đánh giá tình trạng bệnh bại não tại khoa nhi bệnh viện châm cứu trung ương - Pdf 23

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN HỒNG HẠNH
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH BẠI NÃO TẠI
KHOA NHI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG
(2010-2011)
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Hà Nội 2011
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN HỒNG HẠNH
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH BẠI NÃO TẠI
KHOA NHI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG
(2010-2011)
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
CHUYÊN NGHÀNH Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y6 Chuyên ngành Y học cổ truyền Khóa 2006 -2012
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Lê Thành Xuân
Hà Nội 2011
3
ĐẶT VẤN ĐỀ

Bại não là thuật ngữ chỉ một nhóm tình trạng bệnh lý mạn tính ảnh
hưởng đến sự kiểm soát các vận động cũng như tư thế. Do một phần nào đó
của bộ não bị tổn thương nên trẻ bệnh không thể cử động các cơ được vùng
não đó điều khiển một cách bình thường được. Các triệu chứng của bại não có
thể nhẹ nhàng hoặc rất nặng nề ở các trẻ khác nhau tùy theo tổn thương não
nhưng ở một trẻ nhất định thì triệu chứng không nặng lên khi trẻ lớn hơn. Nói

1. Khảo sát tình trạng bệnh Bại não tại Khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu
Trung ương năm 2010 - 2011.
2. Sơ bộ đánh giá kết quả phương pháp Điện châm kết hợp Thủy châm
trong điều trị Bại não.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. QUAN NIỆM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ BẠI NÃO
1.1. Lược Sử
Vào năm 1860, William Little, một phẫu thuật viên chỉnh hình người
Anh đã cho xuất bản những bài báo đầu tiên về một rối loạn khó hiểu ảnh
hưởng đến trẻ em trong những năm đầu đời gây nên co cứng rõ các cơ ở chân
và ở tay nhưng mức độ nhẹ hơn. Những đứa trẻ này có khó khăn trong cầm
nắm đồ vật, bò và đi lại. Những rối loạn này không cải thiện khi trẻ lớn lên
nhưng cũng không nặng nề hơn. Tình trạng này đầu tiên được gọi là bệnh
Little trong nhiều năm. Những đứa trẻ này dường như sinh non hoặc do biến
chứng trong quá trình sinh nở nên Little đưa ra giả thiết là chứng bệnh này là
hậu quả của tình trạng thiếu ôxy não trong lúc sinh. Ông ta cho rằng sự thiếu
ôxy này đã làm tổn thương những vùng não nhạy cảm có chức năng kiểm soát
vận động.
Tuy nhiên vào năm 1897, nhà tâm lý học lừng danh người Áo Sigmund
Freund đã không tán thành giả thiết này. Do quan sát thấy những trẻ này có
các rối loạn khác như chậm phát triển tinh thần, rối loạn thị lực và động kinh
nên Freund cho rằng rối loạn này có thể bắt nguồn từ rất sớm trong quá trình
phát triển của não bộ khi trẻ còn đang trong giai đoạn bào thai [22], [24], [26].
Ở Nga, mặc dù bệnh này dã được biết đến từ lâu, nhưng từ thời Liên Xô
cũ cho tới nay cũng chưa có nhiều nghiên cứu sâu về vấn đề này. Một số tác
giả nghiên cứu những vấn đề riêng lẻ xung quanh nguyên nhân và cơ chế gây
bệnh (Popop V.P., Cyxlic M.Y., Grigoreva E.I.). Hiện nay cuốn sách được
6

