nghiên cứu chỉ định và kết quả vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh trong điều trị vô sinh nam giới - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một cặp vợ chồng có quan hệ tình
dục ổn định đều đặn trong vòng 12 tháng, không dùng biện pháp tránh thai
nào, mà chưa có con thì được coi là vô sinh. Thống kê cho thấy vô sinh chiếm
tỉ lệ 10-15% các cặp vợ chồng đang trong độ tuổi sinh sản, trong đó nguyên
nhân phía nam giới chiếm 50% [2, 64]. Giãn tĩnh mạch tinh (TMT), tình trạng
giãn bất thường của đám rối tĩnh mạch tinh trong bìu, được coi là một trong
các nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới có thể điều trị được. Các nghiên cứu
cho thấy tỉ lệ giãn TMT chiếm khoảng 19- 41% các trường hợp nam vô sinh
tiên phát và khoảng 45-84% các trường hợp vô sinh thứ phát [28].
Đã từ lâu người ta đưa ra các bằng chứng cho thấy việc phẫu thuật giãn
TMT làm cải thiện khả năng sinh sản của nam giới. Gần 2/3 số nam giới có
cải thiện tốt các thông số tinh dịch đồ sau khi phẫu thuật. Tuy nhiên, vai trò
của thắt TMT trong điều trị vô sinh nam giới vẫn là những vấn đề gây nhiều
tranh luận, vì trên thực tế người ta thấy rằng không phải tất cả những nam giới bị
giãn TMT đều bị vô sinh và nhiều nam giới vô sinh bị giãn TMT nhưng cũng
không cần phẫu thuật thắt TMT. Ngoài ra, người ta thấy rằng chỉ khoảng 25,4%
nam giới có bất thường tinh dịch đồ bị giãn TMT và 11,7% nam giới bị giãn
TMT nhưng lại không thấy bất thường các thông số của tinh dịch đồ [2].
Nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề này đã được đặt ra như: Có nên điều
trị giãn TMT cho tất cả những bệnh nhân vô sinh hay không? Có phải tất cả
số bệnh nhân sau thắt TMT đều cải thiện số lượng và chất lượng tinh trùng
hay không? Sau phẫu thuật bao lâu thì tinh dịch đồ sẽ được cải thiện? Hoặc
lựa chọn phương pháp phẫu thuật nào sẽ mang lại hiệu quả cao?
2
Trên thế giới có đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của thắt TMT đối
với chức năng sinh sản của nam giới. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã cho
thấy các kết quả trái ngược nhau. Trong khi nhiều tác giả cho rằng phẫu thuật
giãn TMT đã làm tăng tỉ lệ có thai tự nhiên cũng như cải thiện các thông số
tinh dịch đồ thì vẫn có những tác giả khác đưa ra các ý kiến ngược lại. Ngay

thường kèm theo giảm khối lượng tinh hoàn, suy giảm chất lượng tinh trùng
và sự suy giảm chức năng tế bào Leydig. [2] Ngoài ra điều trị giãn TMT bằng
phẫu thuật làm cải thiện khả năng sinh sản của nam giới cũng đã được nhiều
nghiên cứu khẳng định. Tuy nhiên, cơ chế chính xác của sự tác động qua lại
giữa giãn TMT với khả năng sinh sản của nam giới vẫn chưa được xác định rõ
ràng. Một vài cơ chế chính được chấp nhận hiện nay là do độc tính của những
sản phẩm chuyển hóa từ thận và tuyến thượng thận chưa được xử lí ở gan trào
ngược qua tĩnh mạch thận vào tĩnh mạch tinh, sự tăng nhiệt độ vùng bìu, sự
gia tăng stress oxy hóa tế bào (oxidative stress), và cuối cùng là thiếu oxy
trong tinh hoàn do ứ máu trệ tuần hoàn tại chỗ [29, 33].
