nhận xét phương pháp xét nghiệm nhanh xác định nọc rắn hổ mang ở những bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rắn độc cắn là một tai nạn thường gặp, là một nguy cơ nghề nghiệp của
người lao động nông nhiệp và những người khác. Nạn nhân bị rắn độc cắn
ngoài các nguyên nhân do tai nạn, vô tình bị rắn độc cắn còn do nuôi rắn, bắt
rắn gây nên [1],[7],[18].
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới mỗi năm trên Thế giới có
khoảng 3 triệu người bị rắn độc cắn. Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 6 nghìn đến 8
nghìn người bị rắn độc cắn [74,75].
Ở Việt Nam ước tính có khoảng 30 nghìn nạn nhân bị rắn độc cắn mỗi
năm, Miền Bắc chủ yếu do rắn hổ cắn khoảng 93%, Miền Nam chủ yếu do
rắn lục cắn khoảng 74%, khoảng 200-300 nạn nhân tử vong mỗi năm [9,10].
Theo thống kê của Trung tâm Chống độc BV Bạch Mai, rắn độc cắn
đứng hàng thứ 5 trong các trường hợp ngộ độc tới cấp cứu tại Trung tâm,
thường gặp từ tháng 5 đến tháng 10, do được cấp cứu và điều trị tốt tỷ lệ tử
vong đã giảm xuống dưới 1%, song thời gian điều trị tích cực có thể kéo dài
hàng tháng [7],[17].
Trong những năm gần đây, số bệnh nhân bị rắn hổ cắn tăng cao, đặc biệt là
rắn Hổ mang Naja Atra. Chẩn đoán xác định loại rắn Hổ Mang còn gặp nhiều khó
khăn do nạn nhân khi bị rắn độc cắn đến nhập viện thường không mang theo rắn
do không bắt được rắn, do hoảng sợ nên không nhìn rõ loại rắn cắn mình, hoặc do
đã đánh chết rồi vứt đi và nạn nhân thường bị bị rắn cắn vào ban đêm. Việc thăm
khám bệnh nhân để xác định loại rắn độc cắn và từ đó giúp bác sỹ điều trị có thái
độ xử trí đúng và kịp thời là vấn đề cần thiết[17,18]. Trên thế giới chẩn đoán xác
định rắn độc cắn dựa nhiều vào bộ test thử phát hiện loại rắn cắn hoặc xét nghiệm
ELISA xác định nọc và loại rắn.
2
Ở Việt Nam chẩn đoán rắn cắn chủ yếu dựa bệnh sử rắn cắn và triệu
chứng lâm sàng. Tuy nhiên một số trường hợp chẩn đoán lâm sàng gặp khó
khăn, do đó hỗ trợ chẩn đoán bằng phương pháp Test miễn dịch nhanh giúp
chẩn đoán xác định sớm và quyết định liệu pháp huyết thanh kháng nọc sớm

