Nghiên cứu liều lượng phân bón cho cây mạch môn (ophiopogon japonicus wall) trồng xen trong vườn chè giai đoạn kiến thiết cơ bản tại huyện hà hòa, tỉnh phú thọ - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI







 NGUYỄN NGỌC SƠN NGHIÊN CỨU LIỀU LƯ
ỢNG PHÂN BÓN CHO CÂY
MẠCH MÔN (Ophiopogon Japonicus Wall) TRỒNG XEN
TRONG VƯỜN CHÈ GIAI ðOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN
TẠI HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ


MẠCH MÔN (Ophiopogon Japonicus Wall) TRỒNG XEN
TRONG VƯỜN CHÈ GIAI ðOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN
TẠI HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN ðÌNH VINH

HÀ NỘI - 2013

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i

LỜI CAM ðOAN

3 - xã Bằng Giã - huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ ñã quan tâm, tạo ñiều kiện
giúp ñỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu ñề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Sơn
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii

MỤC LỤC Lời cam ñoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

2.2.1 Rễ, củ 5

2.2.2 Thân, lá 6

2.2.3 Hoa, quả, hạt 7

2.2.4 Sinh trưởng của cây mạch môn 8

2.3 Yêu cầu sinh thái của cây mạch môn 8

2.4 Giá trị sử dụng của cây mạch môn 9

2.4.1 Giá trị dược liệu của cây mạch môn 9

2.4.2 Giá trị kinh tế của cây mạch môn 11Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

2.4.3 Giá trị bảo vệ ñất và môi trường 12

2.5 Các kết quả nghiên cứu cây mạch môn trên thế giới và ở Việt
Nam 13

2.5.1

Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mạch môn
trên thế giới 13



3.4.2 Các chỉ tiêu về năng suất củ và rễ của cây mạch môn 41

3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi trên cây chè 42

3.4.5 Các chỉ tiêu về năng suất búp chè 42

3.4.6 Các chỉ tiêu theo dõi về cỏ dại 43

3.4.7 Tính hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 43

3.4.8 Phân tích thành phần lý hóa tính của ñất trước và sau thí nghiệm 43

3.5 Xử lý số liệu 43Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân ñến sinh trưởng, phát
triển của cây mạch môn trồng xen trong vườn chè kiến thiết
cơ bản 44

4.1.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân ñến chiều cao và chiều
rộng tán của cây mạch môn 44

4.1.2 Ảnh hưởng của phân bón ñến chiều dài và chiều rộng lá cây
mạch môn 48


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi

4.3.6 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
năng suất búp chè. 73

4.4 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
sự phát triển của cỏ dại, sâu bệnh trong vườn chè 74

4.4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân và trồng xen mạch môn
ñến khối lượng cỏ dại trong vườn chè 74

4.4.2 Ảnh hưởng của trồng xen cây mạch môn ñến thành phần sâu,
bệnh hại trên cây chè 76

4.5 Ảnh hưởng các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến tính
chất lý hoá tính của ñất 80

4.6 Hạch toán hiệu quả kinh tế các công thức bón phân cho cây mạch
môn trồng xen trong vườn chè non 83

5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 89

5.1 Kết luận 89

5.2 ðề nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91


4.8 Ảnh hưởng của các công thức bón phân ñến chiều cao cây của
cây chè (cm) 63
4.9 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
số cành cấp 1 của cây chè (cành/cây) 64
4.10 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
số lá cây chè (lá/cây) năm 2010 66
4.11 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
diện tích lá của cây chè KTCB (cm
2
/lá) 67
4.12 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
chiều rộng tán cây chè (cm) 69
4.13 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
số búp và khối lượng búp trên cây chè 71
4.14 Ảnh hưởng của các công thức bón phân cho cây mạch môn ñến
năng suất lý thuyết (tạ/ha) 73

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
viii

4.15 Khối lượng cỏ dại của các công thức thí nghiệm kg/10m
2
74
4.16 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm ñến thành phần sâu,
bệnh hại trên cây chè 77
4.17 Thành phần lý hoá tính ñất của các công thức thí nghiệm 80
4.18 Hạch toán kinh tế các công thức bón phân cho cây mạch môn
trồng xen trong vườn chè kiến thiết cơ bản 84 Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1