Bệnh thường xảy ra ở bên trái do sự khác biệt về giải phẫu giữa hai
bên. Tĩnh mạch tinh trái đổ trực tiếp vào tĩnh mạch thận trái, dài từ 8 đến 10
4
cm và dài hơn tĩnh mạch tinh bên phải, nên đã làm tăng áp lực thủy tĩnh trong
đám rối tĩnh mạch gây ra sự giãn nở và ngoằn ngoèo. Ngoài ra, áp lực trong tĩnh
mạch tinh bên trái cao cũng có thể là kết quả của sự nén vào tĩnh mạch thận trái
giữa động mạch chủ ( TM thận nằm trước ĐM chủ bụng) và động mạch mạc
treo tràng trên, một hiện tượng được gọi là “hiệu ứng Nutcracker” [28]
Giãn TMT cũng có thể phát sinh thứ phát do luồng trào ngược máu tĩnh
mạch thận ở bên trái và tĩnh mạch chủ bụng ở bên phải do sự suy giảm chức năng
của các valse tĩnh mạch hoặc không có valse tĩnh mạch trong các bệnh lý khác
nhau. Một báo cáo của Braedel và cộng sự cho thấy hơn 650 người đàn ông mắc
giãn TMT thì có 73% không có van tĩnh mạch trên X-quang tĩnh mạch. [28]
1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Trên thế giới
- Mối liên quan giữa giãn tĩnh mạch tinh và khả năng sinh sản của nam
giới được biết đến từ được biết đến từ thế kỷ XVIII khi Barwell đã báo cáo
một nghiên cứu gồm 100 bệnh nhân giãn TMT được điều trị bằng thắt TMT
dưới da vào năm 1885. Cùng thời gian này, Bennet đã lần đầu tiên chứng
minh sự cải thiện chất lượng tinh trùng trên một bệnh nhân giãn TMT hai bên

(RCTs) có sự tương đồng về đặc điểm bệnh nhân, tiêu chuẩn chẩn đoán, phương
pháp điều trị và kết quả điều cho thấy phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh đã làm cải
thiện đáng kể nồng độ tinh trùng, tỉ lệ tinh trùng di động, tỉ lệ di động tiến tới
nhanh. Tác dụng làm cải thiện tỉ lệ có thai tự nhiên chưa rõ ràng [43].
6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề giãn TMT, các phương
pháp điều trị giãn TMT cũng như vai trò của việc điều trị giãn TMT đối với
chức năng sinh sản của nam giới được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
trong nước. Năm 2005, Nguyễn Anh Dũng tiến hành đánh giá kết quả phẫu
thuật giãn TMT trên 32 bệnh nhi từ 4 đến 15 tuổi bằng phương pháp nội soi
qua ổ bụng, kết quả cho thấy phẫu thuật nội soi qua ổ bụng để điều trị giãn
TMT là một phương pháp tương đối đơn giản với thời gian phẫu thuật ngắn,
an toàn và bệnh nhân hồi phục nhanh chóng. [59] Năm 2006, nghiên cứu của
Hoàng Long và Cs cho thấy phương pháp phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc để
điều trị giãn TMT có những ưu điểm nổi trội hơn so với các phương pháp mổ
mở kinh điển. [58]. Vũ Nguyễn Khải Ca và CS (2010) cũng nêu kinh nghiệm
bước đầu qua 12 ca giãn TMT được điều trị bằng phương pháp gây nghẽn mạch
có chọn lọc qua da tại bệnh viện Việt Đức. [65] Đối với phương pháp vi phẫu
điều trị giãn TMT, Mai Bá Tiến Dũng (2010) đã tổng kết kinh nghiệm điều trị
cho 21 bệnh nhi tại BV Bình Dân cho thấy đây là phương có nhiều ưu điểm như:
thắt hết được các nhánh TMT giãn và hạn chế tối đa sự tái phát cũng như không
làm tổn thương động mạch tinh, [61] Nguyễn Hoài Bắc (2011) cũng báo cáo
hiệu quả của thắt TMT vi phẫu đối với các thông số tinh dịch đồ và testosteron,
[62] và Hoàng Long (2011) đã so sánh kết quả của hai phương pháp vi phẫu và
phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc điều trị giãn TMT [60].