độc cắn toàn cầu khoảng 30-40 nghìn ca tử vong do rắn độc cắn mỗi năm. Ở
Bangladesh (6.000 ca tử vong ước tính mỗi năm) và Ấn độ [51] năm 1924 có
19867 ca tử vong do rắn cắn được báo cáo sau đó, ở miền tây thảo nguyên Châu
Phi có 500/100000 tai nạn do rắn độc cắn mỗi năm, và 4-40 ca tử vong [28,29],
19% BN bị tàn tật kéo dài. Ở Tây Bengal có 160/100000 tai nạn do rắn độc cắn
mỗi năm và 16 người chết [59].
Malaysia rắn độc cắn rất phổ biến, đặc biệt là ở tây Bắc bán đảo
Malaysia, nhưng có ít trường hợp tử vong [75].
Myanmar báo cáo năm 1991 có 14000 BN bị rắn độc cắn với 1000 BN
tử vong và năm 1997 có 8000 BN bị rắn độc cắn với 500 BN tử vong [75]
Thái lan năm 1985 và năm 1989 có 3377 BN và 6038 BN bị rắn độc cắn mỗi
4
năm, năm 1991 có 6733 BN có 19 BN chết, năm 1994 có 8486 BN có 9 BN chết [75]
Nepal ước tính ít nhất 20000 Nạn nhân bị rắn độc cắn với khoảng 200
nạn nhân tử vong ở bệnh viện mỗi năm chủ yếu ở khu vực Terai [75].
1.1.2 Phân loại rắn độc cắn trên Thế giới
Thế giới ước tính có khoảng 3000 loài rắn, có khoảng 600 loài rắn độc (gồm
60 loài rắn biển), chiếm 20% trong 3.000 loài rắn gồm 4 họ [3], [17], [36], [66].
• Họ Rắn hổ (Elapidae)
Khoảng 297 loài gồm rắn hổ châu Phi, châu Á, rắn san hô, rắn ở
Australia và Rắn biển (gồm 60 loài) [3],[17],[36],[66]
• Họ rắn lục (Viperidae)
Rắn lục là họ rắn độc thứ hai trên thế giới. Họ Viperidae gồm 33 giống,
được chia thành họ rắn lục điển hình (Viperinae) và rắn lục có rãnh hố má
(Crotalinae) [18],[66].
• Họ Rắn lục chuột chũi (Atractaspididae)
Gồm 17 loài, chỉ có ở châu Phi và Trung Đông. Hầu hết rắn thuộc họ
này vô hại nhưng một số ít thuộc giống Atractaspis có nọc độc với các thành
phần khác thường, đặc biệt là Sarafotoxins (tác dụng làm co động mạch
vành, block nhĩ thất, co sợi cơ) [3],[17],[66]

- Họ có móc cử động: Viperidae
 Các loài rắn độc hay gặp gặp:
• Họ rắn hổ (Elapidae)
 Phân họ rắn hổ Elapidae (đầu tròn, vẩy đầu to, không có vẩy
má): hổ mang bành (Naja), rắn cạp nia (Bungarus), lá khô (Calliophis), hổ
chúa (Ophiophagus hannah)
6
 Phân họ rắn biển Hydrophiinae (có đuôi dẹp): Enhydrina,
Hydrophis, Lapemis. Ở Việt Nam có Hydrophis cyanocinctus, Hydrophis
fasciatus, Lapemis hardwickii.
• Họ rắn lục Viperidae (đầu hình tam giác, đồng tử dài và đứng dọc) :
- Phân họ không có hố má (Azemiopinae): rắn lục đầu đen (Azemeops feae)
- Phân họ có hố má (Crotalinae)
 Đầu vảy lớn: giống lục mũi hếch (Deinagkistrodon), giống chàm
quạp (Colloselasma).
 Đầu vảy nhỏ: giống rắn lục Trimeresurus và Ovophis
Theo Trần Kiên và Nguyễn Quốc Thắng, rắn độc ở Việt nam chia thành
hai nhóm chính: rắn độc sống trên cạn (18 loài) và rắn độc sống ở biển (13 loài):
 8 loại rắn hổ hay gặp ở châu Á và Việt Nam
• Bungarus candidus (B.C)
Tên gọi:
- Thế giới: Malayan krait
- Việt Nam: Cạp nia miền Nam, rắn
mai gầm bạc, rắn đen trắng [4],[9],[17],
[28], [36], [73]
B.C có ở Nghệ An, Quảng Bình, Thừa
Thiên Huế, Đắc Lắc, Lâm đồng (Đà Lạt),
Phan Rang, Tây Ninh, Biên Hòa (H1.1)
Hình 1.1.Bungarus candidus
• Bungarus multicinctus (B.M)

m). Miền Nam gặp nhiều ở Đà Nẵng,
Ban Mê Thuột, Tây Ninh, Biên Hoà, TP
Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Minh Hải [6],
[7],[17],[56] (H1.4)
Hình 1.4.Bungarus fasciatus
8
• Naja kaouthia (N.K)
Tên gọi:
- Thế giới: monocellate cobra, monocled
cobra
- Việt Nam: Hổ đất, rắn phì, rắn một mắt
kính, gặp ở miền Bắc và Nam Việt Nam
(Tây Nam Bộ) [17], [18]. (H1.5)