1. MỞ ðẦU

1.1 ðặt vấn ñề
Cây mạch môn (Mạch môn ñông) tên khoa học là Ophiopogon
Japonicus Wall, thuộc họ Ruscaceae, có nguồn gốc từ Nhật Bản và Triều
Tiên. Mạch môn là loại cỏ thảo sống lâu năm, rễ chùm, lá mọc từ gốc, hẹp,
gốc lá hơi có bẹ, quả mọng.
Mạch môn là cây ưa ẩm, ưa ánh sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng,
có thể phát triển trên mọi loại ñất, trừ nơi úng ngập. Cây mạch môn ñược
trồng làm thuốc là chủ yếu, ngoài ra còn ñược trồng làm cảnh quan trong ñô
thị, trồng ñể bảo vệ ñất, chống xói mòn. Cây mạch môn ñược sử dụng ñể
trồng xen dưới tán các loại cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm vừa có tác
dộng tốt ñến môi trường sống của cây trồng chính vừa tăng thu nhập hệ thống,
tăng hệ số sử dụng ñất.
Do quá trình công nghiệp hóa, ñô thị hóa và biến ñổi khí hậu ñang diễn
ra nhanh chóng, ñã làm cho diện tích ñất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp,

các mục tiêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng ñất, tạo thu nhập cho
người trồng chè trong giai ñoạn chưa có sản phẩm thu hoạch và hạn chế xói
mòn, rửa trôi ñất, ñảm bảo canh tác bền vững trên ñất dốc.
Xuất phát từ những lý do trên và ñược sự hướng dẫn của TS. Nguyễn
ðình Vinh chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài:

Nghiên cứu liều lượng phân
bón cho cây mạch môn (Ophiopogon Japonicus Wall) trồng xen trong
vườn chè giai ñoạn kiến thiết cơ bản tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”.
1.2. Mục ñích và yêu cầu
1.2.1. Mục ñích
ðánh giá ñược ảnh hưởng của các công thức bón phân ñến sinh trưởng
và năng suất củ cây mạch môn; ñến sinh trưởng và năng suất búp chè. Xác
ñịnh ñược công thức bón phân phù hợp cho cây mạch môn trồng xen trong
vườn chè KTCB. Các kết quả thu ñược sẽ góp phần ñể xây dựng quy trình kỹ
thuật trồng và chăm sóc cây mạch môn trồng xen trong vườn chè KTCB.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3

1.2.2. Yêu cầu
- ðánh giá ñược ảnh hưởng của liều lượng bón phân khoáng ñến sinh
trưởng và năng suất củ của cây mạch môn trồng xen trong vườn chè KTCB,
từ 1- 3 tuổi.
- ðánh giá ảnh hưởng liều lượng bón phân khoáng ñến sinh trưởng và
năng suất búp của cây chè trong giai ñoạn KTCB.
- ðánh giá hiệu qủa của kỹ thuật trồng xen và liều lượng bón phân
khoáng cho cây mach môn trồng xen trong vườn chè giai ñoạn KTCB.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của ñề tài