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này mới chỉ nêu lên được các kinh
nghiệm bước đầu trong việc đánh giá kết quả phẫu thuật thông qua các biến
số nghiên cứu như tỉ lệ thành công, tỉ lệ tái phát, tỉ lệ các biến chứng, thời
gian phẫu thuật và thời gian nằm viện chứ chưa đánh giá kết quả của phẫu

rồi hợp lại với nhau tạo nên một đám rối tĩnh mạch quấn xoắn xuýt chằng
chịt, gọi là đám rối tĩnh mạch hình dây leo. Đám rối này đi trong thừng tinh,
phía trước ống dẫn tinh. Khi đi đến lỗ bẹn ngoài đám rối này hợp nhất lại để
tạo thành 3-4 nhánh tĩnh mạch tinh. Các nhánh tĩnh mạch tinh này đi trong
ống bẹn để vào ổ bụng qua lỗ bẹn sâu và đi phía sau phúc mạc. Ở khoang sau
phúc mạc các nhánh tĩnh mạch tinh trong hợp nhất lại với nhau để tạo nên hai
nhánh tĩnh mạch tinh trong đi cùng động mạch tinh trong và chạy dọc theo cơ
đái chậu đi lên trên, sau đó hợp lại thành một tĩnh mạch duy nhất gọi là tĩnh
mạch sinh dục rồi đổ vào tĩnh mạch chủ bụng ở bên phải với một góc nhọn,
hay tĩnh mạch thận ở bên trái với một góc vuông. [57]
Một thành phần quan trọng đi kèm với TMT đoạn sau phúc mạc là niệu
quản đoạn thắt lưng. Tại đoạn này niệu quản đi sau TMT và trước cơ thắt lưng
chậu. Vì vậy nhận biết niệu quản là một mốc quan trọng để tiếp cận đến TMT
tránh các tai biến khi phẫu thuật vào khoang sau phúc mạc.
9
Tĩnh mạch tinh có nhiều nhánh nối thông với rất nhiều tĩnh mạch xung
quanh động mạch tinh hoàn nên nó đóng vai trò như một bộ phận tản nhiệt
làm mát đi nhiệt độ của dòng máu động mạch tinh hoàn, giúp duy trì nhiệt độ
của tinh hoàn luôn thấp hơn nhiệt độ của cơ thể từ 1-2 độ C.
10
Ngoài ra đám rối tĩnh mạch hình dây leo còn tiếp nối với các nhánh
tĩnh mạch tinh ngoài (đi ở phía sau thành sau ống bẹn, dẫn máu về tĩnh mạch
thượng vị dưới), tĩnh mạch ống dẫn tinh (dẫn máu về tĩnh mạch chậu trong)
tĩnh mạch cơ bìu và các tĩnh mạch của mạch. Chính sự tiếp nối này là nguyên
nhân gây giãn tĩnh mạch tinh tái phát sau khi thắt tĩnh mạch tinh. [57]
1.2.3. Giải phẫu vi phẫu tĩnh mạch tinh
Sử dụng kính hiển vi phẫu thuật giúp phóng đại gấp nhiều lần các cấu
trúc nhỏ bé mà vốn dĩ mắt thường không thể nhìn thấy được. Khi sử dụng
kính hiển vi phẫu thuật LEICA MS2 với độ phóng đại 8-12 lần, Phạm Nam
Việt cùng cộng sự nhận thấy tại vị trí ống bẹn: [43]

nhánh bên nối với tĩnh mạch thắt lưng lên giữa và các tĩnh mạch sau phúc
mạc bên.