bại não ở Việt Nam [4], [5].
Năm 2003, Bùi Thị Thanh Thúy nghiên cứu “tác dụng của điện mãng
châm điều trị liệt vận động ở trẻ bại não do một số nguyên nhân trong khi
sinh “ đã đưa ra một số kết luận về hiệu quả điều trị của điện mãng châm trên
vận đông thô sơ và vận động tinh tế trên các lứa tuổi và các thể lâm sàng
của trẻ bại não do nguyên nhân trong khi sinh. Đề tài này cũng chỉ ra sự
thay đổi các chỉ số điện cơ sau so với trước điều trị bằng điện mãng châm ở
trẻ bại não [10].
Các công trình nghiên cứu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp phù hợp để điều trị cho
trẻ bại não ở Việt Nam. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về đánh giá
tình hình bại não ở Việt Nam cũng như đánh giá về hiệu quả tác dụng của
các phương pháp điều trị liệt, đặc biệt là trong lĩnh vực y học cổ truyền cho
trẻ bại não tại Việt Nam còn khá ít chưa đáp ứng được tình hình bệnh tật tại
Việt Nam
1.2. Một số định nghĩa về bại não
Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình Phelps người đầu tiên (1950) đề xướng ra từ
bại não (Cerebral palsy) đề phân biệt triệu chứng bại não với triệu chứng bệnh
lý của bệnh bại liệt. Ông đã định nghĩa như sau: “Bại não là những rối loạn về
vận động và giác quan của một nhóm trẻ mà khởi đầu không bị khiếm khuyết
về tâm thần. Sự co giật, múa vờn, cứng đờ, rung và mất điều phối là những
biều hiện quan trọng”
8
Theo vật lý y khoa và y học phục hồi của Herman, Kamenetz L từ bại não
dùng đề chỉ các khiếm khuyết về vận động vì tổn thương não do nguyên nhân
liên quan tới sự sinh đẻ, có ý nghĩa là bệnh xảy ra trước và trong khi sinh.
Viện bệnh lý thần kinh quốc gia Hoa Kỳ, qua cuộc khảo sát phối hợp về
những yếu tố chu sinh liên quan tới bại não (1985) đã đưa ra định nghĩa như
sau: “Bại não là một nhóm những rối loạn của hệ thần kinh trung ương gây
ra do nhiều nguyên nhân ảnh hưởng vào các giai đoạn trước khi sinh, khi

Trong khoảng 70% trường hợp, bại não có thể là do những bất thường
xảy ra trước sinh làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường của não.
Theo báo cáo năm 2003 của Hội Sản và Phụ khoa Hoa Kỳ (American College
of Obstetricians and Gynecologists - ACOG) và Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa
Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP) thì thiếu ôxy trong quá trình
sinh đẻ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các trường hợp bại não. Mặc dù nhiều
trường hợp người ta chưa thể xác định được căn nguyên nhưng các nguyên
nhân được biết của bại não bao gồm:
Nhiễm trùng trong thai kỳ
Các nhiễm trùng ở phụ nữ có thai như rubella (sởi Đức), cytomegalovirus
và toxoplasmosis có thể gây tổn thương não của bào thai và gây bại não sau
này. Các nhiễm trùng khác như nhiễm trùng ối, nhiễm trùng hệ tiết niệu –
sinh dục của người mẹ cũng có thể gây nên sinh non, một nguy cơ khác của
bại não.
Thiếu khí não bào thai
10
Khi chức năng của nhau thai bị giảm sút (suy nhau thai) hoặc bị bóc tách
khỏi thành tử cung trước khi sinh (nhau bong non) hoặc do chảy máu do sai
lệch vị trí (nhau tiền đạo) có thể làm giảm lượng ôxy cung cấp cho thai nhi.
Sinh non
Sinh non là trẻ sinh ra trước 37 tuần thai tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh
nguyệt cuối cùng trước khi có thai. Những trẻ sinh non đặc biệt trước 32 tuần
và nhất là trước 28 tuần thai có nguy cơ bại não rất cao. Một nghiên cứu cho
thấy những trẻ sinh non có cân nặng lúc sinh thấp hơn 1500 gram có nguy cơ
bại não cao gấp 30 lần so với trẻ sinh đủ tháng (trẻ sinh từ 37 đến 42 tuần
thai). Lý do là trẻ sinh non có nguy cơ rất cao bị xuất huyết não gây tổn
thương các tổ chức mong manh đang phát triển của não hoặc gây nên chứng
nhuyễn hóa chất trắng quanh não thất.
Ngạt trong quá trình chuyển dạ và sinh nở
Cho mãi đến gần đây người ta vẫn còn tin tưởng rộng rãi là ngạt (thiếu