Hình 1.5. Naja kaouthia
• Naja atra (N.A)
Tên gọi:
- Thế giới: Chinese/Taiwan cobra
- Việt Nam: Hổ mang bành, gặp chủ yếu ở
miền Bắc Việt Nam [17],[18], (H1.6)
Hình 1.6.Naja atra
• Naja siamensis
Tên gọi:
- Thế giới: Thai cobra, Indian cobra, Isan spitting
cobra
- Việt Nam: Hổ mèo, gặp chủ yếu ở miền Nam
Việt Nam [17],[18]. (H1.7)
Hình 1.7.N. siamensis
9
• Ophiophagus hannah (O.H)

tránh được liệt toàn thân nặng nề. Các độc tố này trong quá trình tiến hoá
được bắt nguồn từ phospholipases A
2
nhưng không có hoạt tính enzym. Các
độc tố này thường thấy ở rắn cạp nia và cạp nong.
 Các độc tố tác dụng điểm nối thần kinh cơ sau synapse: Đó là các
polypeptides tác dụng trên cơ vân gây liệt mềm tiến triển nhưng tác dụng
ngoài tế bào bằng cách gắn có hồi phục vào các thụ thể acetylcholine tại bản
cuối vận động thần kinh - cơ. Do vậy tác dụng của nọc rắn có hồi phục, dùng
HTKNR trong trường hợp này có tác dụng tốt và khi dùng các thuốc kháng
cholinesterase như neostigmine sẽ cải thiện một phần. Các độc tố này thường
thấy ở các loài rắn hổ.
 Các độc tố tác dụng hiệp đồng lên điểm nối thần kinh cơ trước và sau
synapse: đó là các dendrotoxin tác dụng ở trước synapese làm tăng giải phóng
acetylcholine gây tràn ngập chất này ở điểm nối thần kinh cơ gây khử cực liên
tục kéo dài. Tác dụng này nặng thêm do sự đóng góp của các fasciculin có
trong nọc rắn tác dụng như các chất kháng cholinesterase do đó làm tăng
acetylcholine làm tăng khử cục, block thần kinh cơ, gây máy cơ và liệt cơ.
• Necrotoxine (độc tố gây hoại tử):
 Men thủy phân (proteolytic enzymes và phospholipases A
2
)
 Polypeptides và những yếu tố khác làm tăng tính thấm gây nên sưng nề
cục bộ.
 Chúng cũng có thể hủy hoại màng tế bào và mô.
• Myotoxine (độc tố với cơ): đó là các độc tố
phospholipases A
2
gây tiêu cơ vân toàn thân. Trong quá trình này sẽ gây tăng
myoglobin, CK, kali gây hậu quả suy thận thứ phát và rối loạn nhịp tim

không là loại rắn gì đó là vấn đề quan trọng quyết định thái độ xử trí, điều trị,
theo dõi và đặc biệt là dùng HTKN rắn.
1.4.1 Dựa vào đặc điểm của con rắn.
Dựa vào đặc điểm của con rắn: đầu, đồng tử, răng, móc độc, đuôi ta có
thể phân biệt được rắn độc và rắn không độc, giữa rắn lục và rắn hổ [3], [8],
[17], [33], [40], [71].
Bảng 1.1 Bảng phân biệt rắn độc và rắn không độc [3].
Đặc điểm
Rắn độc Rắn
thường
Rắn lục Rắn hổ
Đầu
Hình tam giác, có ranh
giới giữa đầu và thân
Hình Ô van, không có
ranh giới giữa đầu và thân
Giống
rắn hổ
Hố má Có Không Không
Đồng tử Thẳng đứng Tròn Tròn
Răng 2 dãy 2dãy 4 dãy
Móc độc Dài 6-8 mm,di động Dài 3-4mm ,cố định
Không

