khảo sát thực trạng sâu hố rãnh trên răng ở trẻ 6-10 tuổi tại trường tiểu học xuân la quận tây hồ thành phố hà nội năm 2014 - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, bệnh sâu răng vẫn còn rất phổ biến ở các nước trên thế giới kể
cả các nước đã phát triển. Bệnh sâu răng đang dần trở thành một vấn đề được
quan tâm sâu sắc của thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tổ chức nghiên
cứu thống kê ở một số nước trong khoảng thời gian từ năm 1994 - 2008, tỷ lệ trẻ
đến tuổi 12 mắc bệnh sâu răng vẫn còn cao. Theo WHO, bệnh sâu răng được
ghi nhận là căn bệnh phổ biến trên thế giới nhất là khu vực Châu Á và Mỹ Latin,
Bệnh sâu răng thật sự là mối lo của các bậc phụ huynh bởi theo thống kê của
WHO có đến 60-90% trẻ ở độ tuổi 6-18 tuổi bị sâu răng [51]
Cũng theo như các kết quả nghiên cứu, độ tuổi từ 6-11 tuổi (lứa tuổi học sinh
tiểu học) đa phần sâu răng sữa. Đối với các trường hợp này, nếu không được
điều trị đúng thì nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn là khó
tránh khỏi. Như vậy sâu răng ở trẻ em và đặc biệt là sâu răng ngay từ lứa tuổi
tiểu học là một vấn đề đáng quan tâm. Có rất nhiều nghiên cứu ở Việt Nam đã
được triển khai để mô tả thực trạng bệnh sâu răng. Tuy nhiên các nghiên cứu
đó chưa tập trung mô tả các yếu tố liên quan tới bệnh sâu răng để từ đó có
những biện pháp can thiệp làm giảm tỷ lệ bệnh sâu răng trong nhóm học sinh
tiểu học cũng như tuổi học đường nói chung. Vì vậy cần có những nghiên cứu
sâu hơn về các vấn đề có liên quan đến bệnh răng miệng nói chung và bệnh
sâu răng nói riêng nhằm đáp ứng các nhu cầu nói trên
Sâu răng thường bắt nguồn từ hố rãnh răng. Do các đặc điểm giải phẫu
của vùng hố rãnh thường là những nơi dễ mắc đọng thức ăn kết hợp với ý
thức vệ sinh răng miệng của trẻ ở lứa tuổi tiểu học còn kém nên dễ tạo điều
kiện thuận lợi cho sâu răng phát triển. Thực tế theo các nguồn tài liệu trong và
ngoài nước thì hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu về tình trạng sâu răng trẻ
em lứa tuổi 6 -10 tuổi. Mặc dù vậy các nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu
2
và cụ thể như các nghiên cứu về sâu hố rãnh răng ở lứa tuổi này là chưa
nhiều, chính vì vậy chúng tôi muốn thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này,
qua đó giải quyết về các vấn đề phổ biến các kiến thức thực hành đúng và đủ

dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng
cổ răng. Hình dáng và bề dày của men được xác định từ trước khi răng mọc ra, trong
đời sống, men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi nhưng có sự
trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng.
4
1.1.1.2. Ngà răng
Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ
thấp hơn men (75%), chủ yếu là 3[(PO4)2Ca3)2H2O]. Trong ngà răng có
nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà. Bề dày ngà răng
thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng
dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy.
Về tổ chức học: ngà răng được chia làm hai loại;
- Ngà tiên phát: chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá
trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tôm.
- Ngà thứ phát: được sinh ra khi răng đã hình thành gồm ngà thứ phát
sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
1.1.1.3. Tuỷ răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tủy thân. Tuỷ
răng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủy
gọi là tủy chân. Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy.
Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trỡ sự sống
của nguyên bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng
có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
1.1.2. Vùng quanh răng
Bao gồm xương ổ răng, xê măng, dây chằng nha chu và lợi răng.
1.1.2.1. Xương ổ răng
Là mô xương xốp, bên ngoài được bao bọc bằng màng xương nơi nướu
răng bám vào. Xương ổ răng tạo thành một huyệt, có hình dáng và kích thước
phù hợp với chân răng. Bề mặt ổ răng, nơi đối diện với chân răng, là mô
xương đặc biệt có nhiều lỗ thủng cho mạch máu, thần kinh từ xương xuyên