- Loại III : là biến thể của loại I. Tĩnh mạch tinh chia 2 hoặc 3 nhánh ở
đầu gần và các nhánh này được nối với nhau bởi các nhánh bên.
- Loại IV: tĩnh mạch tinh, tĩnh mạch thận và tĩnh mạch sau phúc mạc
được nối với nhau bởi các nhánh bên không có van. Trong đó thân chính của
tĩnh mạch tinh không có van hoặc có van không nguyên vẹn (loại IVA) hay
thân chính của tĩnh mạch tinh có van nguyên vẹn (loại IVB).
12
Hình 1.1 Sơ đồ các biến đổi giải phẫu của tĩnh mạch tinh trái
- Loại V: tĩnh mạch thận có hai nhánh dạng vòng. Hầu hết cả hai nhánh
đi vào tĩnh mạch chủ dưới, trong một số trường hợp, có một nhánh nối với hệ
thống tĩnh mạch thắt lưng lên.
Tĩnh mạch tinh phải
Năm 2006, Y. Siegel và cộng sự đã đưa ra bảng phân loại gồm 4 biến thể
giải phẫu của tĩnh mạch tinh phải[1, 38].
- Loại I: tĩnh mạch tinh đổ vào tĩnh mạch chủ dưới qua một lỗ duy nhất.
- Loại II: tĩnh mạch tinh đổ vào tĩnh mạch chủ dưới qua một lỗ duy
nhất và có nhánh nối với tĩnh mạch sau phúc mạc. Trong đó, loại IIA
tương tự như loại II nhưng có 2 nhánh song song và nối với nhau ở phần đầu
của tĩnh mạch tinh.
13
- Loại III: Tĩnh mạch tinh có hai lỗ đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Hai
nhánh này có thể hội tụ vào một thân chung hoặc đi như hai tĩnh mạch
riêng biệt.
Hình 1.2. Sơ đồ các biến đổi giải phẫu của tĩnh mạch tinh phải [38]
- Loại IV: tĩnh mạch tinh chia hai nhánh, một nhánh đổ vào tĩnh mạch
thận phải và một nhánh đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Type IVA: tĩnh mạch tinh
đổ vào tĩnh mạch thận phải.
1.3. Những thay đổi về sinh lý, sinh hóa và nội tiết trong giãn tĩnh mạch tinh

những người bình thường [18].
Khác với sự gia tăng nhiệt độ vùng bìu, những nghiên cứu về sự gia
tăng nhiệt độ trong tinh hoàn với giãn TMT lại cho kết quả tương đối đồng
nhất trên cả người và động vật. Các thí nghiệm trên chó và chuột đều nhận
thấy có sự gia tăng nhiệt độ bên trong tinh hoàn hai bên khi gây giãn TMT
thực nghiệm một bên [32]. Nghiên cứu trên người Goldstein và Eid đã tiến
15
hành đo nhiệt độ bên trong tinh hoàn bằng cách cắm một kim 29G trực tiếp vào
tinh hoàn, ông đã nhận thấy có sự tăng đáng kể nhiệt độ bên trong tinh hoàn ở
những người bị giãn TMT so với những người bình thường [18]. Một số tác giả
khác cũng nhận thấy sự gia tăng nhiệt độ trong tinh hoàn được hồi phục trở về
trạng thái nhiệt độ bình thường sau khi tiến hành thắt TMT.
