tóm tắt luận án truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc việt nam - Pdf 23

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Miền núi phía Bắc là khu vực định cư lâu đời và đông đúc của nhiều
dân tộc thiểu số. Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
có những đóng góp quan trọng đối với văn học dân gian các dân tộc thiểu
số Việt Nam nói chung trong đó đặc biệt phải nói đến truyện kể dân gian -
bộ phận đã sớm được sưu tầm và hiện còn lưu giữ một nguồn tác phẩm dày
dặn. Tuy vậy, thành tựu nghiên cứu về bộ phận này còn khá khiêm tốn, ít
ỏi. Đây là khoảng đất trống gợi mở cho những người nghiên cứu muốn tiếp
tục góp sức khám phá vẻ đẹp và giá trị những câu chuyện lung linh nhiều
sắc màu.
Bản thân những người nghiên cứu chúng tôi hiện đang sinh sống và
làm việc tại khu vực miền núi phía Bắc, vì thế, chúng tôi cũng nhận thấy ý
nghĩa sâu sắc của công việc mà chúng tôi đã và đang tiến hành. Chúng tôi
có điều kiện hiểu sâu hơn về một bộ phận văn học dân gian các dân tộc
thiểu số, có cơ sở chỉ ra và lý giải một số nét đặc sắc trong truyện kể dân
gian các dân tộc nơi đây, từ đó, góp phần giữ gìn và phát huy vốn văn hóa,
văn học quý báu vốn còn ẩn sâu chưa được biết đến.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân tích các thể loại, nhóm truyện, type truyện
thuộc bộ phận truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc
nhằm dựng lại diện mạo của bộ phận đặc sắc này.
- Chỉ ra mối liên hệ giữa các thể loại truyện kể và một số nét đặc trưng
trong truyện kể của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
- Tìm hiểu sâu và hệ thống hóa về mối quan hệ giữa đời sống tín
ngưỡng dân gian, thế giới quan, nhân sinh quan và bản sắc văn hóa với quá
trình sáng tạo, phản ánh và lưu truyền truyện kể dân gian các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc.
2

3
5. Đóng góp mới của luận án
- Là công trình khảo sát một cách hệ thống diện mạo truyện kể dân
gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam theo thể loại, kiểu
truyện và hệ thống motif.
- Chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của truyện kể dân gian khu vực miền
núi phía Bắc trong cái nhìn đối sánh với truyện kể của các dân tộc khác ở
các vùng miền khác.
- Chỉ ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc với đời sống văn hóa, tín ngững của các dân tộc.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, Nội dung
chính của luận án được chia làm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về khu vực miền núi phía Bắc và việc nghiên
cứu truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thần thoại và truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc
Chương 3: Truyện cổ tích các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Chương 4: Mối quan hệ và nét đặc trưng của truyện kể dân gian
các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC MIỀN NÚI
PHÍA BẮC
VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm xã hội khu vực miền núi phía Bắc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Miền núi phía Bắc là khu vực có địa hình chủ yếu là đồi núi cao, hiểm
trở, được phân chia một cách tự nhiên thành hai vùng Đông Bắc và Tây
Bắc. Đông Bắc là vùng có nhiều núi cao, cao nguyên xen với những thung
lũng- cánh đồng lòng chảo, những dòng sông dài và nhiều danh lam thắng