Vảy má Có Không có Có
Vảy bụng
ở đuôi
Đơn Đơn
Kép
(phân)

cũng có, nó có thể là vết xước nhỏ khó có thể xác định, bên cạnh đó ở nước ta
14
chưa có bộ test để xác định loại rắn qua vết cắn, chính vì vậy dựa vào triệu
chứng trên BN để xác định loại rắn, xử trí và theo dõi là chủ yếu và quan trọng.
WHO (2005) đưa ra 5 hội chứng định hướng chẩn đoán rắn độc cắn [75]
 Sưng nề, hoại tử, viêm tấy, tiêu cơ vân, đặc điểm rắn → rắn hổ mang bành
 Sưng nề nhiều, không hoại tử, liệt cơ/ loạn nhịp tim, đặc điểm rắn cắn
→ rắn hổ chúa
 Không có triệu chứng tại chỗ, đồng tử giãn, liệt cơ nhiều, đặc điểm rắn
cắn → cạp nia, cạp nong
 Sưng nề, chảy máu kéo dài, rối loạn đông máu, không liệt cơ, rắn cắn
→ rắn lục cắn
 Rắn biển: ít thông tin, cắn trên biển → rắn biển
1.5. Chẩn đoán rắn hổ cắn (elapidae)
1.5.1. Triệu chứng lâm sàng rắn hổ cắn
a. Triệu chứng tại chỗ ở vết cắn
Rắn hổ mang bành và hổ chúa thường gây tổn thương trực tiếp ở vị trí
cắn, do đó các dấu hiệu tại chỗ như đau, đỏ da, sưng nề, và thậm chí chảy
máu hoặc bọng nước có thể xuất hiện. Vết răng độc có thể rõ ràng, dạng một
vết hoặc hai vết hoặc một dãy sắp xếp phức tạp nhiều các vết răng. Rắn cạp
nong, cạp nia có thể gây rất ít hoặc không gây tác dụng tại chỗ.
Rắn hổ mang bành và hổ chúa cắn, các triệu chứng sẽ tiến triển nặng
dần, bệnh nhân đau, sưng nề, đỏ da, hoại tử và trong các trường hợp nặng hơn
biểu hiện bọng nước, bầm máu hoặc chảy máu. Chỉ có rắn hổ mang bành có
thể gây ra các vết thương mô tế bào cục bộ rõ nét. Vết cắn rất đau, sau vài giờ
đến một ngày, vùng da xung quanh vết cắn thâm lại, thường có màu tím đen,
và hiện tượng chết hoại tử xuất hiện. Thường có những quầng thâm rõ nét bao
quanh tạo thành đường viền quanh vết cắn. Nó có thể lan rộng trong vài ngày,
cho đến khi lớp da bị chết tróc ra [7,8],[17],[18].
15