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU


giữa khoảng 0,3 - 0,6cm, bề mặt lát cắt màu trắng, hơi trong, có lõi hẹp, mùi
ñặc biệt, có vân dọc mịn, củ già màu hồng, củ non màu trắng ngà.
Giải phẫu rễ củ của cây mạch môn ta thấy: Tầng lông hút có lông hút
ñơn bào. Tầng suberoid gồm 2 - 3 lớp tế bào hình ña giác xếp sát nhau, vách
tẩm suberin. Mô mềm vỏ rất rộng, tế bào ở phía ngoài hình tròn hay ña giác,
tế bào ở phía trong hình bầu dục theo hướng xuyên tâm, rải rác có bó tinh thể
calci oxalat hình kim nhỏ hoặc lớn (hiếm gặp hơn). Nội bì hình chữ U, trụ bì
gồm 1 - 2 lớp tế bào, hóa mô cứng rải rác. Các bó gỗ cấp 1 phân hóa hướng
tâm, xếp xen kẽ với bó libe cấp 1. Vùng mô mềm ruột hẹp gồm các tế bào có
vách mỏng, kích thước nhỏ hơn tế bào mô mềm vỏ. Mạch hậu mộc nhỏ trong
vùng mô mềm tủy bị hóa mô cứng [19].
2.2.2. Thân, lá
Thân của cây mạch môn thuộc loại thân cỏ nhiều năm, mọc thành bụi
cao từ 10 - 40cm và ñược cấu tạo bởi nhiều bẹ lá già bao lấy bẹ lá non.
ðặc ñiểm giải phẫu: Thân cấu tạo từ nhiều bẹ lá già bao lấy các bẹ lá
non hơn. Mỗi bẹ lá già có một phần rộng ở giữa mang các bó mạch, hai ñầu
hẹp dần cuối cùng chỉ còn 2 lớp biểu bì nằm sát và xen kẽ nhau tạo thành
màng mỏng. Tại phần mang bó mạch, dưới biểu bì là các tế bào vách rất dày
có xu hướng phát triển thành mô cứng hoặc sợi, mô mềm vỏ khuyết gồm các
tế bào tròn, vách mỏng. Các bó dẫn không ñều nhau, libe hình nón chồng lên
gỗ, các bó lớn có mô cứng bao xung quanh. Các bẹ lá non hơn chưa có màng,
cấu tạo giống bẹ già nhưng các tế bào xung quanh bó mạch vẫn chưa tẩm chất
gỗ, các tế bào mô mềm vỏ tạo các khuyết rộng hơn. Tinh thể calci oxalat hình
kim tập trung thành bó trong tế bào mô mềm vỏ.
Lá mọc từ gốc, có dạng hình dải hẹp, xếp thành 2 dãy, dài 15 - 60cm,
rộng 0,5 - 1,5cm, nhẵn, gốc có bẹ to hình màng màu trắng ôm các bẹ lá bên
trong, ñầu lá nhọn, gân lá song song nổi rất rõ. Từ gốc lên ñến ngọn lá rộng
và dẹt dần, màu cũng ñậm hơn. Lá xanh quanh năm.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

C) thì qua khoảng 2 - 3 tháng hạt sẽ thức tỉnh và nảy mầm. Khả
năng giữ sức nảy mầm của hạt khoảng một năm [19].

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8

2.2.4. Sinh trưởng của cây mạch môn
Cây mạch môn là dạng cỏ thân bụi, sống lâu năm. Các mầm mới của
cây mạch môn ñược phát sinh từ các mắt trên ñoạn thân ngầm. Trong ñiều
kiện khí hậu của Việt Nam các mầm mới ñược phát sinh trong vụ Xuân hè
hàng năm. Sau khi hình thành các mầm mới sẽ phát sinh ra các lá và rễ mới.
Số lượng mầm (nhánh) của bụi mạch môn tăng lên theo tuổi cây.
Các lá của cây mạch môn ñược phát sinh từ các ñỉnh sinh trưởng của
mầm theo chu kì sinh trưởng hàng năm. Các lá mới ñược phát sinh vào vụ
Xuân hè và ổn ñịnh sinh trưởng vào vụ Thu ñông. Cuối vụ ðông năm trước
và ñầu vụ Xuân năm sau các lá ñược hình thành từ năm trước sẽ chết và ñược
thay thế dần bằng các lá mới. Chiều rộng và chiều dài lá thay ñổi theo tuổi lá,
sau khi phát sinh lá thường mọc thẳng có chiều rộng lá lớn, chiều dài lá ngắn.
Khi ổn ñịnh sinh trưởng lá ngả dần theo chiều ngang, chiều dài lá lớn song
chiều rộng lá bị thu hẹp lại. Lá non có màu xanh vàng, lá già có màu xanh
ñậm, xanh vàng. Bề mặt trên của phiến lá ñược bao phủ bằng lớp màng cu tin.
Phiến lá có các sợi xơ mảnh và dai, xếp dọc theo chiều dài của lá.
Rễ và củ của cây mạch môn. Rễ cây mạch môn hàng năm ñược phát
sinh từ gốc của cả các nhánh cũ và nhánh mới, một số rễ mới ñược phát sinh từ
ñầu của các rễ cũ hay các rễ bị ñứt do tác ñộng cơ giới, sinh vật gây hại. Một số
rễ có ñoạn giữa phình to ñể hình thành củ mạch môn. ða số các củ của cây mạch
môn ñược hình thành vào vụ Thu và vụ ðông của năm trước, ổn ñịnh vào vụ Hè
của năm sau. Củ mạch môn có hình thoi, khi non có màu trắng sau chuyển sang
ngà vàng, củ già có mầu nâu nhạt, nẫu thẫm, lõi trong. Số lượng, kích thước, tỷ
lệ củ già của cây mạch môn tăng lên theo tuổi cây và chịu tác ñộng của kỹ thuật