tranh văn hóa phản ánh một nền sản xuất nông nghiệp miền núi vùng nhiệt
đới gió mùa. Cư dân thiểu số vùng thấp miền núi phía Bắc thường làm nhà
sàn. Những dân tộc sinh sống ở vùng cao hơn như Hmông, Dao có thể kết
5
hợp nhà sàn với nhà đất, nhà gỗ. Trang phục của các dân tộc miền núi cầu
kỳ và tinh tế bao gồm mũ (khăn đội đầu), áo, quần (váy), thắt lưng, tạp dề,
xà cạp, guốc hoặc dép, vừa đậm đà tính truyền thống vừa có yếu tố hiện đại
tạo ra những ấn tượng riêng góp phần hoàn thiện bức tranh văn hóa đặc sắc.
Tín ngưỡng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc trước hết là tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên, sau là tín ngưỡng đa thần giáo, tín ngưỡng vật tổ dựa trên
niềm tin “vạn vật hữu linh” và một số phương diện chịu ảnh hưởng của
Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Các dân tộc cũng quan niệm vạn vật đều
có hồn, có ma, có thần. Đây là quan niệm điển hình trong nhận thức nhân
dân các dân tộc chi phối mạnh mẽ đến đời sống văn hóa và các sáng tác văn
học dân gian. Lễ hội cũng là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng
bào các dân tộc được tổ chức khá thường xuyên và gắn liền với đời sống
của nhân dân đặc biệt là đời sống sản xuất, phản ánh niềm tin và mơ ước về
một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thành phần các dân tộc thiểu số đa dạng, phong phú đã góp phần tạo
nên bức tranh văn hóa nhiều màu sắc là chứng tích cho sự hiện hữu và gắn
bó với vùng đất này của đồng bào.
1.3. Khái quát về văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc
Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc rất phong
phú và gắn bó chặt chẽ với nhau cùng tồn tại, phát triển tạo nên sự đa dạng
mà thống nhất. Văn học dân gian các dân tộc thiểu số nơi đây chứa đựng
trong nó không khí miền núi, tâm hồn con người miền núi dung dị, chất
phác, cổ sơ. Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gắn
liền với đời sống. Văn học dân gian các dân tộc ở đây được hình thành từ
trong chính cuộc sống lao động, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, phong tục

thiểu số Việt Nam trong đó truyện kể miền núi phía Bắc là một bộ phận.
Từ những năm 80 trở đi, trong nhiều giáo trình, chuyên luận, các nhà
nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu và giới thiệu về truyện kể dân
gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, trong đó có truyện kể các dân tộc miền
núi phía Bắc. Trong các công trình này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành
giới thiệu, phân loại và phân tích các loại, tiểu loại truyện kể dân gian của
7
tất cả các dân tộc thiểu số dọc suốt từ Bắc chí Nam, tiêu biểu có thể kể đến
các công trình như: Lịch sử văn học Việt Nam [56], Văn học các dân tộc
thiểu số (trước Cách mạng tháng Tám) [68], Văn học dân gian Việt Nam
(tập 1) [117], Văn học dân gian Việt Nam [45].
Những năm gần đây, trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc
thiểu số Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã viết phần Dẫn nhập vừa để
tổng kết tình hình sưu tầm, nghiên cứu vừa bổ sung những nhận xét, phân
tích khái quát về các thể loại trong đó có các thể loại truyện kể dân gian của
các dân tộc.
1.4.2.2. Những nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về truyện kể các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc.
Trước hết, chúng tôi quan tâm đến những lời giới thiệu khái quát về
truyện kể của các dân tộc riêng biệt hoặc các nhóm dân tộc trong các công
trình sưu tầm, biên soạn và biên dịch như Lời giới thiệu trong các cuốn
Truyện cổ Tày Nùng [95], Truyện dân gian Thái [9], Truyện cổ Bắc Kạn
[64]…
Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc còn được
các tác giả nghiên cứu trong nhiều bài viết, tiêu biểu như Hình tượng anh
hùng trong truyện dân gian các dân tộc thiểu số miền Bắc [67], Tính cách
của các nhân vật người khỏe trong truyện cổ dân tộc Mèo [133], Hình
tượng người mồ côi trong văn học dân gian Mèo [136], Bước đầu phác họa
hình tượng người khỏe tài ba và hình tượng người lao động thông minh,
mưu trí trong truyện kể dân gian Tày, Nùng [104], Suy nghĩ về một số biểu