trong đó có cơ hô hấp. Liệt mềm tiến triển, thuờng biểu hiện đầu tiên ở các
dây thần kinh sọ. Sụp mi, sau đó liệt một phần hoặc hoàn toàn các cơ vận
nhãn hai bên, mất nếp nhăn mặt, nói khó, khó nuốt thường là các triệu chứng
sớm của liệt.
Đồng tử giãn và không đáp ứng với phản xạ ánh sáng. mặt mất nếp nhăn,
há miệng hạn chế, lưỡi không đưa vào được, liệt màn hầu, ứ nước bọt, yếu
chi, khó khăn hoặc không đi được, sử dụng các cơ hô hấp phụ, giảm hoặc mất
các phản xạ gân xương, giảm hoặc mất đáp ứng với các kích thích đau (chú ý
bệnh nhân vẫn có cảm giác đau nhưng không thể co chân tay được do liệt,
do đó đánh giá ý thức và cảm giác của bệnh nhân cần rất thận trọng). Các
chi bị yếu và tiến triển nặng dần lên, sau đó là các chức năng hành não bị
ảnh hưởng. Tiến trình từ dấu hiệu ban đầu cho đến khi liệt hô hấp chỉ vài
giờ và có thể hơn 12 giờ phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân, kích cỡ của
rắn to hay nhỏ (lượng độc bị tiêm nhiều hay ít), và loài rắn hổ cắn. Nếu nọc
độc được truyền trực tiếp vào mạch máu thì chỉ 20 phút sau là các triệu
chứng liệt xuất hiện.
Các triệu chứng sau thường gặp sau khi nọc rắn cạp nong, cạp nia vào cơ
thể: lơ mơ, liệt các cơ ở mặt và các cơ được vận động bởi các dây thần kinh
sọ não, không nói được, khó nuốt và khó ho khạc. Trường hợp nặng hơn liệt
cơ hô hấp và liệt mềm toàn thân. Mặc dù bệnh nhân còn tỉnh nhưng không có
khả năng làm theo lệnh các cử động của ngón chân và ngón tay.
Các triệu chứng thần kinh khác bao gồm: đau đầu, hoa mắt, lẫn lộn, mất
định hướng, co giật, hôn mê là hậu quả của thiếu oxy.
Thời điểm xuất hiện: nhiễm độc thần kinh có thể xuất hiện trong vòng
vài phút tới vài giờ và hầu hết xuất hiện trong vòng 4-6 giờ.
17
•Dấu hiệu tiêu hóa
Buồn nôn và nôn, đau bụng thường xuất hiện sau khi bị rắn hổ mang
bành và rắn hổ chúa cắn.
•Dấu hiệu tiết niệu

nhiều hoạt chất giống nhau giữa các loài rắn khác nhau, vì vậy dễ tạo nên
phản ứng chéo giữa huyết thanh kháng lại loại nọc rắn này với các quyết định
kháng nguyên có trong nọc độc của một số loài rắn khác [17]. Nọc rắn độc
được coi là một phức hợp phát triển cao nhất trong số các độc tố do động vật
và thực vật tạo ra. Nọc rắn chứa một số lượng lớn các chất có hoạt tính dược
lý mạnh và mỗi độc tố trong số này có những phương thức hoạt động đặc
hiệu. Các chất này khi được tiêm vào cơ thể nạn nhân bắt đầu hoạt động theo
các kiểu độc lập, hiệp đồng hoặc đối kháng. Nọc rắn độc có thể gây ra rất
nhiều biểu hiện lâm sàng bao gồm:
+ Độc thần kinh: Tác dụng này gây ra bởi các độc tố thần kinh. Các độc
tố này có thể hoạt động ở màng trước hoặc màng sau synap làm ngăn chặn
quá trình dẫn truyền thần kinh cơ dẫn đến hậu quả cuối cùng là liệt cơ, đặc
biệt là liệt cơ hô hấp gây tử vong [49, 50].
+ Độc tố máu: Chủ yếu gây ra bởi các độc tố có tác dụng ức chế đông
máu, tăng đông máu, tan hồng cầu tạo ra bệnh cảnh rối loạn đông cầm máu
rất phức tạp, như vừa có biểu hiện chảy máu không cầm được vừa có rối loạn
đông máu tương tự đông máu rải rác trong lòng mạch [26, 35].
19
+ Độc tế bào: Gây phù nề, bọng nước do thoát mạch và họai tử thường
xuất hiện ở vị trí có vết cắn. Tác dụng này là của các độc tố metalloprotease,
hyaluronidase, phospholipase A2 (PLA2) [26, 35].
+ Độc tố cơ: Tổn thương cơ vân xương do các độc tố cơ có trong nọc
độc, có thể xảy ra cục bộ hoặc toàn thân, dẫn tới phá hủy cơ, yếu cơ và đái sắc
tố cơ. Độc tố cơ trong nọc rắn được chia làm 4 nhóm chính [26, 35]:
• Các độc tố cơ có bản chất là các polypeptide kiềm kích thước bé.
• Phospholipase A2 gây độc cơ tại chỗ.
• Độc tố cơ chung.
• Các độc tố cơ khác.
+ Độc tố thận: Các độc tố thận của nọc rắn có thể gây độc nguyên phát
và thứ phát với các mức độ tổn thương khác nhau [26, 35].

