ấy chính là đặc điểm phong cách
Nguyễn Hàng. Phong cách ấy một phần là do tác giả chịu ảnh hưởng Phật giáo, Đạo giáo.
2.1.2. Nhà nho ẩn dật lên án, tố cáo xã hội phong kiến
Cũng như các nhà nho ẩn dật ở những thời kỳ khác, các nhà nho ẩn dật thế kỷ XVI như Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng… đều lui về ở ẩn để lánh đục về trong bảo toàn danh tiết và chí
khí. Nhưng về ở ẩn, thân nhàn mà tâm không nhàn, suốt đời lo nước thương dân. Qua các nhà nho ta sẽ thấy
rõ tiếng nói phản đối chiến tranh phong kiến và vạch trần chế độ chính trị đen tối của xã hội phong kiến.
Trước hết, phải nói đến danh Nho Nguyễn Dữ, ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã xuất
sĩ. Về sau, có lẽ vì “đại thế bất an”, vì bất mãn với kẻ đương quyền, lấy lí do phải phụng dưỡng mẹ già cho
tròn đạo hiếu, Nguyễn Dữ lui về ẩn dật, viết Truyền kỳ Mạn Lục để ký thác tâm sự, thể hiện hoài bão của
mình.
Lẫm dữu vô dư túc.
Lao phí nông phu thán,
Cơ tích điền phụ khấp”
(Thơ chữ Hán: Tăng thử)
Trong bài Cảm hứng, cũng có phần miêu tả đời sống cơ cực của nhân dân khi thời thế xoay vần, tựu
trung cũng ngụ ý phê phán những tệ lậu xã hội.
Lưu ly, chết chóc, đói khổ, cảnh sống của dân thật là thê thảm. Nhân dân không được an cư lập
nghiệp, lại còn lâm vào vòng nước, lửa, giặc, cướp, mắc phải những tai vạ tầy trời, thì tội ác ở kẻ cầm
quyền. Và Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn tiếng phê phán chiến tranh phong kiến:
“Cổ lai nhân giả thị vô địch
Hà tất khu khu sự chiến tranh”
(Thơ chữ Hán: Hữu cảm)
Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu cao nhân nghĩa, hòa bình, vạch trần sự vô lý của cảnh tàn sát do bọn phong
kiến gây ra, tố cáo những kẻ thích theo đuổi chiến tranh, làm cho nhân dân khổ sở, điêu đứng. Ông “tỏ tình
thương xót”, và thông cảm với nỗi đau khổ của nhân dân:
“Cư ốc chiết vi tân,
Canh ngưu đồ nhi thực.
Nhương đoạt phi kỷ hóa,
Hiếp dụ phi kỷ sắc.
Kiến hãm trọng đồ thán,
Sở quá sinh kinh cức.
Tiều tụy tư vi thậm”
(Thơ chữ Hán: Thương loạn)
Thấy được bản chất phi nghĩa của chiến tranh phong kiến, và những tệ lậu của xã hội này, phản đối,
phê phán thứ chiến tranh ấy, thông cảm với nỗi đau thương, tang tóc của dân do những cuộc nội chiến kéo
dài gây ra, mong mỏi thái bình cho đất nước, an lạc cho dân lành; đó là thái độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Dữ nói riêng và các nhà nho ẩn dật cùng thời nói chung đối với chiến tranh phong kiến kéo dài ở
thế kỷ XVI.
2.2. Hình tượng thiên nhiên
2.2.1. Hình tượng thiên nhiên trong đời sống sinh hoạt
Yêu thay miền thôn tịch!
Cư xử dầu lòng;
Ngao du mặc thích.
Khéo chiều người mến cảnh yên hà;
Dễ quyến khách vui miền tuyền thạch,
Xó xỉnh góc trời, mom đất, một bầu thu cảnh mọn hẹp hòi;
Áy o ruộng núi, vườn đèo, bốn mùa đủ thú vui cọc cạch”
(Nguyễn Hàng)
Dưới ngòi bút của ông, những cảnh vui tai đẹp mắt ở vùng sơn dã trở nên quyến rũ lạ thường. Những
cảnh ấy làm cho cuộc sống thêm ý vị, nhộn nhịp:
“Dấu ngựa xe chẳng đến, cỏ bén hơi xuân;
Bạn viên hạc quen tìm, hoa cười đón khách…
Rườm rà hàng cổ thụ, lồng những tán dù;
Quanh quất dải kỳ phong, bao làm thành quách.