1.5. Khái niệm truyện kể dân gian và các thể loại truyện kể dân gian
Truyện kể dân gian là một bộ phận tiêu biểu của văn học dân gian bao
gồm những sáng tác văn học dân gian được tạo thành bởi hai thành phần
chủ yếu là cốt truyện và nhân vật, phản ánh hiện thực cuộc sống một cách
khách quan chủ yếu thông qua phương thức kể và ngôn ngữ văn xuôi.
Truyện kể dân gian là bộ phận có nhiều thể loại nhất so với các loại hình
văn học dân gian khác, trong đó có ba thể loại tiêu biểu là thần thoại, truyền
thuyết và truyện cổ tích. Mỗi thể loại này có những đặc trưng riêng biệt
nhất định về thời điểm xuất hiện, nội dung phản ánh, hình thức phản ánh…
9
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và phân tích khái quát về đặc
trưng các thể loại truyện kể dân gian tiêu biểu trên đây, chúng tôi sẽ tiến
hành công việc phân loại, khảo cứu và khám phá những giá trị ẩn sâu bên
trong của kho truyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
1.6. Khái quát về tư liệu và diện mạo chung truyện kể dân gian các dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Chúng tôi đã tiến hành thống kê từ nhiều tuyển tập văn học dân gian,
văn hóa dân gian, truyện kể của các dân tộc, sau đó phân loại tập hợp
truyện kể vào các thể loại, chú ý khảo sát tối đa những bản kể để phân tích,
chỉ ra những nhận xét mang tính khái quát, hệ thống cũng như bước đầu chỉ
ra được một số đặc trưng của truyện kể các dân tộc thiểu số khu vực miền
núi phía Bắc. Kết quả khảo sát, thống kê về ba thể loại của các dân tộc
được thể hiện trong Bảng 1.1.
STT Dân tộc Thần
thoại
Truyền
thuyết
Truyện
cổ tích
Tổng số

người nghiên cứu truyện kể dân gian khai thác sâu những yếu tố quan trọng
có tính ổn định, bền vững cấu thành các cốt truyện, các yếu tố thể hiện
chiều sâu tâm lý, quan niệm và sắc thái văn hóa của các dân tộc. Tuy nhiên,
trong quá trình nghiên cứu, việc sử dụng phương pháp này có khác nhau
tùy theo từng thể loại.
Tiểu kết
Khu vực miền núi phía Bắc có đặc trưng địa hình đa dạng bao gồm rất
nhiều đồi núi trập trùng, hiểm trở, nhiều con sông dài, nhiều thung lũng
rộng lớn. Đây cũng là khu vực định cư lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số
thuộc nhiều ngữ hệ. Đặc điểm không gian cư địa đó đã tạo ra ở đồng bào
thiểu số khu vực này một đời sống văn hóa phong phú, đa dạng. Truyện kể
dân gian là bộ phận gồm nhiều thể loại trong đó thần thoại, truyền thuyết,
truyện cổ tích là ba thể loại tiêu biểu. Mỗi thể loại có những đặc điểm nhận
diện riêng đồng thời giữa chúng cũng có những liên hệ, chuyển hóa lẫn
nhau. Chúng tôi cũng khái quát một số tri thức về type và motif cùng với
phương pháp nghiên cứu truyện kể theo type và motif bởi đó là một thao
tác chính mà chúng tôi sử dụng trong luận án.
11
CHƯƠNG 2: THẦN THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC
2.1. Thần thoại các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
2.1.1. Khái quát chung
Thần thoại các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hiện còn được lưu
giữ với nguồn truyện kể dồi dào, phong phú. Hiện chúng tôi thống kê được
51 bản kể thần thoại của 11 dân tộc Tày, Thái, Hmông, Dao, Mường,
Mảng, Hà Nhì, Giáy, Lô Lô, Pu Péo, Khơ Mú, Mảng, trong đó dân tộc Tày
có số lượng nhiều nhất (13/51). Các dân tộc Thái, Mường, Hmông, Dao có
số truyện tương đương nhau và đứng thứ hai. Cốt truyện thần thoại các dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc có khá nhiều những cốt kể dài, chứa đựng
nhiều tình tiết, sự kiện, phản ánh nhiều nội dung, đề tài có logic, xâu chuỗi

