hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam - Pdf 23

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN

CHU THị BíCH NGọC
HOàN THIệN Hệ THốNG KIểM SOáT NộI Bộ VớI VIệC
TĂNG CƯờNG KIểM SOáT HOạT ĐộNG HUY ĐộNG VốN
TạI NGÂN HàNG THƯƠNG MạI Cổ PHầN
XUấT NHậP KHẩU VIệT NAM
Chuyên ngành: kế toán, kiểm toán và phân tích
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Phơng Hoa

Hµ néi, n¨m 2011
LỜI CAM ĐOAN
Nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc
lập của học viên và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào.

MỤC LỤC
CHU THÞ BÝCH NGäC 1
CHU THÞ BÝCH NGäC i
CHU THÞ BÝCH NGäC 1
Công tác kiểm soát hoạt động huy động vốn tại các NHTM nói chung và tại
EIB nói riêng phải tuân thủ các quy định, chính sách của Nhà nước, bao gồm:
51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTV : Thanh toán viên
TK : Tài khoản
KKH : Không kỳ hạn
KTKSNB : Kiểm tra, kiểm soát nội bộ
NHTM : Ngân hàng thương mại

thanh toán và giữ chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp.
Trong đó, ngân hàng thực hiện hai hoạt động chính là huy động vốn và cho vay. Hệ
thống kiểm soát nội bộ là một bộ phận không thể thiếu trong ngân hàng, đóng vai
trò chủ chốt đối với kiểm soát công tác huy động vốn với mục tiêu đạt kế hoạch,
hiệu quả và phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, các quy định về kiểm soát nội bộ chưa cụ
thể, chưa chặt chẽ, khả năng kiểm soát rủi ro chưa cao trong hoạt động huy động
vốn tại các ngân hàng nói chung và tại Eximbank nói riêng. Vì vậy, Tác giả chọn đề
tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát huy
động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam” để
nghiên cứu và viết Luận văn Thạc sĩ của mình.
Trong Chương 1, Tác giả đưa ra định hướng nghiên cứu Luận văn về Mục
tiêu nghiên cứu, Phạm vi nghiên cứu, Câu hỏi nghiên cứu, Phương pháp nghiên
cứu, Ý nghĩa của Đề tài nghiên cứu và Kết cấu của Luận văn nghiên cứu.
Trong Chương 2, là cơ sở lý luận được đưa ra để vận dụng, giải quyết vấn
đề nghiên cứu Luận văn. Trước hết, Tác giả trình bày sơ qua về vai trò và chức
năng của ngân hàng thương mại; từ đó nêu lên ra những nội dung và nguyên nhân
các loại rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng; Sau đó là về hoạt
động huy động vốn tại ngân hàng thương mại gồm: khái niệm, vai trò, nguồn hình
thành nên nguồn vốn và những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn. Từ
đó, Tác giả đi sâu về hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát hoạt
động huy động vốn tại các NHTM mà trước hết là tìm hiểu khái niệm, các yếu tố cơ
bản và chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ, sau đó phân tích hệ thống kiểm
soát nội bộ với việc kiểm soát hoạt động huy động vốn tại NHTM, thể hiện qua các
yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm: Thứ nhất, Môi trường kiểm soát (đó
là, triết lý và phong cách điều hành của Ban giám đốc-Hội đồng quản trị; cơ cấu tổ
chức; chính sách nhân viên; công tác kế hoạch; môi trường bên ngoài); Thứ hai, Hệ
i
thống thông tin (bao gồm: Hệ thống chứng từ ban đầu, đây là căn cứ pháp lý về
nghiệp vụ phát sinh, đảm bảo an toàn trong quản lý và giám sát tài sản của ngân
hàng; Hệ thống tài khoản kế toán có tác dụng phản ánh tình hình huy động vốn cũng