Sản phẩm thu hoạch ñể làm thuốc là củ và rễ cây mạch môn. Trong củ
mạch môn có các thành phần dược liệu như: Ophiopogonin; Ruscogenin; b-
Sitosterol, Stmasterol, trong rễ cây mạch môn còn có nhiều hợp chất saponin,
axitamin, vitaminA (sách Trung Dược Học – Trung Quốc). Vị thuốc mạch
môn còn gọi Thốn ñông (Nhĩ Nhã), Mạch ñông (Dược Phẩm Hóa Nghĩa),
Dương cửu, Ô cửu, Dương tề, Ái cửu, Vũ cửu, Tuyệt cửu, Bộc ñiệp (Ngô Phổ
Bản Thảo), Dương thử, Vũ phích (Biệt Lục), Giai tiền thảo (Bản Thảo Cương
Mục), ðại mạch ñông, Thốn mạch ñông, Nhẫn lăng, Bất tử thảo, Mạch văn,
Thờ mạch ñông, Hương ñôn thảo, Bất tử diệp, Trĩ ô lão thảo, Sa thảo tú căn,
ðông nhi sa lý, An thần ñội chi, Qua hoàng, Tô ñông (Hòa Hán Dược Khảo),

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
10

Củ Tóc Tiên, Lan Tiên (Dược Liệu Việt Nam, 1998 [1].
Trong các tài liệu dược học của Trung Quốc và Việt Nam, vị thuốc
mạch môn ñược sử dụng làm chủ vị hay kết hợp với các vị thuốc khác ñể tạo
thành các bài thuốc chữa và dưỡng các loại bệnh về ñường hô hấp, tim mạch,
giải ñộc, giải khát và chữa bệnh tiểu ñường, yếu sinh lý .v.v [22]
Từ rễ củ mạch môn, 5 glucosid ñã ñược phân lập. Ba chất ñầu khi thủy
phân thu ñược diosgenin; ở chất thứ tư, genin là ruscogenin; còn chất thứ năm
cho choophiogenin. Ngoài ra, còn có 11 chất thuộc các nhóm chất sau: các
stigmasterol, β-sitosterol, β-D-glucosid, các hợp chất polysaccarid, tinh dầu
và các thành phần như β-patchoulen, longifolen, cyperen, α-humulen, guajol,
jasmolelon cũng ñược phát hiện trong củ mạch môn. Gần ñây còn phân lập
ñược các saponin A, B, C, D. Ophiopogonin A, B, C, và D khi thủy phân cho
genin là ruscogenin. Carbohydrat gồm có một số glucofructan và một số
monosaccharid: glucose, fructose và saccharose [1].
Mạch môn có vị ngọt hơi ñắng, tính mát, qui kinh: vào kinh Tâm, Phế
và Vị; có tác dụng: dưỡng âm, nhuận phế, bổ tâm phế làm mát phổi, thanh