não thành 2 thể:
1. Bại não thể liệt co cứng (70%)
2. Bại não thể ngoại tháp (30%) gồm các dạng sau:
• Thể dạng múa vờn
• Thể thất diều.
• Thề liệt nhẽo (giảm trương lực cơ )
• Thể loạn trương lực cơ
• Thể phối hợp
Triệu chứng:
1.5.1. Các triệu chứng lâm sàng của thể liệt co cứng:
12
• Tăng trương lực cơ (khi vận động gấp duỗi khó khăn, trẻ cứng lại
chống lại sự gấp duỗi của bác sĩ)
• Bàn tay luôn nắm chặt
• Bàn chân duỗi chéo cứng đơ
• Phản xạ gân xương rất nhạy
• Phản xạ sơ đẳng như phản xạ trương lực cơ cổ không cân xứng giữ lâu
• Yếu toàn thân, suy dinh dưỡng
• Các vận động tế nhị ít dần
• Đặc biệt trẻ không cử động riêng biệt từng khớp được ( không thể gập
cổ tay hay gập gối)
• 40% liệt nửa người bên phải nhiều hơn liệt nửa người bên trái. Yếu tay
mặt nhiều hơn chân
• Khó chẩn đoán liệt nửa người ở trẻ 4-6 tháng, dấu hiệu sớm của liệt
nửa người là có phản xạ trương lực cơ cổ không cân xứng, không có
phản xạ cầm nắm.
• 20% có liệt cứng tứ chi. Khởi đầu giảm trương lực cơ, về sau chuyển
thành tăng trương lực cơ. Hai chi trên gấp lại, hai chi dưới thì bắt chéo.
• Nhiều trẻ thấy tăng trương lực cơ duỗi
• 5-10% có liệt 2 chi(thể này gặp nhiều ở trẻ đẻ non). Hai chi dưới liệt

• Nói khó, nói ngọng
• Động kinh
• Biến dạng xương khớp
• Rối loạn hành vi khí sắc
1.5.4. Xét ngiệm hỗ trợ
Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm não qua thóp, chụp cắt
lớp vi tính (CT: Computerised Tomography) đặc biệt là chụp cộng hưởng từ
(MRI: Magnetic Resonnance Imaging) cho biết những thông tin giá trị về tổn
thương não. Các xét nghiệm hóa sinh hay di truyền tùy theo hướng chẩn đoán
trên lâm sàng. Đo điện não đồ (EEG: ElectroEncephaloGram) cũng là một xét
nghiệm cơ bản không thể thiếu trong chẩn đoán bại não cũng như các bệnh
của hệ thần kinh trung ương khác [2] [11].
14
1.6 .Chẩn đoán [2]:
1.6.1. Chuẩn đoán xác định
Chẩn đoán khó ở trẻ nhũ nhi
• Vì ở trẻ nhỏ vẫn còn tiếp tục myelin hóa dây thần kinh trong tổ chức
não, do đó trẻ sơ sinh vẫn chưa thể chẩn đoán là bại não;
• Hội chứng thường gặp để chẩn đoán bại não là chậm phát triển vận
động lúc được 6 tháng, trẻ chưa thể giữ được cổ, chưa ngồi được, sau
này không có phản xạ đứng, không chịu đi. Phản xạ trương lực cơ cổ
không cân xứng giữ lâu.
Chẩn đoán bại não sau 1 tuổi
• Có nhiều triệu chứng sớm của bại não
• Thay đổi trương lực cơ có thể là:
• Giảm trương lực cơ
• Trương lực cơ tăng hai chân bắt chéo
• Hai tay nắm chặt
• Ở tư thế nằm thân ưỡn cong: chống đối gián tiếp với nắn bóp
• Phản xạ sơ khai tồn tại lâu( phản xạ trương lưc cơ cổ không cân xứng)

• Kích thích tủy sống : Barolat và cộng sự (1988), Hugenhltz và cộng sự
(1988) dã dùng điện kích thích tủy sống qua các điện cực đặt trên màng
cứng [26].
• Cắt thần kinh tủy sống có chọn lọc.
• Phẫu thuật kéo dài hoặc chuyển gân, phẫu thuật cố định khớp cổ tay bị
liệt và biến dạng [28].
• Hiện nay người ta còn ngiên cứu một số phẫu thuật để điều trị cho trẻ
bại não như dặt điện cực lâu dài kích thích tiểu não và vùng đồi thị chỉ
huy cảm giác bản thể
Nội khoa
16
• Điều trị dùng thuốc: thuốc thường được dùng trong điều trị trẻ bại não
như một phương pháp điều trị triệu chứng. Ví dụ thuốc giảm co cứng,
thuốc chống loạn dưỡng cơ, thuốc giảm vận động không tự chủ.
• Vật lý trị liệu trong phục hồi chức năng vận động cho trẻ bại não: vật lý
trị liệu được coi là phương pháp có nhiều ưu điểm trong phục hồi chức
năng vận động cho trẻ bại não. Phương pháp này nên dược tiến hành từ
sớm ngay khi trẻ được chẩn đoán là bại não. Vật lý trị liệu có tác dụng
phòng ngừa các biến chứng thứ phát về thần kinh cơ, cải thiện chức
năng vận động
• Trong thời đại hiện nay vật lý trị liệu được coi là phương pháp mà hầu
hết trẻ bại não có thể được điều trị, phương pháp này thích hợp với trẻ
ở mọi lứa tuổi.Tuy nhiên trẻ cũng phải đủ lớn và không có những rối
loạn tâm trí để hiểu và phối hợp với thầy thuốc trong những bài tập, đặc
biệt là những bài tập về vận động tinh tế. Ngoài ra nó cũng đòi hỏi
những trung tâm chuyên phục hồi và những dụng cụ chuyên dụng
1.8. Phòng ngừa
Hiện nay y học vẫn chưa hiểu hết các nguyên nhân gây bại não do đó
việc phòng ngừa không đạt hiệu quả như mong muốn.
Nâng cao chất lượng chăm sóc phụ nữ trong tuổi sinh đẻ và phụ nữ có