Tóm lại, trong khi có nhiều mâu thuẫn trong các nghiên cứu tìm mối
liên quan giữa sự gia tăng nhiệt độ vùng bìu và giãn TMT thì các nghiên cứu
tìm mối liên quan giữa sự gia tăng nhiệt độ trong tinh hoàn với giãn TMt lại
cho các kết quả tương đối đồng nhất trên cả người và động vật. Từ các thí
nghiệm gây ẩn tinh hoàn thực nghiệm, gây tăng nhiệt độ tinh hoàn như một
biện pháp phòng tránh thai cũng như là các dữ liệu phơi nhiễm với nhiệt độ
trong bồn nước nóng, cho thấy tăng nhiệt độ ở tinh hoàn sẽ làm giảm chức
năng của tinh trùng [36].Tuy nhiên cho đến nay cơ chế chính xác vì sao tăng
nhiệt độ lại làm ảnh hưởng đến quá trình tạo tinh trùng cũng như trưởng thành
tinh trùng vẫn chưa được rõ. Một vài bằng chứng cho thấy nhiệt độ làm ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất các androgen từ đó gây tác động xấu đến quá
trình tạo tinh trùng. Rajfer et al đã chứng minh giãn tĩnh mạch tinh thực
nghiệm đã làm giảm 17,20-desmolase và 17 α-hydroxylase enzymes của quá
trình sinh tổng hợp steroid [31]. Ngoài ra tăng nhiệt độ bên trong tinh hoàn có
thể làm tăng tốc độ chết sinh học các tế bào mầm [44].
1.3.2. Sự thay đổi áp lực trong tĩnh mạch tinh
Sự tồn tại và cơ chế của những thay đổi áp lực TMT trong trường hợp
giãn TMT đã được bàn luận từ rất lâu. Mặc dù người ta nhận thấy rằng sự gia

này sẽ hồi phục dần dần sau hai năm. [20] Những nghiên cứu trên người thì
không cho thấy sự khác biệt lưu lượng máu này. [29]
1.3.3. Giãn tĩnh mạch tinh và sự trào ngược từ thận và tuyến thượng thận
Khoảng 50% nam giới có dòng máu trào ngược trong tĩnh mạch tinh
trái. Ở những bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh qua quan sát trong quá trình chụp
mạch thấy có dòng trào ngược tăng lên nhiều lần.[8] Do vậy, người ta đưa ra
một giả thiết là sự trào ngược các sản phẩm chuyển hóa từ thận và/hoặc tuyến
thượng thận (ví dụ như các Catecholamin ) vào tĩnh mạch tinh làm cho nồng
độ các chất này tăng cao ở những bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh. Điều này
làm cho mạch máu trong tinh hoàn luôn luôn bị co thắt mạn tính và gây độc
cho các tế bào chức năng trong tinh hoàn. Tuy nhiên khi kiểm định các giả
thiết này bằng các nghiên cứu thực nghiệm đã không tìm được các bằng
chứng tin cậy chứng minh giả thuyết này là đúng.
Vai trò của các sản phẩm steroid thượng thận trào ngược vào tĩnh mạch
tinh làm suy giảm quá trình sinh sản tinh trùng cũng được nghiên cứu từ lâu.
Ở người, nồng độ các catecholamine trong máu tĩnh mạch tinh lấy trong mổ cao
hơn trong máu ngoại vi khoảng 3 lần, trong khi ở những người bình thường nồng
độ này chỉ tăng hơn 1,5 lần [10]. Tại đám rối tĩnh mạch tinh trong bìu, nồng độ
các catecholamine cao trong tĩnh mạch có thể tràn sang động mạch thông qua cơ
chế trao đổi ngược làm cho nồng độ adrenaline trong động mạch tinh tăng cao,
dẫn đến tình trạng co thắt các tiểu động mạch trong tinh hoàn mạn tính, đây cũng
chính là lý do làm cho tinh hoàn bên bị bệnh teo nhỏ.