Thứ nhất, Về đặc thù quản lý: Ban quản trị Eximbank thực hiện công tác
điều hành chặt chẽ, thống nhất trên toàn hệ thống tuân thủ theo các quy định của
pháp luật, quy định tốt về kiểm soát rủi ro trong huy động vốn, khẳng định vai trò
quản trị điều hành trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng là tích cực, đúng
hướng, đúng trọng tâm, phù hợp với thực trạng, khả năng phát triển nguồn vốn huy
động của Ngân hàng trong từng giai đoạn đồng thời tăng cường hiệu quả trong huy
động vốn.
Thứ hai, Cơ cấu tổ chức đã tạo ra sự tách bạch rõ ràng chức năng nhiệm vụ
của từng phòng, ban, bộ phận trong hoạt động kiểm soát huy động vốn; đồng thời
có sự ăn khớp nhịp nhàng giữa các đơn vị; hỗ trợ nhau trong công tác huy động
vốn; nâng cao tinh thần trách nhiệm ở mỗi phòng ban, bộ phận, cá nhân; điều này
giúp cho EIB tăng khả năng kiểm soát huy động vốn, đồng thời nâng cao hiệu quả
công tác huy động vốn.
Thứ ba, Chính sách nhân sự: Chất lượng công tác tuyển dụng, đào tạo, sử
dụng cán bộ ngày càng được nâng cao và EIB đã xây dựng hoàn thiện có hệ thống
văn bản thống nhất quy định chi tiết về Chính sách nhân sự. Hàng năm, EIB đều tổ
chức thi tuyển cán bộ một cách công khai, minh bạch nhằm tuyển dụng được nhân
viên giỏi để bổ sung nhân lực cho toàn hệ thống. EIB cũng thường xuyên tổ chức
các chương trình đào tạo cho cán bộ, nhân viên với nội dung nâng cao khả năng xử
lý nghiệp vụ và quản lý thông tin, tránh sơ suất, qua đó xây dựng tác phong làm
việc chuyên nghiệp cho nhân viên; đồng thời đánh giá chất lượng cán bộ chính xác,
công bằng và đưa ra các chính sách đãi ngộ, khen thưởng phù hợp.
Thứ tư, Việc lập và thực hiện kế hoạch huy động vốn tại EIB được
tiến hành khá nghiêm túc, đầy đủ và tương đối khoa học. Công tác xây dựng
kế hoạch huy động vốn được thực hiện dưới sự phối hợp của nhiều phòng ban
liên quan của Hội sở cũng như của Chi nhánh, Phòng giao dịch. Do vậy, kế
hoạch huy động vốn được lập khá sát với thực tế, phù hợp với khả năng phát
triển của EIB trong từng giai đoạn.
iii
Thứ năm, EIB đã xây dựng được một hệ thống thông tin tương đối đầy

Thứ ba, về công tác kế hoạch: việc triển khai và kiểm soát tình hình thực
hiện theo cơ cấu chưa được coi trọng; công tác kế hoạch chưa đạt hiệu quả trong
kiểm soát tính bền vững của nguồn vốn huy động: tỷ trọng vốn huy động tiết kiệm
của ngân hàng EIB có xu hướng giảm mạnh trong tổng nguồn vốn huy động của
ngân hàng, là nhóm khách hàng mục tiêu có nguồn vốn mang tính ổn định cao.
Thứ tư, về thủ tục kiểm soát lãi suất huy động vốn: Với quy trình kiểm soát
lãi suất tại EIB, khiến cơ chế lãi suất chưa thực sự linh hoạt, mất nhiều thời gian để
đưa ra mức lãi suất đàm phán với khách hàng.
Thứ năm, về công tác giới thiệu sản phẩm huy động vốn tới khách hàng chưa
có sự đổi mới và không có tính cạnh tranh cao trong phương tiện truyền tải thông
tin sản phẩm tới khách hàng.
Thứ sáu, về chính sách chăm sóc khách hàng: chủ yếu tập trung đối tượng là
khách hàng VIP; các đối tượng như khách hàng ruột, hay khách hàng tiềm năng vẫn
chưa có chế độ chăm sóc hợp lý và chi phí đầu tư cho hoạt động này chưa xác đáng.
công tác điều tra khách hàng mang tính định kỳ không phải thường xuyên, còn Sản
phẩm, dịch vụ mới được đưa ra theo ý kiến một phía từ ngân hàng. Ban quản lý chưa
thiết lập một hệ thống chính sách hợp lý, cũng như đưa ra các thủ tục kiểm soát trong
hoạt động chăm sóc khách hàng còn sơ sài, thiếu linh hoạt và đầu tư thích đáng.
Thứ bảy, Về công tác kiểm tra-kiểm soát: số lượng cán bộ, nhân viên của
bộ phận kiểm tra - kiểm toán nội bộ còn ít; đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra
- kiểm toán nội bộ chưa có tính chuyên môn hoá cao, kiến thức, sự hiểu biết về
các nghiệp vụ liên quan đến công tác kiểm soát hoạt động huy động vốn còn
chưa sâu, chưa đầy đủ; hiệu lực của công tác kiểm tra - kiểm toán nội bộ chưa
cao; quyền lợi của bộ phận kiểm tra - kiểm toán nội bộ nhiều khi được quyết
định bởi bộ phận bị kiểm tra.
Trong Chương IV, trên cơ sở đánh giá những yếu kém còn tồn tại ở chương
trước và khái quát phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc
tăng cường kiểm soát hoạt động huy động vốn tại Chương này, Tác giả đã đề xuất
ba nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm
soát hoạt động huy động vốn, cụ thể là:

