nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm ngân hàng công thương việt nam - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế này là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Luận văn
không sao chép hay trùng lặp với các công trình
nghiên cứu đã được công bố trước đây. Tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, Ngày Tháng 12 năm 2011
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thanh Duy
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 4
BẢNG 4
BIỂU ĐỒ 5
HÌNH VẼ 5
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 4
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH 32
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 32
CHƯƠNG 3 74
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 74
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 74
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
KDBH : Kinh doanh bảo hiểm

Bảng 2.5 : Doanh thu phí giữ lại của các DN BH PNT Việt NamError: Reference
source not found
Bảng 2.6: Doanh thu phí BH gốc của Bảo Ngân giai đoạn 2007-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.7: Doanh thu phí BH gốc của Bảo Ngân theo từng nghiệp vụ Error:
Reference source not found
Bảng 2.8: Tỷ trọng phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ của Bảo Ngân Error:
Reference source not found
Bảng 2.9: Doanh thu nhận tái bảo hiểm (2007-2010) Error: Reference source not
found
Bảng 2.10: Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của Bảo Ngân Error: Reference source
not found
Bảng 2.11: Tình hình tài chính của Bảo Ngân (2008-2010) Error: Reference
source not found
Bảng 2.12: Thị phần của Bảo Ngân trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Error:
Reference source not found
Bảng 2.13: Số lượng Đại lý hoàn thành chỉ tiêu doanh thu phí BH Error:
Reference source not found
Bảng 2.14: Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) của Bảo Ngân Error: Reference
source not found
Bảng 2.15: Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) của Bảo Ngân Error: Reference
source not found
Bảng 2.16: Doanh thu phí BH gốc của Bảo Ngân, ABIC và BIC. Error: Reference
source not found
Bảng 2.17: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của Bảo Ngân Error: Reference source
not found
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: So sánh doanh thu phí bảo hiểm gốc của Bảo Ngân, ABIC và BIC
Error: Reference source not found
HÌNH VẼ

1.1.2.3 Hoạt động đầu tư 10
1.1.2.3 Hoạt động đầu tư 10
1.1.2.4 Các hoạt động khác 11
1.1.2.4 Các hoạt động khác 11
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ [1], [8], [11], [16] 12
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ [1], [8], [11], [16] 12
1.2.1. Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh 12
1.2.1. Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh 12
1.2.1.1. Cạnh tranh 12
1.2.1.1. Cạnh tranh 12
1.2.1.2. Các hình thức cạnh tranh 13
1.2.1.2. Các hình thức cạnh tranh 13
1.2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ [1], [8], [11], [16] 15
1.2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ [1], [8], [11], [16] 15
1.2.2.1 Khái niệm 15
1.2.2.1 Khái niệm 15
1.2.2.2 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực canh tranh của DNBH PNT 16
1.2.2.2 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực canh tranh của DNBH PNT 16
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DNBH PNT 18
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DNBH PNT 18
1.2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh DNBH PNT [13] 22
1.2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh DNBH PNT [13] 22
1.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CANH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 27
1.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CANH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 27
1.3.1 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) 27
1.3.1 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) 27
1.3.2 Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) 28
1.3.2 Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) 28
1.3.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 29
1.3.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 29

2.2.3.2 Kết quả hoạt động nhận tái bảo hiểm 58
2.2.3.2 Kết quả hoạt động nhận tái bảo hiểm 58
2.2.3.3 Hoạt động đầu tư 58
2.2.3.3 Hoạt động đầu tư 58
2.3. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM 59
2.3. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM 59
2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá 60
2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá 60
b. Thị phần của Bảo Ngân qua các năm 61
b. Thị phần của Bảo Ngân qua các năm 61
2.3.3. Kết quả đánh giá 70
2.3.3. Kết quả đánh giá 70
CHƯƠNG 3 74
CHƯƠNG 3 74
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 74
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 74
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 74
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 74
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM 74
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM 74
3.1.1 Chiến lược phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2020 74
3.1.1 Chiến lược phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2020 74
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty bảo hiểm NHCT Việt Nam 76
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty bảo hiểm NHCT Việt Nam 76
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHCT VIỆT NAM 77
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHCT VIỆT NAM 77