1.3.4 Giãn tĩnh mạch tinh và rối loạn nội tiết tố
Người ta nhận thấy rằng nồng độ testosteron ở những bệnh nhân giãn
TMT hiếm muộn thấp hơn so với người bình thường.Điều này cho phép
chúng ta suy luận rằng giãn TMT có thể làm thay đổi chức năng của tế bào
18
Leydig.Các nghiên cứu về giãn TMT thực nghiệm trên động vật cho thấy
nồng độ testosteron trong huyết thanh suy giảm ở chó và nồng độ testosteron
trong tinh hoàn cũng giảm ở chuột [17, 35]. Ngoài ra, Rajfer còn nhận thấy có

sàng sau khi phẫu thuật thắt TMT. [22]
Ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch tinh đối với chức năng của tế bào
Sertoli cũng được các tác giả nghiên cứu.Sự thay đổi nồng độ inhibin B huyết
thanh cũng đang được bàn luận.[30] Việc phẫu thuật thắt TMT liệu có thể
khắc phục lại được những hậu quả rối loạn trong quá trình sản xuất hormone
hay không? Một số tác giả cho rằng sẽ có sự cải thiện tốt sau phẫu thuật
nhưng một số khác lại cho rằng những thương tổn trong quá trình sản xuất
hormone do giãn TMT gây ra là những tổn thương vĩnh viễn. [34, 40]
1.3.5. Giãn tĩnh mạch tinh và stress oxy hóa tế bào
“Stress oxy hóa” tế bào là hiện tượng xuất hiện trong cơ thể sinh vật
khi có sự mất cân bằng giữa việc sản xuất các gốc oxy hóa tự do (reactive
oxygen species -ROS) và hoạt động của các chất chống oxy hóa. Sự sản xuất
ra các ROS được các tế bào tinh trùng sản xuất ra là một quá trình sinh lý
bình thường, nó đóng vai trò như một bộ phận điều hòa quan trọng cơ chế vận
chuyển tín hiệu trong tế bào giúp điều hòa tính kích hoạt, thúc đẩy phản ứng
acrosome và sự bám dính vào trứng. Trong trường hợp bệnh lý, có sự mất cân
bằng giữa việc sản xuất ra các ROS và việc khử các ROS, sự tích lỹ các ROS
cao có thể dẫn đến sự peroxy hóa lớp màng lipids của tinh trùng, thay đổi
hình thái mô học của tinh trùng và khả năng di chuyển của tinh trùng. [3, 12]
Thật sự có một mối liên hệ tỉ lệ nghịch giữa nồng độ ROS tinh dịch và độ di
động của tinh trùng.
20
Trong khi hầu hết các nghiên cứu đều thấy rằng nồng độ ROS trong
tinh dịch ở những người giãn TMT cao hơn những người bình thường thì vẫn
có một số tác giả hoài nghi về mối liên quan giữa ROS và giãn TMT.[45] Các
bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc sử dụng các chất chống oxy hóa khử
như glutathione, carnitine có thể làm cải thiện các thông số tinh dịch đồ ở
những người giãn TMT, điều này gợp ý một vai trò quan trọng của ROS trong
sinh lý bệnh của giãn TMT. [7, 42]
Tương tự như vậy, các cơ chế khác cũng đã được đề xuất như; tác hại

hiện được giãn tĩnh mạch tinh khi các tĩnh mạch của đám rối hinh dây leo
giãn trên 2mm và nó còn có thể phát hiện dòng trào ngược của tĩnh mạch khi
bệnh nhân làm nghiệm pháp Valsalva ở tư thế đứng [46].
Sự tin cậy của siêu âm Doppler trong chẩn đoán tĩnh mạch tinh vẫn là
vấn đề tranh cãi và tiêu chuẩn chẩn đoán rất khác nhau tùy thuộc vào từng
nghiên cứu. Theo McClure, bệnh nhân được chẩn đoán là giãn tĩnh mạch tinh
khi có trên 3 tĩnh mạch ở đám rối tĩnh mạch hình dây leo có đường kính trên 3
mm và đường kính tĩnh mạch tăng lên khi làm nghiệm pháp Valsalva. [54]
Tuy nhiên một số tác giả khác lại giảm tiêu chuẩn giãn xuống mức 2 – 3mm
[49-51]. Mức độ giãn của tĩnh mạch tinh trên 3 mm là tiêu chuẩn khá phổ
biến để chẩn đoán xác định trong nhiều nghiên cứu. [49, 52, 53, 56] Mặc dù
vậy cũng có tác giả cho rằng vẫn có sự khác biệt giữa chẩn đoán giãn tĩnh
mạch tinh trên lâm sàng và trên siêu âm Doppler. Trong báo cáo của Curtis
chỉ có 60 trong số 150 trường hợp được chẩn đoán giãn TMT trên lâm sàng có
giãn tĩnh mạch trên siêu âm Doppler. [48] Chính vì vậy, đường kính tĩnh mạch
chưa phải là tiêu chuẩn đầy đủ để chẩn đoán giãn tĩnh mạch tinh.