kiểm tra - kiểm toán nội bộ như: cán bộ, nhân viên phải có trình độ tối thiểu là tốt
vi
nghiệp đại học đúng chuyên ngành, có thâm niên hoạt động trong EIB tối thiểu ba
năm hoặc trong lĩnh vực được kiểm toán tối thiểu một năm, có lý lịch công tác tốt,
được cán bộ quản lý cũ đánh giá tốt về năng lực và khả năng nắm bắt tình hình,
nhanh nhạy với sự việc. Ngoài ra, các cán bộ, nhân viên làm công tác kiểm tra -
kiểm toán nội bộ của EIB cần được đào tạo kiến thức về kiểm toán và kiểm toán nội
bộ thông qua các chương trình đào tạo cụ thể, có hệ thống và nên được tiến hành
hàng năm. Ngân hàng cũng cần mời các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ
tham gia các khoá giảng dạy, tư vấn, hỗ trợ trong việc đào tạo nhân viên kiểm toán
nội bộ và học tập kinh nghiệm của các ngân hàng trong và ngoài nước trong lĩnh
vực tổ chức kiểm toán nội bộ.
vii
Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN

CHU THị BíCH NGọC
HOàN THIệN Hệ THốNG KIểM SOáT NộI Bộ VớI VIệC
TĂNG CƯờNG KIểM SOáT HOạT ĐộNG HUY ĐộNG VốN
TạI NGÂN HàNG THƯƠNG MạI Cổ PHầN
XUấT NHậP KHẩU VIệT NAM
Chuyên ngành: kế toán, kiểm toán và phân tích
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Phơng Hoa

Hµ néi, n¨m 2011
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.

kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng và là cánh tay đắc lực thực
hiện các mục tiêu điều hành nguồn vốn trong nền kinh tế của Ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam trong từng thời kỳ, góp phần quan trọng cho nền kinh tế có sự phát triển ổn
định và bền vững.
Tuy nhiên, các quy định về kiểm soát nội bộ chưa cụ thể, chưa chặt chẽ, khả
năng kiểm soát rủi ro chưa cao trong hoạt động huy động vốn. Việc hoàn thiện và
nâng cao năng lực của hệ thống kiểm soát nội bộ giúp phòng ngừa và giảm thiểu rủi
ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và tăng cường kiểm soát hoạt động huy
động vốn nói riêng đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt
Nam là hết sức cần thiết để đảm bảo an toàn tài sản; ổn định trong hoạt động kinh
doanh; nâng cao hiệu quả quá trình huy động vốn và sử dụng vốn; tuân thủ pháp luật
của Nhà nước và các quy trình, quy định do Ngân hàng đưa ra; giúp nhà quản lý thực
hiện việc giám sát, quản lý công tác huy động vốn dễ dàng và chặt chẽ hơn; đồng
thời, cũng giúp cho cá nhân người lao động hạn chế và giảm bớt những sai sót xảy ra
trong các nghiệp vụ hàng ngày nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam.
Vì vậy, tôi chọn Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng
cường kiểm soát huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập
khẩu Việt Nam” để nghiên cứu và viết Luận văn Thạc sĩ của mình.
1.2 Tổng quan về Đề tài nghiên cứu
Đã có một số đề tài nghiên cứu có liên quan với Đề tài này, trong các đề tài đó
có đề tài nghiên cứu về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam:
Năm 2005, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Mai nghiên cứu Đề tài: “Phát triển cho vay
tài trợ xuất nhập khẩu có bảo hiểm tỷ giá tại Eximbank chi nhánh Bình Dương”.
2
Mục đích nghiên cứu đề tài: Đánh giá các rủi ro khi doanh nghiệp xuất khẩu và
nhập khẩu mà không bảo hiểm tỷ giá; Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển
chương trình cho vay tài trợ xuất nhập khẩu có bảo hiểm tỷ giá trong môi trường nền
kinh tế hội nhập. Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu cơ chế cho vay tài trợ xuất nhập
khẩu có bảo hiểm tỷ giá tại Eximbank CN Bình Dương và ảnh hưởng của tỷ giá hối

hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại; Phân tích, đánh giá thực
trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập
khẩu-Chi nhánh Long Biên ; Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu
dùng ở Eximbank Long Biên. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: căn cứ vào ba mục
tiêu trên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình tập trung vào hoạt động
cho vay tiêu dùng ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu-Chi nhánh
Long Biên trong 3 năm 2008-2010.
Tác giả Mai Yến Dung nghiên cứu đề tài: “Chất lượng tín dụng Ngân hàng,
hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hà nội”. Mục đích nghiên cứu của
đề tài là đóng góp những ý kiến về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất
lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam-Chi
nhánh Hà nội. Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chất lượng tín dụng tại Chi nhánh
Eximbank Hà nội. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng về
hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Eximbank Hà Nội.
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các tác giả tới nay chưa có đề tài nghiên
cứu nào nghiên cứu về vấn đề kiểm soát hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn Thạc sĩ của mình, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam” với phạm vi nghiên cứu là kiểm soát huy động
vốn tại Hội sở và quá trình thực hiện kiểm soát huy động vốn tại các Chi nhánh và
điểm Giao dịch Eximbank trong năm 2010.
4
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích
thực trạng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam để đưa ra
các đề xuất hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm soát huy động vốn tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam.

Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu Đề tài nghiên cứu;
Chương 2: Lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt
động huy động vốn tại ngân hàng thương mại;
Chương 3: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với Kiểm soát hoạt động huy
động vốn tại NH TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam;
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
với việc tăng cường kiểm soát hoạt động huy động vốn tại NH TMCP Xuất Nhập
khẩu Việt Nam.
6
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ VỚI KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Ngân hàng thương mại với quản lý rủi ro
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại [24][25]
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn
liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác
động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá; Ngược
lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị
trường thì Ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành
những định chế tài chính không thể thiếu được.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của
ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối
giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu.
Ngân hàng thương mại hoạt động với mục đích thu lợi nhuận từ hoạt động huy động
và cho vay vốn: trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, phần chênh
lệch lãi suất chính là lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng thương
mại phục vụ cho nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh
nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng của mình thông qua các hoạt động

2.1.2 Các rủi ro và quản lý rủi ro trong ngân hàng thương mại [26]
Trong hoạt động kinh tế, rủi ro thường được xem là những bất trắc, những
biến cố không có lợi, ngoài sự mong đợi. Rủi ro nhiều khi mang lại những hậu quả
khôn lường. Cũng như bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào, ngân hàng có thể gặp rủi
ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh doanh nhạy cảm, hoạt
động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Do đó,
các nhà quản lý ngân hàng và người lập chính sách cần biết và hiểu những rủi ro để
tìm cách hạn chế nó đến mức thấp nhất có thể.
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status