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia : Kinh doanh bảo hiểm được coi là tấm lá
chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức, cá nhân đồng thời huy động nguồn vốn cho
đầu tư phát triển. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có sự phát triển vượt bậc với tốc độ
nhanh và sự trưởng thành về nhiều mặt. Thị trường bảo hiểm cũng trở nên cạnh
tranh gay gắt hơn. Để có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra của nền kinh tế và đạt
được hiệu quả kinh doanh như mong muốn, các doanh nghiệp cần phải không
ngừng hoàn thiện mình để phát triển. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh
tranh trở thành một vấn đề tất yếu không thể thiếu trong hoạt động của doanh
nghiệp bảo hiểm.
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam là một công ty hoạt
động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, mới ra đời , với quy mô nhỏ so với các
doanh nghiệp bảo hiểm khác đã hoạt động lâu năm trên thị trường. Trong điều kiện
thị trường bảo hiểm hiện nay, Công ty cũng bị cạnh tranh gay gắt bởi các đối thủ
trong và ngoài nước. Trước tình hình này, để có thể giữ vững được vị thế và thị
phần của mình trên thị trường bảo hiểm, Công ty cần phải đặt ra cho mình những
mục tiêu rõ ràng và chiến lược phát triển cụ thể trong từng thời kỳ, giúp cho doanh
nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường cũng như trước
đối thủ cạnh tranh. Với mong muốn đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh cho công ty, tác giả đã lựa chọn đề tài : “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ. Từ đó hoàn thiện, bổ sung hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh
tranh của Doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ.
Làm rõ tính tất yếu khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các

cậy và phù hợp với các phương pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng.
5. Những đóng góp khoa học của luận văn
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm,
khẳng định sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
2
Đánh giá được thực trạng hoạt động kinh doanh, tình hình thị trường dịch vụ
bảo hiểm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt
Nam trong thời gian qua. Làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế đó trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam. Đề xuất phương hướng và các giải
pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty.
6. Kết cấu của luận văn
Tên luận văn : “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm
Ngân hàng Công thương Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương :
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
Doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ Việt Nam
Chương 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của
công ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam
Chương 3 : Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm
Ngân hàng Công thương Việt Nam.
3
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ [12],[13]
Mỗi cá nhân hay tổ chức tất yếu đều có nhu cầu về sự an toàn, do đó họ luôn

bảo hiểm cho những rủi ro xảy ra trong tương lai và có tính bất ngờ không chắc
chắn, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người được bảo hiểm…Những
đặc trưng của rủi ro được bảo hiểm tự nó nói lên phạm vị mà các nhà bảo hiểm phải
xác định và lựa chọn. Điều này cũng ảnh hưởng ít nhiều tới hoạt động kinh doanh
của DNBH .
Thứ ba; KDBH thường gắn liền với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm. Kinh
doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh
lời, theo đó DNBH nhận một khoản phí bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho
trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Ngoài ra, kinh doanh tái bảo hiểm còn giúp DNBH
mở rộng quan hệ với các bạn hàng, tranh thủ nguồn vốn, kinh nghiệm nắm thêm
thông tin, hỗ trợ đào tạo cán bộ và đặc biệt là nâng cao năng lực khai thác của chính
DNBH
Bảo hiểm phi nhân thọ vẫn được sử dụng như một khái niệm tổng hợp mang
ý nghĩa hàm chứa tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại (bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm trách nhiệm dân sự) và các nghiệp vụ bảo hiểm con người không thuộc bảo
hiểm nhân thọ (bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm bệnh tật, ốm đau…). Theo luật kinh
doanh bảo hiểm Việt Nam giải thích về thuật ngữ bảo hiểm phi nhân thọ như sau:
“Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và
các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”.
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là :
Đối tượng kinh doanh đa dạng bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn. Nguồn vốn của
DNBH bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu được, lãi đầu tư….Trong đóa, vốn
điều lệ phải đảm bảo như mức vốn pháp định do luật quy định.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải luôn có dự phòng nghiệp vụ. Doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm từ phí bảo
hiểm của từng nghiệp vụ đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp. Bởi lẽ
kinh doanh bảo hiểm có sự tích lũy rủi ro, Phí bảo hiểm thu được các DNBH phải
5
trích dự phòng bồi thường, dự phòng dao động lớn và dự phòng toán học.