Vượn chào hòa khướu hót, cách ngàn đưa khúc xướng khúc ca;
Suối chảy lẫn thông reo, bên tai dõi nhịp đàn nhịp phách.
Chợ chân trời mây họp đùn đùn;
Chày sườn núi nước đâm thình thịch”
(Nguyễn Hàng)
Nguyễn Hàng đã đem cái phong vị quê hương tươi mát, mộc mạc, bình dị, tự nhiên vào tác phẩm
văn học. Đó là do nhà văn sống gần dân, có cảm tình với dân, gần thiên nhiên, có lòng yêu thiên nhiên.
Không chỉ nguyễn hàng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc
lộ quan điểm sống của mình, những suy nghĩ gắn kết với quan điểm đạo lý của nhân dân, thể hiện một nhân
sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. “Nhàn” là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại,
lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trọng sạch. Hành trình hướng nhàn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân.
Với niềm yêu mến thiên nhiên tha thiết, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như Nguyễn Hàng đã viết nên
những lời thơ mỹ lệ, tươi mát, hồn hậu thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên và yêu mến cuộc đời sâu nặng.
2.2.2. Hình tượng thiên nhiên trong những triết lí
Ngoài hình tượng thiên nhiên thể hiện những sinh hoạt đời sống bình thường còn có hình tượng
đầy sức sống:
“Cày lũng tuyết sớm giong đủng đỉnh, trải thung chè,
trèo đèo sở, nẻo tắt hình gối hạc ngẳng nghiu;
Hái củi mây hôm quảy xênh xang, qua dặm liễu,
tới ngàn sam, đường uống khúc ruột dê ngóc ngách.
…vũng con con thả muống một bè;
…vườn mọn mọn trồng huyên mấy rạch.
Cảnh chắt chiu nương đậu ngương khoai;
Mùa đắp đổi hàng kê hàng mạch”
(Nguyễn Hàng)
Thơ của ông cũng có một sự gắn bó, hòa hợp giữa con người và cảnh vật, người coi cảnh như bạn bè
thân thiết, cảnh giúp người quên được những nỗi ưu tư:
“Khách nhàn họp ba chồi cúc muộn, đứng dựa bên thềm;
Bạn lão sum mấy gốc mai già, chen kề tận ngạch.
Gió nhân là quạt mát, điểm trần ai thay thảy tan không;
Nước trí ấy gương trong, niềm tục lụy lâng lâng rửa sạch”
(Nguyễn Hàng)
Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Hàng đã thụ hưởng những ưu đãi của thiên nhiên để đưa ra những
triết lí sống cũng như những tình cảm sâu kín của mình vào trong thơ, tạo nên những phong cách riêng cho
các nhà nho mà không lẫn vào đâu được.
2.3. Cảm hứng chủ đạo của nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI
2.3.1. Chí hướng nhàn ẩn
Các nhà nho ẩn dật vừa có lòng lo đời nồng nhiệt nhưng cũng vừa hết sức ca ngợi và tâm đắc cái
nhàn. Hai điều đó tưởng như mâu thuẫn, khó có thể tồn tại nhưng thực ra nó là một tâm trạng tất nhiên phản
ánh sự phân hóa tư tưởng một cách phức tạp của tầng lớp trí thức phong kiến thế kỷ XVI. Ở Nguyễn Trãi tư
tưởng yêu nước thương dân, chủ nghĩa hành động tích cực là mặt nổi trội, chữ nhàn chìm xuống thứ yếu.
Thời ấy qua rồi, sang thế kỷ XVI xã hội tạo điều kiện cho đa số trí thức có nhân phẩm phải tìm đến cái nhàn
và nhiều lúc coi nó là cứu cánh của đời mình.