18
kém, đến nỗi sinh ra gân xương mềm yếu, đi lại khó khăn, răng mọc chậm
ngồi vững…chủ yếu đều do thận khí không đầy đủ [13].
Chứng trẻ em thận khí hư nhược trong quá trình biến hóa và phát triển bệnh
cơ mười phần phức tạp bởi vì thận là gốc của tiên thiên, là cội nguồn sinh
trưởng và phát dục, thận khí hư yếu, thì nguồn hóa sinh ra thận tinh bất túc,
dẫn đến cơ năng tạng phủ ở toàn thân phát sinh bệnh biến. Do thận chứa tinh,
tinh sinh tủy, tủy ở trong xương tư dưỡng các khớp. Khi thận khí hư yếu,
không còn nguồn sinh hóa cho cốt tủy, làm cho chất xương ở trẻ mềm yếu,
hoặc lưng gối không mạnh, chân mềm rũ không đi đứng được. Thận hư thì
não tủy bất túc, làm xuất hiện các chứng kém trí khôn, tư duy đần độn…
Sách Bảo An Toàn Yết viết: “Năm chứng bệnh này là do bẩm thụ khí hư
nhược của năm tạng, không được tư dưỡng dồi dào nên xương mạch không
mạnh, chân tay thân mình mềm yếu” [14].
Thận là gốc của tiên thiên, là cơ sở của hậu thiên. Tỳ là gốc của hậu thiên.
Trẻ bại não là do tiên thiên bất túc, thường dẫn đến “hậu thiên bất hòa”. Đó là
do thận khí hư yếu, hỏa của mệnh môn bất túc, không có khả năng làm ấm tỳ
dương, tỳ không vận hóa được thủy cốc và bổ sung tinh cho thận dẫn đến tỳ
thận đều hư. Ngoài ra, do dinh dưỡng kém, cũng làm cho tinh huyết kém vì
không có nguồn hóa sinh tân dịch. Điều này góp phần làm cho bệnh trầm
trọng thêm, gây phát dục chậm, tinh thần chậm chạp [12].
Mặt khác thận sinh ra huyết, huyết lại tàng trữ ở can. Do đó khi thận tinh
hư tổn dẫn đến can huyết bất túc và ngược lại. Ngoài ra can chủ cân nên trên
lâm sàng thấy trẻ không đi dược, chân tay co cứng, co vặn, răng nghiến chặt,
ở nhiều trẻ có cơn động kinh.
Hải Thượng Lãn Ông (1724- 1791) trong tác phẩm Y Tông Tâm Lĩnh,
đã phân tích nguyên nhân và cơ chế của bệnh như sau: năm chứng mềm (ngũ
19
nhuyễn) là do thai yếu đuối. Có trẻ vì tinh cha huyết mẹ kém mà sinh ra. Có
trẻ vì huyết người mẹ đã lạnh mà còn cố dùng thuốc bổ vào mà có thai, người