suy nghĩ, tình cảm và tư duy. Nạn lụt và sự tái sinh loài người là type
truyện có tính phổ biến ở các dân tộc khu vực này. Nó phản ánh quan niệm
huyền thoại của nhân loại về hai giai đoạn trước lụt và sau lụt, trong đó lịch
sử các dân tộc chỉ thực sự phát triển sau lụt mà thôi. Thuộc về type truyện
này có ba motif quan trọng không thể thiếu là Nạn lụt, đôi trai gái may mắn
sống sót và sự tái tạo loài người.
2.1.2.3. Thần thoại về công cuộc chinh phục tự nhiên và sáng tạo văn hóa
Trong quá trình lý giải tự nhiên và khám phá nguồn gốc loài người,
đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc cũng đã phản ánh khát vọng và
niềm tin chinh phục tự nhiên của mình. Hiện chúng tôi thống kê được 16
truyện của 7 dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao, Lô Lô, Khơ Mú, Pu Péo phản
ánh nội dung này với tỉ lệ thể hiện trong biểu đồ ở trên. Công cuộc chinh
phục, cải tạo tự nhiên của con người còn thể hiện gián tiếp qua những
truyện kể về Mặt Trăng, Mặt trời, kể về nguồn gốc các dân tộc Ngoài ra
đồng bào cũng phản ánh quá trình sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa
quan trọng đầu tiên đánh dấu cuộc sống “văn minh” của họ như lúa, lửa,
nhà ở…
13
2.2. Truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
2.2.1. Khái quát chung
Hiện chúng tôi tập hợp được 41 truyện của sáu dân tộc: Tày, Thái,
Khơ Mú, Nùng, Hmông, Mảng trong đó hai dân tộc Tày, Thái còn lưu giữ
được nhiều truyện kể (Tày: 21/41, Thái: 13/41), các dân tộc khác chỉ còn
một đến hai truyền thuyết. Đặc điểm nổi bật trong truyền thuyết các dân tộc
khu vực này là sự gắn bó giữa đề tài phản ánh lịch sử và giải thích địa
danh. Điều đó vừa tương đồng vừa khác biệt so với truyền thuyết một số
dân tộc khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ.
2.2.2. Các nhóm truyền thuyết tiêu biểu
2.2.2.1. Truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử
Đây là mảng truyền thuyết thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của thể loại

thuyết về nhân vật lịch sử và truyền thuyết địa danh. Sự khuyết đi ở một vài
nhóm truyện truyền thuyết cho thấy sự chi phối, ảnh hưởng của đặc điểm
xã hội, văn hóa và những tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc nơi đây đối
với nguồn truyện kể dân gian.
CHƯƠNG 3: TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI PHÍA BẮC
3.1. Khái quát chung
Khảo sát qua các tổng tập, tuyển tập và tập truyện cổ, chúng tôi đã tập
hợp được 283 truyện cổ tích trong đó, truyện cổ tích thần kỳ chiếm tỷ lệ lớn
nhất với 158 truyện, bao gồm các type: Truyện về người mồ côi, truyện về
người em út, truyện về người con riêng, truyện về người khỏe, truyện về
người đội lốt vật. Tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt có 76 truyện, có thể
chia thành các type: Truyện về người thông minh, truyện về người hiếu
nghĩa, truyện về người tiêu cực, truyện về những mối tình bất hạnh. Truyện
cổ tích loài vật có 49 truyện cũng là bộ phận khá phổ biến ở đồng bào các
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có thể chia thành hai nhóm: Nhóm
truyện có nhân vật là loài vật, Nhóm truyện có nhân vật là loài vật và con
người. Tỷ lệ này có những tương đồng và khác biệt nhất định với truyện cổ
tích các dân tộc thiểu số vùng miền khác như truyện cổ tích Khơ me Nam
Bộ và truyện cổ tích các dân tộc Nam Đảo thể hiện ở Bảng 3.1.
15
STT Tiểu loại TCT miền núi
phía Bắc
TCT Khơ me
Nam Bộ
TCT Nam Đảo
1 Truyện cổ tích
thần kỳ
158/283
(56 %)