lúc 24-36 tháng tuổi. Bộ răng sữa gồm có 20 chiếc, 10 chiếc ở mỗi hàm.
Hình 1.2: Lát cắt ngang răng người
Bộ răng sữa mọc đầy đủ vào khoảng hai tuổi rưỡi.Các răng sữa sẽ được
thay thế bởi các răng vĩnh viễn. Bộ răng sữa không có răng cối nhỏ và không
có răng nào giống răng cối nhỏ vĩnh viễn. Vào khoảng 6 tuổi, bắt đầu xuất
hiện sự mọc răng vĩnh viễn thay thế dần cho bộ răng sữa, qua trình này
thường kết thúc vào khoảng 12 tuổi. Bộ răng vĩnh viễn gồm 28 đến 32 chiếc
(4 răng số 8 có thể không có) là hàm răng thay thế cho bộ răng sữa, nó có một
số đặc điểm khác biệt với bộ răng sữa cần lưu ý.
 Về hình thể bên ngoài:
- Răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn tương ứng cùng nhóm.
- Thân răng so với chiền dài toàn bộ của răng ngắn hơn răng vĩnh viễn.
7
- Các răng cửa sữa có mặt ngoài và mặt trong lồi hơn nhiều ở 1/3 cổ tạo
thành các gờ cổ.
- Mặt ngoài và mặt trong của các răng cối sữa phẳng và hội tụ nhiều từ
vùng gờ cổ về phía nhai, vì thế bản nhai của chúng hẹp.
- Chân răng sữa dài và mỏng hơn….
- Thân răng có màu trắng sữa đục hơn răng vĩnh viễn.
 Về hình thể trong:
- Thân răng rộng hơn mọi hướng so với vùng cổ.
- Men răng khá mỏng và độ dày giữa các vùng thân răng ít có sự khác biệt.
- Lớp ngà giữa men răng và buồng tủy khá mỏng.
- Các sừng tủy nhô cao và buồng tủy rộng.
- Các chân răng sữa dài hẹp, dang rộng đáng kể và thuôn dài về phía chóp.
Ngoài ra khi mới mọc men răng chưa hoàn toàn được ngấm vôi đầy đủ,
các rãnh mặt nhai của răng vĩnh viễn thường sâu tạo ra những vùng đọng thức
ăn. Đó là những yếu tố thuận lợi cho sâu răng dễ hình thành ở trẻ em. Cấu
trúc bên trong với đặc điểm men mỏng, sừng tuỷ nhô cao…là những yếu tố
thuận lợi làm cho bệnh sâu răng nhanh chóng chuyển sang bệnh lý tuỷ răng.

rất lớn.
- Tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
vi khuẩn phát triển và gây sâu răng.
- Tình trạng môi trường miệng như: nước bọt, pH…
9
Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn sâu răng là do chất
đường, vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích nguyên nhân sâu răng
bằng sơ đồ Key:
Sơ đồ Key, sự phối hợp 3 yếu tố gây sâu răng
Với sơ đồ Key người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn
Streptococcus Mutans, cho nên việc dự phòng sâu răng cũng quan tâm nhiều
đến chế độ ăn như hạn chế đường và vệ sinh răng miệng.
Sau năm 1975, đã tìm được nguyên nhân của bệnh sâu răng. Nguyên
nhân của sâu răng được giải thích bằng sơ đồ WHITE như sau:
Sơ đồ WHITE (1975)
10
Với mô hình này, người ta quan tâm đến một số yếu tố sau:
- Răng: ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, fluoride, dinh dưỡng…
- Vi khuẩn: đặc biệt là Streptococcus Mutans.
- Chất nền: ảnh hưởng bời yếu tố VSRM, việc sử dụng Fluor, pH, khả
năng trung hòa của nước bọt.
Sơ đồ WHITE cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc sâu răng
như: hạn chế quá trình hủy khoáng, tăng cường quá trình tỏi khoỏng và có tác
dụng bảo vệ răng không bị sâu như nước bọt, khả năng acid của men, các ion
F
-
, Ca
++
, pH trên 5 và sự trám bít hố rãnh… Với những hiểu biết sâu hơn về
cơ chế bệnh sinh của quá trình sâu răng nên trong hai thập kỷ qua con người

Ở các nước đang phát triển: ở thời điểm những năm của thập kỷ 60,
tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Chỉ số
SMT tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,3-3,0; thậm chí một số nước dưới
1,0 như Thái Lan, Uganda, Zaire. Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại
tăng lên ở mức 3,0-5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile 6,3; French
Polynesia 10,7 [9]. Nhìn chung, tình trạng sâu răng của các nước đang phát
triển có xu hướng tăng.
Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, sâu răng ở các nước phát triển rất
cao. Song từ thập kỷ 70- 80 của thế kỷ XX nhờ áp dụng những biện pháp phòng
chống sâu răng, tình hình sâu răng đã giảm xuống cho đến nay. SMT ở trẻ 12 tuổi
(thập kỷ 70 thế kỷ XX trở về trước được công bố như sau: [45], [51].
Bảng 1.1 Chỉ số SMT một số nước trên thế giới
Tên nước Năm SMT Năm SMT
Australia 1956 9,3 1982 2,1
Canada 1958 7,4 1979 2,9
Phần Lan 1975 7,5 1981 4,0
New Zealand 1973 10,7 1982 2,0
Nhật bản 1975 5,9 1979 2,0
Na Uy 1940 12,0 1979 4,5
Thụy Điển 1937 7,8 1979 3,4
Thụy Sĩ 1961 9,0 1980 1,7
Mỹ 1946 7,5 1980 2,0
12
Trong khi đó ở các nước đang phát triển ở thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở
về trước sâu răng rất thấp. Sau thập kỷ 60 của thế kỷ XX sâu răng có khuynh
hướng tăng lên.
Bảng 1.2. SMT ở trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển [44]:
Tên nước Năm SMT Năm SMT
Chi Lê 1960 0,28 1978 6,3
I Ran 1974 2,4 1976 4,9