được sử dụng [33].
+ Ngưng kết hồng cầu : Kháng thể kháng nọc độc được gắn lên bề mặt
hồng cầu cừu. Khi có mặt của nọc độc, các phân tử nọc độc sẽ đóng vai trò là
cầu nối gắn các tế bào hồng cầu phủ kháng thể vào với nhau tạo ra hình ảnh
ngưng kết hồng cầu có thể quan sát thấy bằng mắt thường. Phương pháp này
đã được Boche và Russel sử dụng lần đầu tiên năm 1968 để phát hiện nọc rắn
[51]. Sau đó năm 1993 Kittigul và Ratanabanagkoon sử dụng để phân biệt 6
loại rắn phổ biến ở Thái Lan. Ưu điểm của phương pháp này là nhanh, đơn
giản, rẻ tiền, thích hợp với các cơ sở y tế địa phương ở các nước đang phát
triển. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là tính bất ổn định của tế
bào hồng cầu cừu, làm cho xét nghiệm không thể bảo quản được lâu và đôi
khi cho kết quả không đồng nhất nên hiện nay cũng ít được sử dụng [39].
21
+ Ngưng kết miễn dịch : Để khắc phục tính bất ổn định của tế bào hồng
cầu, người ta đã dùng những hạt latex để thay thế cho hồng cầu cừu. Kỹ thuật
dùng các hạt latex này được gọi là kỹ thuật ngưng kết. Kỹ thuật ngưng kết đã
được Chinonavanig và CS (1991) sử dụng để phát hiện nọc độc của 6 loại rắn
thường gặp ở Thái Lan. Các hạt latex được gắn với các phân tử kháng thể có
thể bảo quản ở nhiệt độ 4
0
C hơn một năm. Nếu bảo quản dưới dạng đông khô
thì ngay cả khi để ở nhiệt độ phòng cũng có thời gian ổn định dài hơn [43].
+ Miễn dịch phóng xạ : Phương pháp này có ưu điểm là độ nhạy cao,
đáng tin cậy, có thể phát hiện nọc độc ở nồng độ 0,4 ng/ml (Sutherland và CS
1975). Nhược điểm của phương pháp này là quá phức tạp, cần bảo quản và xử
lý các chất đồng vị phóng xạ nên không phù hợp cho việc sử dụng trên thực
địa [42, 49].
+ Miễn dịch huỳnh quang : Phương pháp này được Tiru-Chelvam sử
dụng vào năm 1972 cũng có độ nhạy cao, cho phép quan sát bằng mắt thường
vùng có nọc độc. Tuy vậy, hạn chế của phương pháp này là phải đưa được