mang khát vọng về tình yêu và hạnh phúc gia đình với những người con gái
đẹp, vì thế motif kết hôn xuất hiện với tần số rất phổ biến (55/60 truyện).
Đối tượng trong cuộc hôn nhân của mồ côi chủ yếu là nàng tiên, con gái
vua Thủy tề và con gái Vua, Chúa (46/55 truyện). Trong type truyện này,
mối liên hệ mật thiết giữa mồ côi (người trần) và thế giới Nước (Long
cung, Long vương, Thủy tề) được thể hiện thường xuyên. Đặc biệt chúng
tôi thấy xuất hiện nhóm truyện về nhân vật mồ côi tiêu cực. Kết thúc của
nhóm truyện này là một kết thúc không có hậu. Đây có thể là những truyện
xuất hiện muộn khi các tác giả dân gian đã có cái nhìn chân thực hơn về
cuộc sống.
16
3.2.2. Truyện về người em út
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy đây cũng là kiểu truyện
có số lượng bản kể phong phú với 32 bản kể thuộc 11 dân tộc Hmông, Tày,
Thái, Dao, Nùng, Mường, Giáy, Lô Lô, Pu Péo, Khơ Mú, Hà Nhì, trong đó
truyện của dân tộc Hmông chiếm tỉ lệ cao nhất với 11/32 truyện. Có thể lý
giải điều này một phần từ đặc điểm hình thái tổ chức gia đình dân tộc
Hmông. Type truyện này có nhiềun motif tiêu biểu tương đồng với truyện
của dân tộc Việt như phân chia tài sản bất công bằng, vật trợ giúp, bắt
chước không thành công… và một motif độc đáo là sự biến hóa của yếu tố
trợ giúp thần kỳ. Đặc biệt, chúng tôi thấy xuất hiện nhóm truyện kể về nhân
vật em gái út trong xung đột với các chị gái. Về mặt cốt truyện, nhóm
truyện này sử dụng kết hợp và linh hoạt các motif của kiểu truyện người
đội lốt vật và kiểu truyện người con riêng.
3.2.3. Truyện về người con riêng
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thống kê có 22 truyện của 8 dân
tộc Tày, Thái, Hmông, Mường, Dao, Pu Péo, Lô Lô, Khơ Mú thuộc về kiểu
truyện này. Kiểu truyện này của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
cũng có nhiều nét tương đồng với truyện của người Việt thể hiện ở những
motif như: đứa trẻ mồ côi bị đối xử bất công, cuộc hôn nhân lý tưởng, bị

3.3.1. Truyện về người thông minh
Nổi bật trong bộ phận truyện cổ tích sinh hoạt của các dân tộc thiểu số
miền núi phía Bắc là những truyện kể về người thông minh. Có thể tìm thấy
32 truyện của 8 dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao, Hmông, Pu Péo, Giáy,
Nùng kể về loại nhân vật này, trong đó dân tộc Tày vẫn là dân tộc có số
bản kể nhiều nhất (14/32 truyện). Nhân vật thông minh trong truyện cổ tích
khu vực này gồm bốn loại: chàng mồ côi (nghèo khổ) thông minh, em bé
thông minh, người chồng thông minh và chàng rể thông minh. Motif tiêu
biểu trong nhóm truyện là: thử tài, kén rể và mẹo lừa. Các truyện thuộc
nhóm này đã xuất hiện yếu tố hài hước, có thể coi là bước quá độ, là cơ sở
nảy sinh một thể loại mới là truyện cười.
18
3.3.2. Truyện về người hiếu nghĩa
Trong thế giới nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt các dân tộc miền
núi phía Bắc, chúng tôi còn nhận thấy sự xuất hiện của những con người
hiếu nghĩa, tốt bụng đáng trân trọng. Hiện chúng tôi thống kê được 14
truyện của 5 dân tộc Tày, Thái, Hmông, Nùng, Mường trong đó, dân tộc
Tày có số truyện nhiều nhất (7/14 truyện). Nói chung, nhóm truyện này bao
gồm những truyện cùng phản ánh chung một chủ đề nào đó nhưng cách kể
thường linh hoạt, không theo một công thức kể và hệ thống các motif cố
định. Nhóm truyện này góp phần phản ánh những truyền thống ứng xử quý
báu của đồng bào thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng và cũng là truyền
thống của dân tộc Việt Nam nói chung.
3.3.3. Truyện về người tiêu cực
Đây có thể coi là một hình thức phái sinh của hai nhóm truyện về nhân
vật thông minh và nhân vật hiếu nghĩa. Với 18 truyện của 6 dân tộc Tày,
Thái, Dao, Nùng, Hà Nhì, Giáy, nhóm truyện đã góp phần phản ánh đời
sống hiện thực đầy đủ hơn với cái nhìn và thái độ khách quan của các tác
giả dân gian. Nhân vật chính của nhóm truyện là những anh chàng ngốc
nghếch hoặc những người có tính cách và phẩm chất không tốt, bao gồm:

3.4.2. Truyện có nhân vật là loài vật và con người
Thuộc type truyện này hiện chúng tôi thống kê được 11 truyện của 5
dân tộc Tày, Dao, Nùng, Pu Péo, Lô Lô. Phần lớn truyện kể thuộc nhóm
này phản ánh mối quan hệ giữa con vật và con người trong đó, con người
đóng vai trò là nhân vật có trí thông minh và luôn giành phần thắng trong
những lần đấu trí với các loài vật, đặc biệt là mối quan hệ giữa người và hổ.
Sự ảnh hưởng và tiếp thu các yếu tố của thể loại thần thoại vẫn tiếp tục xuất
hiện trong cổ tích loài vật. Ngoài ra, yếu tố ngụ ngôn xuất hiện khá phổ
biến. Bên cạnh chức năng chính là phản ánh và lý giải về xã hội các loài
vật, nhiều câu chuyện còn chứa đựng một bài học đạo đức sâu xa.
Tiểu kết
Nói chung, truyện cổ tích khu vực nơi đây có nhiều type và motif quen
thuộc trong kho tàng cổ tích thế giới cũng như cổ tích các dân tộc Việt
Nam. Trong mỗi kiểu truyện cụ thể, chúng ta có thể khám phá thấy những
nhóm truyện và những motif thể hiện bản sắc đặc thù của đời sống miền
20
núi. Đó là mật độ xuất hiện lớn của type truyện về nhân vật người khỏe,
truyện về nhân vật mồ côi phụ bạc, truyện về chàng rể …và rất nhiều motif
khác biệt như motif nhân vật trợ giúp, bắt chước không thành công, đoàn tụ
của kiểu truyện người con riêng, motif biến hóa của nhân vật trợ giúp thần
kỳ trong kiểu truyện em út… Chúng ta cũng có thể thấy sự phân bố không
đồng đều các type truyện ở các dân tộc. Điều này có thể phản ánh sức sáng
tạo khác nhau giữa các tộc người, nhưng chủ yếu là thể hiện khả năng lưu
giữ và lưu truyền không đồng đều giữa các dân tộc.
CHƯƠNG 4. MỐI QUAN HỆ VÀ NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA TRUYỆN
KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA
BẮC
4.1. Mối quan hệ giữa truyện kể dân gian và đời sống tín ngưỡng, nghi
lễ
Các thể loại có thể được hình thành ở những thời kỳ lịch sử khác nhau