6
bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên
mua bảo hiểm, hớng dẫn giải thích về mọi thủ tục cần thiết để ngời tham gia bảo
hiểm lập hồ sơ khiếu nại đòi tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
- DNBH cũng có những quyền lợi cụ thể tương ứng với trách nhiệm đã nhận,
đó là quyền thu phí bảo hiểm, quyền đề nghị được sửa đổi một số điều kiện, điều
khoản của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng…
Nếu DNBH đã thực hiện việc bồi thường thì được phép thế quyền người đư-
ợc bảo hiểm để yêu cầu người thứ ba hoàn lại toàn bộ hoặc một phần số tiền đã bồi
thường do lỗi của người thứ ba đó gây ra.
Người tham gia bảo hiểm cũng có quyền và nghĩa vụ riêng:
- Người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ khai báo trung thực mọi thông tin mà
họ biết được liên quan đến đối tượng bảo hiểm ngay từ khi giao kết hợp đồng bảo
hiểm, đóng phí bảo hiểm đầy đủ, khai báo trung thực khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,
có nghĩa vụ đề phòng và ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất, bảo lưu quyền đòi ngư-
ời thứ ba cho DNBH…
- Người tham gia bảo hiểm có quyền được hưởng khoản tiền bồi thường hoặc
thanh toán tiền bảo hiểm từ DNBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; quyền được cung
cấp mọi thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và quá trình lập hồ sơ khiếu nại
bảo hiểm, quyền được thay đổi một số điều kiện, điều khoản trong hợp đồng…
Thông qua kết quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, DNBH sẽ thể
hiện được vị trí và hình ảnh của mình, từ đó phát huy được năng lực cạnh tranh trên
thị trường và đặt biệt là trước đối thủ cạnh tranh. Kết quả KDBH gốc là nền tảng
giúp DNBH có đủ tiềm lực để khuyếch trương hoạt động và tăng cường hoạt động
đầu tư nhằm mang lại nhuận cao và sự phát triển bền vững.
Các sản phẩm bảo hiểm của DNBH PNT luôn thể hiện ở cả 3 loại hình
bảo hiểm, đó là: Bảo hiểm tài sản (BHTS), bảo hiểm trách nhiện dân sự
(BHTNDS), bảo hiểm con người phi nhân thọ (BHCN).
Bảo hiểm tài sản: Đây là loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là
tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm. Ví dụ, bảo hiểm cho thiệt

doanh nghiệp có thêm nguồn thu nhập, vì thế hoạt động này lại càng được chú
trọng tới. Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm hoạt động nhận tái bảo hiểm và hoạt
động nhượng tái bảo hiểm.
a. Nhận tái bảo hiểm :
Nhận tái bảo hiểm là việc một DNBH nhận bảo hiểm cho một phần rủi ro
của một DNBH khác trong một hợp đồng bảo hiểm gốc. Đứng trên góc độ KDBH
8
thì hoạt động nhận tái bảo hiểm như là một hình thức bán bảo hiểm. Sau khi nhận
tái bảo hiểm, người nhận tái bảo hiểm có thể nhượng tái bảo hiểm cho những người
nhận tái bảo hiểm khác.
Hoạt động nhận tái bảo hiểm có mục đích là để tăng thêm nguồn thu phí bảo
hiểm cho doanh nghiêp, ngoài ra, mục đích lớn hơn của hoạt động nhận tái bảo
hiểm là việc chia sẻ rủi ro giữa các DNBH. Trong mối quan hệ đan xen với nhau
trên thị trường, một DNBH khi thì đứng ở vị trí người nhận lại rủi ro nhưng có khi
lại ở vị trí là người chia sẻ rủi ro.
Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có trách nhiệm đối với các rủi ro mình nhận
về tương đương về mặt phạm vi và các điều kiện điều khoản như DNBH gốc đã
nhận với khách hàng. Tuy nhiên, giới hạn trách nhiệm sẽ tương ứng với tỷ lệ nhận
tái bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm gốc. Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,
công ty nhận tái bảo hiểm cũng phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường và trả tiền bảo
hiểm cho công ty bảo hiểm nhượng tái theo đúng phần trách nhiệm mình đã nhận.
Để bù đắp các chi phí mà DNBH gốc đã bỏ ra để ký kết được hợp đồng bảo
hiểm với khách hàng, công ty nhận tái bảo hiểm phải chi trả cho công ty nhượng tái
bảo hiểm một khoản chi phí nhất định gọi là hoa hồng nhượng tái bảo hiểm. Tương
ứng với phần trách nhiệm nhận về, công ty nhận tái bảo hiểm sẽ nhận được một
phần doanh thu phí bảo hiểm từ phía công ty nhượng tái, đây chính là doanh thu từ
hoạt động nhận tái bảo hiểm.
b.Nhượng tái bảo hiểm :
Có thể thấy rằng, nhu cầu an toàn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn
được đặt lên hàng đầu, do đó một DNBH cũng phải tìm cách tự bảo hiểm cho chính