một phiên bản miễn dịch enzym phản ứng trong ống mao quản. Bộ kít này
phù hợp để sử dụng nhưng nó quá đắt và khó sản xuất hàng loạt. Năm 1991
bộ mao quản bằng thuỷ tinh đã được thay thế, đơn giản và hiệu quả hơn, bộ
kít này có thể sản xuất hàng loạt [42]. Bộ kít này phát hiện nọc của 5 loại rắn
độc phổ biến ở Astralia. Ở Ấn độ, De (1996) đã phát triển một bộ kít AB-
ELISA đặc hiệu loài, nhanh hơn, có khả năng nhận biết được nọc độc của 4
loại rắn độc phổ biến ở Ấn độ. Toàn bộ xét nghiệm mất 30 phút kể cả ủ, rửa,
đọc kết quả. Xét nghiệm có thể thực hiện ở nhiệt độ phòng, phản ứng màu có
thể đọc bằng mắt thường. Bộ kít có thể phát hiện nọc độc ở nồng độ 10 ng/ml
[34]. Cho dù những bộ kít xét nghiệm này được chứng minh là hữu ích trong
chăm sóc người bị rắn cắn, nhưng những bộ xét nghiệm miễn dịch này của
Astralia hay của ấn độ không phù hợp cho việc phát hiện nọc rắn độc ở các
23
khu vực khác trên thế giới vì có sự khác nhau về phân bố các loại rắn giữa các
khu vực. Các nghiên cứu về thành phần nọc độc của các loại rắn khác nhau
cho thấy mỗi loại rắn độc có một thành phần nọc độc đặc trưng và do vậy việc
phát hiện nọc độc của mỗi loại riêng biệt cần có các xét nghiệm có tính đặc
hiệu loại riêng rẽ, vì thế mỗi vùng lãnh thổ cần phát triển các xét nghiệm
riêng biệt để phát hiện nọc độc của các loại rắn độc phân bố trên chính khu
vực đó [32, 34]. D.Z.Hung và CS (2005) đã phát triển thành công kít chẩn
đoán nhanh rắn hổ mang Naja atra ở Đài Loan bằng kỹ thuật sắc ký miễn
dịch (Cobra Rapid Test
®
) [8,19], kít chẩn đoán này có ngưỡng phát hiện nọc
rắn hổ mang trong máu bệnh nhân là 5ng/ml. Phương pháp này cho ra kết quả
sau 20 phút, được dùng để chẩn đoán xác định và hướng dẫn dùng liều huyết
thanh kháng nọc rắn [8]. Phương pháp có độ đặc hiệu 100%, độ nhạy 88%.
Các kết quả nghiên cứu đã được báo cáo lên Hội đồng khoa học quốc gia
(National Science Councel) của Đài Loan.
Dùng bộ test thử phát hiện loại rắn ngay tại vết cắn dựa vào phản ứng

- Giải thích cho BN yên tâm, tránh hoảng loạn
- Không để BN tự đi, tự chạy
- Giữ yên chi bị cắn, để chi thấp hơn mức tim
- Không uống rượu, bia.
- Tháo bỏ nhẫn, vòng
• Loại trừ nọc ra khỏi cơ thể:
Sử dụng băng ép để hạn chế sự lan tràn của nọc độc, phải băng ép
ngay sau khi bị rắn cắn 30 – 60 phút, nếu sau 60 phút mới băng ép là không
có kết quả [17]. Băng ép mô xung quanh chỗ cắn, làm giảm sự lan tràn của
nọc rắn. Theo tác giả Jame R. Roberts (1998)băng ép có thể làm giảm tác
dụng của nọc tuy nhiên cũng chưa chắc chắn và khó xác định.
Gọi người cùng sơ cứu, gọi trung tâm cấp cứu hỗ trợ
25
Đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi.
Nếu đau nhiều dùng giảm đau bằng paracetamol.
Nếu bắt, đập chết được rắn thì mang tới BV để xác định rắn
1.5.4.2 Vận chuyển tới trung tâm cấp cứu gần nhất:
Phải hết sức nhanh chóng.
Bất động chi bị thương và BN trong quá trình vận chuyển
Phải đảm bảo chức năng sống, luôn theo dõi BN.
1.5.4.3 Tại trung tâm cấp cứu:
 Nguyên tắc: Đảm bảo chức năng sống, dùng HTKN, điều trị triệu
chứng, theo dõi.
 Sử dụng HTKN
Điều trị đặc hiệu rắn độc cắn là dùng HTKN. HTKN được chỉ định và sử
dụng sớm, hiệu quả nhất là sử dụng trong 24 giờ đầu sau bị rắn cắn [2], [3],
[5], [17].
Trên thế giới, HTKN đã được sản xuất và sử dụng ở nhiều quốc gia,
chống lại nhiều loại nọc. Tuy nhiên HTKN không phải là thuốc vạn năng vì
nó có thể gây tác dụng phụ và bệnh huyết thanh sau 1-2 tuần điều trị và giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status