và đấu tranh tìm đất, giành đất, đấu tranh chống giặc phong kiến phương
Bắc ngoại xâm của các dân tộc. Điều đó giúp chúng ta hình dung bức tranh
thiên nhiên và không khí lịch sử được phản ánh trong các thể loại truyện kể
miền núi phía Bắc, tạo ra nét đặc trưng đầu tiên của truyện kể các dân tộc
khu vực này.
4.3.2. Phản ánh xã hội đan xen chế độ phụ hệ và mẫu hệ
Các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc như Hmông, Dao, Tày, Nùng,
Thái, Mường đều thực hiện tổ chức gia đình và xã hội theo chế độ phụ hệ
trong đó vai trò của người đàn ông là rất quan trọng. Thực tế này được
phản ánh trong truyện kể các dân tộc thiểu số nhất là ở thể loại cổ tích với
những biểu hiện cụ thể. Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy truyện kể các
dân tộc miền núi phía Bắc cũng có những type truyện, những motif, những
chi tiết phản ánh một số khía cạnh có liên quan đến chế độ mẫu hệ. Tiêu
biểu là sự xuất hiện của nhóm truyện về nhân vật em gái út trong xung đột
với các chị gái và nhóm truyện về nhân vật con rể trong quan hệ với bố mẹ
vợ. Như vậy, có thể thấy, chế độ phụ hệ trong tổ chức gia đình ở đồng bào
thiểu số miền núi phía Bắc vẫn còn sót lại một số biểu hiện của chế độ mẫu
hệ.
22
4.3.3. Sử dụng hệ thống hình ảnh đặc trưng gắn với văn hóa, tín ngưỡng
Trong truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc, đặc biệt là dân tộc
Tày, hình ảnh trúc (tre) xuất hiện rất phổ biến. Đặc trưng này có liên quan
đến một phần là sự phổ biến của loại cây này trong không gian tự nhiên,
một phần là vai trò và giá trị sử dụng của cây trúc, tre trong đời sống và
phần lớn là liên quan đến tín ngưỡng, quan niệm của đồng bào các dân tộc.
Ngoài ra, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với hình ảnh con Hổ, con Rắn như
một ám ảnh trở đi trở lại trong rất nhiều nhóm truyện kể. Hình ảnh về các
loại nhạc đặc trưng của các dân tộc miền núi phía Bắc cũng là một nét riêng
không lẫn với truyện kể các dân tộc khác Đồng bào Tày, Nùng, Thái luôn
được biết đến với cây tính tẩu (đàn tính), đồng bào Hmông lại nổi tiếng với

phong phú với 51 bản kể của 11 dân tộc. Nội dung phản ánh của thần thoại
các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng là những chủ đề có tính phổ
biến của thần thoại các dân tộc nói chung như lý giải về nguồn gốc trời đất,
các hiện tượng tự nhiên, về nguồn gốc con người và các tộc người, về công
cuộc chinh phục tự nhiên và sáng tạo văn hóa thời nguyên thủy. Trong sự
thống nhất ấy, chúng ta cũng nhận ra một số type truyện riêng, một số cách
hình dung khác lạ như type Người được làm chủ muôn loài với motif Rùa
mách bảo loài người, hình ảnh cái chày tạo nên sự phân cách về trời đất.
3. Truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có số lượng
bản kể ít hơn so với thể loại thần thoại, cổ tích với 41 bản kể và chỉ thuộc
về 6 dân tộc. Có thể thấy diện mạo của thể loại này qua hai nhóm nội dung
chính là truyền thuyết kể về các nhân vật anh hùng lịch sử và truyền thuyết
giải thích địa danh. Nhóm truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử thể
hiện thái độ trân trọng, ca ngợi các nhân vật anh hùng lịch sử người thiểu
số gắn với các địa phương và thời đại nhất định. Truyền thuyết địa đanh
của các dân tộc miền núi phía Bắc phong phú thường gắn liền với các địa
danh tự nhiên có thực. Hai nội dung phản ánh về nhân vật lịch sử và giải
24
thích địa danh thường gắn bó với nhau tạo nên nét đặc sắc của truyền
thuyết các dân tộc nơi đây.
4. Truyện cổ tích là thể loại có số lượng phong phú nhất với 283 bản
kể của 12 dân tộc với sự có mặt của các type truyện tiêu biểu và cũng là thể
loại ẩn chứa những nét độc đáo rõ nét nhất. Tỉ lệ truyện trong các type ở
các dân tộc rất khác nhau, trong đó, số lượng truyện phân bố và lưu truyền
tập trung ở các dân tộc Tày, Thái, Hmông. Các type truyện cổ tích có nội
dung và hình thức phản ánh mang nhiều điểm tương đồng với truyện của
dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số khu vực khác. Bên cạnh đó, cũng có
thể nhận thấy những nhóm truyện và motif riêng biệt như nhóm truyện về
nhân vật mồ côi tiêu cực, nhóm truyện về người em út là nữ, nhóm truyện
về chàng rể, motif nhân vật trợ giúp và đoàn tụ trong kiểu truyện người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status