bỏ lõi, sao tán nhỏ mỗi lần uống 10 - 12g (khi bị rối loạn tiêu hoá thể lỏng, ăn
ñầy bụng chậm tiêu không ñược dùng mạch môn).
Trong y học Trung Quốc, rễ mạch môn thường dùng trị các bệnh tim
mạch, cao huyết áp, xơ vữa ñộng mạch, loạn thần kinh mạch máu, loạn thần kinh
thực vật, khí hư và mất ngủ. Phối hợp với các dược liệu khác trị viêm dây thần
kinh. Dạng dùng là nước sắc hoặc tán bột thành viên hoàn với liều mỗi lẫn 3 -
10g. Ở Ấn ðộ, những rễ củ có chất nhầy của mạch môn có thể ăn ñược và ñược
dùng thay thế nhân sâm. Ở các nước Campuchia, Lào rễ ñược dùng làm thuốc
chữa sốt và lợi sữa, trị viêm phổi và một số bệnh về gan, thận, ruột.
2.4.2. Giá trị kinh tế của cây mạch môn
Mạch môn là cây thuốc quý ñược sử dụng trong các bài thuốc ñông y.
Nó có thể ñược trồng thuần hoặc trồng ñể bảo vệ ñất, hoặc trồng xen trong
vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, cây lâm nghiệp, vừa hạn chế ñược
cỏ dại lại cho thêm thu nhập, dễ trồng, dễ sống và ít bị sâu bệnh phá hoại,

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
12

không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nên ñem lại hiệu quả kinh tế cao cho
người trồng.
Sau trồng 2 - 3 năm trở lên, cây có thể cho thu hoạch. Hiện nay trên thị
trường sản phẩm ñầu ra của cây mạch môn ñược người dân ưa chuộng, ñánh
giá cao và dễ tiêu thụ. Theo kết quả ñiều tra của trường ðại học Nông nghiệp
Hà Nội, giá bán củ tươi năm 2009- 2010 tại Phú Thọ và Yên Bái từ 12.000 -
15.000ñ/kg, năm 2011 giá tăng lên 25.000 - 30.000ñ/kg và năm 2012 giá bán
là 20.000 - 25.000ñ/kg củ tươi. Sản phẩm củ mạch môn khô ñã chế biến rút
bỏ lõi tại Phú Thọ có giá thành từ 120.000 - 150.000ñ/kg, tại thị trường Hà
Nội và Hưng Yên giá bán còn cao hơn. Bình quân 1ha trồng cây mạch môn
theo kỹ thuật truyền thống của nông dân trước ñây có thể ñạt từ 10 - 15 tấn
củ, tương ñương 120 - 200 triệu ñồng sau 3 năm trồng. Trên 1ha ñất trồng cây

mùa khô và xói mòn, sạt lở ñất vào mùa mưa nên việc trồng xen mạch môn
vào các cây trồng chính sẽ che phủ phần ñất trống, giảm khả năng bốc hơi
nước của mặt ñất, tăng ñộ ẩm cho ñất. Hệ thống rễ của mạch môn thuộc loại
rễ củ, dai và phát triển mạnh, vì vậy có tác dụng làm tăng ñộ tơi xốp cho ñất,
làm ñất không bị chai cứng, bảo vệ ñất không gây nên hiện tượng xói mòn và
sạt lở ñất trong mùa mưa.
2.5. Các kết quả nghiên cứu cây mạch môn trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mạch môn
trên thế giới
Hiện nay, cây mạch môn phân bố khá rộng rãi trên thế giới, chủ yếu ở
các vùng nhiệt ñới và á nhiệt ñới. Tại một số nước trên thế giới như Trung
Quốc, Mỹ, ðức, Thái Lan, Nhật Bản, Úc v.v. cây mạch môn ñược sử dụng
làm cây cảnh quan trong các công viên hay công sở.
Trên thế giới hiện có rất ít các công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng,
chăm sóc và thu hoạch cây mạch môn, ñặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng
cây mạch môn làm cây trồng xen trong các vườn cây công nghiệp và cây ăn
quả lâu năm.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14

- Nghiên cứu khả năng thích nghi của cây mạch môn.
Balgle (1997), Joel M.L. (2003),

L.A. Jackson (2006), Robert Trawick
(2007), Tom Maccubbin (2007), Walter Reeves (2007) có nhận xét: cây mạch
môn là cây che phủ ñất có chiều cao thấp song có thể trải rộng với mật ñộ lá
dày và duy trì bộ tán lá thường xuyên, cây có thể sinh trưởng tốt dưới bóng
râm, nơi mà nhiều cây trồng khác không sinh trưởng ñược, cây có khả năng
chịu hạn tốt. Do là cây trồng có nguồn gốc từ Nhật Bản và Triều Tiên nên cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status