với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, và hai hoạt đồng này có mối quan hệ hỗ trợ và
bổ sung cho nhau.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có chu kỳ kinh doanh đảo ngược, có nghĩa
là doanh nghiệp sẽ có doanh thu trước và chi phí kinh doanh thì lại được xác định
sau. Chính vì đặc điểm này nên các DNBH luôn nắm trong tay một lượng vốn tạm
thời nhàn rỗi rất lớn. Và tất nhiên để tận dụng tối đa nguồn vốn này, doanh nghiệp bảo
hiểm sẽ sử dụng nó để đầu tư vào các lĩnh vực được sự cho phép của Nhà nước như:
gửi ngân hàng, mua trái phiếu Chính phủ, đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh, đầu
tư bất động sản…Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao
năng lực tài chính, từ đó tăng khả năng chi trả bảo hiểm cho khách hàng.
Theo thống kê của một số công ty bảo hiểm lớn trên thế giới thì doanh thu
10
phí bảo hiểm thu được từ hoạt đong kinh doanh bảo hiểm thường xấp xỉ bằng số
tiền mà doanh nghiệp phải chi trả bồi thường. Vì thế nếu không có hoạt động đầu tư
thì lợi nhuận của doanh nghiệp gần như là không có, do đó hoạt động đầu tư sẽ là
yếu tố để quyết định về lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm.
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Xem xét ở góc độ là hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm
thì DNBH còn có một số hoạt động khác như: Giám định, bồi thường và đòi người
thứ ba……
Giám định là hoạt động do DNBH trực tiếp tiến hành hoặc thông qua một
công ty hoặc đại lý giám định khác để thực hiện việc xác định nguyên nhân và mức
độ tổn thất nhằm phục vụ cho công tác giải quyết bồi thường và trả tiền bảo hiểm
cho khách hàng.
Bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm là việc DNBH thực hiện cam kết trong
hợp đồng bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm một khoản tiền nhất định khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Đòi người thứ ba là hoạt động do DNBH trực tiếp tiến hành hoặc thông qua
một công ty hoặc đại lý trung gian khác thực hiện để yêu cầu người thứ ba phải bồi
hoàn cho những tổn thất do lỗi của người thứ ba đó gây nên sau khi DNBH đã bồi

của các nhà tư bản. Theo Các Mác: “Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Theo quan
niệm này thì cạnh tranh là sự chèn ép, lấn át lẫn nhau để tồn tại , như vậy nó
mang ý nghĩa hoàn toàn tiêu cực.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi
cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do
vậy, cạnh tranh có thể được hiểu như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu
tranh gay gắt, quyết liệt giữa các đối thủ trên thương trường trong việc thu hút
khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá
và thu được lợi nhuận cao”.
Như vậy, cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị
trường. Mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn về vấn đề này, đồng thời
dựa vào thế mạnh của mình để tự trang bị cho mình những hình thức cạnh tranh phù
hợp và linh hoạt sao cho thích ứng với từng thời kì và mục tiêu khác nhau để vươn
tới vị thế cao nhất.
Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác, cạnh tranh giữa các
12
doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, để thu nhiều lợi nhuận diễn ra liên tục,
gay go, quyết liệt. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật. Do đặc điểm
của SPBH là dễ bắt chước, không bảo hộ bản quyền nên các DNBH “đổ xô” vào
những sản phẩm được thị trường chấp nhận (ngoài việc tung vào thị trường những
sản phẩm mới) bằng cách cải tiến để hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp
khác; bằng cách tuyên truyền quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu húy khách hàng
và đặc biệt giảm chi và tăng tỷ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường v.v… Thực tế sôi động đó đã được chứng minh khi thị trường bảo hiểm Việt
Nam có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia.
Cùng với cạnh tranh là liên kết. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng phát
triển. Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới, còn yếu về tiềm lực để
tạo ra sức mạnh cạnh tranh; liên kết giữa các doanh nghiệp có thế mạnh để hoàn