- Phát triển thể chất và trí tuệ kém: nói không rõ, thóp không kín, cổ,
lưng mềm.
- Rêu lưỡi trắng, mạch vi tế.
2.2.3.2. Thể Can Thận âm hư
- Liệt hai chi dưới, cổ gáy cứng, chân tay cử động chậm.
- Khi đứng chân co rút, bước không thẳng.
Ngoại nhân Tiên thiên bất túc Hậu thiên thất dưỡng
Chấn thương Thận hư Tỳ hư
Huyết hư
Cân cơ không được nuôi dưỡng Não tủy thiếu dưỡng
Ngũ trì, Ngũ nhuyễn, Nuy chứng
21
- Mặt, mắt co kéo, nói không rõ.
- Lưỡi đỏ, mạch vi sác.
2.2.3.3. Thể Âm tân hư
- Liệt tứ chi, cơ teo, môi miệng khô nứt, kèm sốt thấp.
- Đạo hãn. Lưỡi đỏ, rêu nứt, mạch tế sác.
2.2.3.4. Thể Ứ tắc não lạc:
- Liệt chi dưới, trí lực giảm, tóc rụng, gân nổi rõ ở mặt, đầu.
- Tứ chi quyết lạnh.
- Chất lưỡi tối tím, mạch tế sáp.
2.2.3.5. Thể Đàm thấp nội tắc:
- Liệt tứ chi, có đờm ở họng, có khi điên hoặc co giật, kèm buồn ói,
ói mửa.
- Rêu vàng nhớt. Mạch hoạt sác.
2.2.4. Điều trị
2.2.4.1. Điều trị không dùng thuốc
2.2.4.1.1. Tóm tắt tình hình điều trị bại não bằng phương pháp châm cứu
Mặc dù chưa phải là phương pháp điều trị đặc hiệu nhưng ngày càng co
nhiều nước trên thế giới sử dụng châm cứu để điều trị cho trẻ em bại não.

23
dụng tăng cường và duy trì kích thước của kim châm vào huyệt (giống như
châm cứu) để nâng cao hiệu quả chữa bệnh.
Hiện nay những loại thuốc thủy châm hay dung gồm có: mecotran,
methylcoban…
Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng của châm cứu
với tác dụng của dòng điện qua một máy điện châm (là loại máy phát ra dòng
điện một chiều hoặc dòng điện xung, có nhiều đầu kích thích, tính năng ổn
định an toàn, điều chỉnh thao tác dễ dàng và đơn giản được sử dụng rộng rãi).
Kích thích của dòng điện một chiều và hoặc dòng điện xung có tác dụng làm
dịu đau, ức chế cơn đau điển hình, nhất là tác dụng của châm tê, kích thích
hoạt động các cơ, các tổ chức và tăng cường dinh dưỡng các tổ chức, làm
giảm viêm, giảm xung huyết, giảm phù nề tại chỗ [16].
2.2.4.1.2. Nguyên tắc chung trong phục hồi di chứng
Thông thường phương pháp điều trị không dùng thuốc được sử dụng để
phục hồi di chứng bại não. Việc phục hồi di chứng không thể tách rời với
tổng trạng chung của trẻ, do đó mà luôn luôn có sự phối hợp giữa điều trị
bằng thuốc và không dùng thuốc cho mục tiêu này.
Trong điều trị không dùng thuốc di chứng của bại não, cần chú ý đến hệ
thống kỳ kinh bát mạch vì như phần cơ chế bệnh sinh YHCT đã nêu. Bệnh bại
não có quan hệ chặt chẽ đến tình trạng của tiên thiên và hệ thống thận. Và các
kỳ kinh đều bắt nguồn từ hệ thống thận - bàng quang. (Thiên Động du, sách
Linh khu có đoạn: “Xung mạch là biển của 12 kinh, cùng với đại lạc của kinh
Túc thiếu âm, khởi lên từ bên dưới của thận (khởi vu thận hạ) …”. Thiên Bản
du, sách Linh khu có đoạn: “Mạch nhâm và đốc bắt nguồn từ thận và thông
với âm dương của Trời đất”. Những mạch âm kiểu, dương kiểu, âm duy và
24
dương duy xuất phát tuần tự từ những huyệt Chiếu hải, Thân mạch, Trúc tân,
Kim môn thuộc hệ thống thận - bàng quang.
Trong toàn bộ hệ thống kỳ kinh vận dụng vào điều trị, cần chú ý đặc

Pháp trị: Tư âm sinh tân.
Bài thuốc: “Tăng dịch thang” gồm Sinh địa 30g, Mạch đông 30g, Huyền
sâm 15g, Sơn dược 15g, Sa sâm bắc 12g, Sa sâm nam 12g, Thạch hộc 30g,
Thiên hoa phấn 12g.
2.2.4.2.4. Thể Ứ tắc não lạc:
Pháp trị: Hoạt huyết hóa uất, tỉnh não thông khiếu.
Bài thuốc: “Thông khiếu hoạt huyết thang” gồm Xích thược 15g, Xuyên
khung 6g, Đào nhân 9g, Nhung hươu 0,15g, Đan sâm 15g, Gừng khô 3g,
Huỳnh kỳ 60g.
.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status