Nguyễn Hàng là nhà văn chọn con đường ẩn dật để giữ tròn khí tiết kẻ sĩ trong thời loạn. Chữ
“nhàn” ở Nguyễn Hàng trước hết thể hiện nhân cách con người ông:
công danh sự nghiệp, với thế thái nhân tình, mà vẫn ưu thời mẫn thế thì lý do và thái độ đi tìm cảnh nhàn
vẫn không ra ngoài quan niệm “hành tàng”, “xuất xử”, “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư” của Nho
học:
“Lý tong phí ẩn sát hồ thiên
Ngư dược diên phi khế tự nhiên”
(Thơ chữ Hán: Trung Tân quán ngụ hứng)
Không thể đánh giá cao mà lại cần phê phán lối sống nhàn tản, giữ mình, yên thân của nhà thơ
giữa lúc đất nước đang loạn lạc, nhân dân đang lầm than. Nhưng cũng cần thấy ước vọng nhàn tản tong thơ
văn Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là ước vọng của người vô trách nhiệm. “Nhàn” không có nghĩa là lười
nhác, ăn không ngồi rỗi. “Nhàn” nghĩa là giữ cho tâm hồn lúc nào cũng yên tĩnh trong trẽo, hài hòa. “Nhàn”
xét đến cùng là giữ tròn thanh giá của mình trong thời loạn, là không để dục vọng xấu xa làm mờ ám lương
tâm, làm vẫn đục tâm hồn… Cho nên “nhàn” mà tấm lòng ưu quốc ái dân không bao giờ nguội lạnh.
2.3.2. Những triết lý sâu sắc
Chương 3. Nghệ thuật biểu hiện của loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ
XVI
3.1. Không gian và thời gian nghệ thuật
3.1.1. Không gian nghệ thuật
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái quát nhất, chúng tôi xin
được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Không gian nghệ thuật là
hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó.
Trần Đình Sử lí giải thêm: Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật. Ông
còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn: Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian,
không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó, và không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo
của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật. Không gian nghệ
thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho
thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ
sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì
vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.
3.2.2. Nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, với những hình ảnh có sẵn trong cuộc sống hiện thực
Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chương trung đại, thơ văn của các nhà nho ẩn dật vẫn
mang tính uyên bác và sử dụng các hình tượng tượng trưng ước lệ. Tất cả những từ ngữ trong thơ văn các
nhà nho luôn gợi tả, độc đáo nhưng câu thơ vẫn tự nhiên trong sáng và gần gũi với cuộc sống hiện thực. Đặc
biệt trong thơ văn các nhà nho có màu sắc giản dị, mộc mạc, hầu hết là từ gốc Việt, với phong cách dân
gian, và rất gần khẩu ngữ hàng ngày của nhân dân:
“Cá tôm hôm chác bên kia bến,
Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thơ chữ Nôm: Bài 38)
“Xó xỉnh góc trời mom đất, một bầu thu cảnh mọn hẹp hòi;
Áy o ruộng núi vườn đèo, bốn mùa đủ thú vui cọc cạch”
(Nguyễn Hàng - Tịch cư ninh thể phú)
Bên cạnh đó, các nhà nho còn khai thác những từ lấp láy có giá trị biểu cảm cao, làm cho hình tượng
thơ thêm nhịp nhàng, cân đối, uyển chuyển,gợi tả, sinh động:
“Gìau chĩnh chện, khó lay thay,
Vận chuyển lưu thông há của ai”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thơ chữ Nôm: Bài 2)
“Ép dưa măng, mài bột củ, những giao cho mụ lão lom khom;
Quét sân lá, hái nương dâu, dầu phó mặc thằng đồng lách chách”
(Nguyễn Hàng - Tịch cư ninh thể phú)
Qua đây ta thấy được, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Hàng luôn đưa những hình ảnh quen thuộc,
gần gũi với đời sống hiện thực như “củi đuốc”, “cá tôm”, “dưa măng”, “nương dâu”… vào thơ một cách
tinh tế làm cho thơ văn các nhà nho trở nên gần gũi với nhân dân.
C. PHẦN KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Thị Thu Vân(chủ biên) – Lê Chí Viễn – Lê Thu Yến – Lê Văn Lực – Phạm Văn Phúc, Văn học
trung đại Việt Nam (thế kỷ X – Cuối thế kỷ XIX), NXB Giáo Dục.
2. Nguyễn Đăng Na (chủ biên) – Lã Nhâm Thìn – Đinh Thị Khang, Văn học
trung đại Việt Nam (tập 1), NXB Đại học Sư phạm.
3. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Đại học Sư phạm.