được những lời cam kết bồi thường bằng tiền hoặc hàng hoá theo giá trị tương đ-
ương với một tổn thất theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Việc xác định giá
cả sản phẩm thường phải tiến hành theo chu trình ngược, vì khoản chi lớn nhất cho
một sản phẩm bảo hiểm thường là chi bồi thường; nhưng khoản chi này lại chưa thể
xác định chính xác khi định phí bảo hiểm.
Từ những đặc điểm trên mà hầu hết khách hàng đều không quan tâm hoặc có
thái độ thờ ơ với sản phẩm của DNBH. Do đó, chất lượng sản phẩm bảo hiểm được
đánh giá hoàn toàn thông qua mức độ thoả mãn yêu cầu của khách hàng cùng với
các dịch vụ sau bán hàng như giám định, bồi thường , Đây là đặc điểm cạnh tranh
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với nhân tố khách hàng là
trung tâm của sự phục vụ. Để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, các
DNBH phi nhân thọ phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm thoả
mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
b. Cạnh tranh về giá:
Phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm, đó là khoản tiền mà bên mua
bảo hiểm đóng cho DNBH theo thời hạn và phuơng thức do các bên thoả thuận
trong HĐBH để đổi lại lấy sự bảo đảm trước các rủi ro chuyển sang cho DNBH.
Cơ cấu phí bảo hiểm thường bao gồm hai phần:
Phí thuần là khoản phí phải thu cho phép DNBH đảm bảo chi trả, bồi thường
cho các tổn thất được bảo hiểm có thể xảy ra. Khoản phí này thường chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng phí toàn bộ và đuợc tính dựa trên một số căn cứ như: xác xuất xảy ra
rủi ro; cường độ tổn thất; số tiền bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; lãi suất đầu tư.
Phụ phí là khoản phí cần thiết để DNBH đảm bảo cho các khoản chi trong
14
hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm, gồm: chi hoa hồng, chi quản lý hành chính, chi đề
phòng hạn chế tổn thất, chi thuế Nhà nuớc. [12]
Công thức:
P = f + d (1.1)
Trong đó: P: Phí bảo hiểm
f: phí thuần

trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao
đời sống của nhân dân.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và
ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của
sản phẩm và dịch vụ cụ thể trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Đó là dựa vào chất lượng, vào
tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, vào yếu tố công nghệ trong sản phẩm, dịch
vụ nhiều hơn.
1.2.2.2 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực canh tranh của
DNBH PNT
a. Cạnh tranh là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, phạm trù cạnh tranh hầu
như không tồn tại. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế được nhà nước bao cấp hoàn
toàn về vốn, chi phí, kể cả khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Điều này đã tạo nên sức
ỳ cho các doanh nghiệp khiến nền kinh tế không thể phát triển. Chính vì vậy, Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã quyết định xoá bỏ bao cấp, chuyển sang
nền kinh tế thị trường. Cùng với sự ra đời của nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước hoạt động kinh doanh của mình, phải ganh
đua với các doanh nghiệp khác để tồn tại và phát triển, để tránh nguy cơ phá sản.
Phạm trù cạnh tranh ra đời và trở thành thuộc tính của nền kinh tế thị trường.Nền
kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh diễn ra càng gay gắt và quyết liệt.
Các doanh nghiệp bắt buộc phải cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không
ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là
yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì
16
cạnh tranh là động lực buộc doanh nghiệp phải nỗ lực tìm mọi biện pháp để sản
xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Theo

lượng, DNBH nước ngoài cũng mang đến hệ thống dịch vụ và sản phẩm phong phú
hơn. Cụ thể, hàng loạt DNBH nước ngoài đang tấn công vào loại hình dịch vụ tái
17

Trích đoạn Nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ Phát triển thương hiệu Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý và phát triển nguồn nhân lực Áp dụng công nghệ mới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status