Chiou đã kết hợp nhiều dấu hiệu trên siêu âm Doppler để đưa ra cách
tính điểm qua đó làm giảm sự khác biệt giữa chẩn đoán giãn tĩnh mạch tinh
22
trên lâm sàng và trên siêu âm Doppler. Cách tính điểm này có độ nhạy 93%
và độ đặc hiệu 85% so với lâm sàng. Với các trường hợp giãn tĩnh mạch tinh
mức độ II và III trên lâm sàng, tỷ lệ chẩn đoán dương tính với cách tính điểm
mới là 100% trong đó việc chẩn đoán chỉ dựa vào đường kính tĩnh mạch thì tỷ
lệ này chỉ là 68% [47].
Trong nghiên cứu của mình, Cornud quan tâm tới mối liên quan giữa
dòng trào ngược tĩnh mạch trên siêu âm Doppler với các trường hợp giãn tĩnh
mạch tinh không có triệu chứng lâm sàng bởi biệu quả của điều trị phẫu thuật
cũng như nút mạch trong các trường hợp này còn rất hạn chế. Tác giả đã đưa
ra 3 mức độ của dòng trào ngược tĩnh mạch.
- Độ I: dòng trào ngược tồn tại dưới 1 giây và được coi như dòng trào

tĩnh mạch tinh ngoài và tĩnh mạch dây chằng tinh hoàn (gubernacular
veins).Sau khi kết thúc thì này, đưa tinh hoàn trở lại bìu và cố định thừng tinh
trên vết mổ bằng các sonde nélaton nhỏ. Đưa kính vi phẫu Zeiss vào trường
mổ (Zeiss, Jena, Germany) với vật kính 300, qua kính này lần lượt mở lá
25
ngoài và lá trong của bao thớ thừng tinh. Để tránh tổn thương đến động mạch
ống dẫn tinh và ống dẫn tinh chúng tôi tách riêng các thành phần được bao
bọc bởi lá trong và các thành phần nằm giữa lá trong và lá ngoài.
Các thành phần được bao bọc bởi lá trong bao gồm tĩnh mạch tinh
trong, bạch mạch và động mạch tinh hoàn. Xác định và cô lập động mạch tinh
hoàn bằng cách quan sát nhịp đập của động mạch. Trường hợp khó xác định
có thể tiến hành nhỏ dung dịch xylocain, mạch máu sẽ có các nhịp đập mạnh
hơn và rõ hơn. Bước tiếp theo là xác định và cô lập các đường bạch mạch.
Thông thường có 3-4 đường bạch mạch.Các thành phần được bao bọc bởi lá
trong sẽ được thắt bằng chỉ prolene 4/0.
Đối với các thành phần nằm giữa lá ngoài và lá trong, tương tự như
vậy, lần lượt xác định và bộc lộ riêng ống dẫn tinh và động mạch ống dẫn
tinh, động mạch cơ bìu.Các thành phần còn lại được thắt bằng chỉ prolene
4/0.Như vậy sau phẫu thuật các thành phần trong bao thớ thừng tinh chỉ là
động mạch tinh hoàn, bạch mạch, và ống dẫn tinh cùng động mạch nuôi ống
dẫn tinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status