răng miệng trong cộng đồng là 90%, tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở học sinh cao,
đặc biệt cao nhất ở lứa tuổi 6 tuổi 83,7% [3], trong đó phổ biến là các bệnh về
sâu răng và viêm quanh răng.
Điều tra về tình hình sức khỏe răng miệng toàn quốc mới nhất của Viện
Răng Hàm Mặt cho thấy tình trạng sâu răng sữa trẻ em VN ở mức độ nghiêm
trọng cả về tỉ lệ mắc và mức độ ở từng người. Có gần 85% trẻ ở lứa tuổi từ 6-
8 bị sâu răng sữa. Vừa qua, tại hội thảo về chăm sóc răng miệng do Bệnh viện
Răng Hàm Mặt TPHCM tổ chức, thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Đức Minh cho biết
hiện nay, tỉ lệ sâu răng vĩnh viễn ở nước ta khá cao, khảo sát đã chia tình
trạng sâu răng theo từng độ tuổi. Cụ thể là lứa tuổi từ 6 - 8 có hơn 25% trẻ bị
sâu răng, nhóm tuổi từ 9 - 11 có đến gần 55% trẻ bị sâu răng và mức độ sâu
răng cũng nhiều hơn so với nhóm trẻ 6 - 8 tuổi. Tình trạng sâu răng tăng dần
theo lứa tuổi, cả về số người mắc lẫn mức độ nặng. Phân bổ theo vùng địa lý
thì vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỉ lệ cao nhất: 93,7%. Đối với
người lớn, tỉ lệ có bệnh quanh răng rất cao, từ 93,3% đến 98,3%.
Điều tra cũng ghi nhận có hơn 60% trẻ em và trên 50% người lớn
không bao giờ được khám răng miệng, tất cả trẻ em bị sâu răng sữa tìm đến
phòng khám đều đã ở tình trạng nặng: đau nhức, viêm mủ và lây lan sang
răng bên cạnh. Đó là do khi trẻ bị sâu răng sữa, đa số cha mẹ không đưa trẻ đi
khám vì tưởng rằng bệnh lý này sẽ không ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn sau
này. Trên thực tế, sâu răng sữa nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới sâu
răng vĩnh viễn, răng mọc lệch, răng không chắc khỏe
1.2.3.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng
14
- Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống.
- Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc, vệ sinh răng miệng.
- Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ, của cha mẹ trẻ.
Các tác giả thường mô tả các yếu tố nguy cơ, không phân tích sâu về
các mối liên quan giữa chúng và bệnh sâu răng ở trẻ em [43].
 Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống:

88% [36].
- David và CS cho rằng trẻ không sử dụng bàn chải răng thì có nguy cơ
sâu răng cao gấp 1,9 lần những trẻ khác [44].
 Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ em, của cha
mẹ học sinh:
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy nam học sinh mắc bệnh
sâu răng cao hơn nữ, tuy nhiên cũng có một số tác giả lại không có sự khác
biệt về sâu răng giữa nam và nữ [49]. Có nghiên cứu nhấn mạnh đến sự khác
biệt hay không khác biệt giữa nam và nữ còn phụ thuộc vào một số yếu tố
khác như lứa tuổi, địa dư, loại trường công/tư và hành vi chăm sóc sức khỏe
răng miệng.
- Rao và CS cho rằng học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn ở
ngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng
tốt hơn học sinh không phải là dân tộc ít người [46].
- Okeigbemen và CS cho biết học sinh thành thị có chỉ số SMT cao hơn
học sinh nông thôn (0,72 so với 0,53) và học sinh ở trường tư thục có chỉ số
SMT cao hơn học sinh ở trường công lập (0,75 so với 0,55) nhưng chỉ số
16
SMT ở nữ lại cao hơn học sinh nam (0,7 so với 0,59) [46].
- David và CS thông báo trẻ sống ở thành phố có nguy cơ sâu răng cao
hơn 1,5 lần trẻ ở nông thôn, trẻ em nghèo cũng có nguy cơ sâu răng 1,7 lần so
với trẻ em ở các gia đình giầu [44].
- Ciuffolo và CS cho rằng tỷ lệ sâu răng ở nam học sinh cao hơn ở nữ
học sinh [44].
17
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Trường tiểu học Xuân La quận Tây Hồ
2.2. Đối tượng nghiên cứu

05.0=
α
, Z
(1-
2/
α
)
= 1,96 tương
ứng với độ tin cậy 95%.
- d = 0,03 là mức ước lượng sai lệch mong muốn tuyệt đối giữa tham số
mẫu và tham số quần thể.
- Thay vào công thức, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 278. Trên thực tế
chúng tôi chọn mẫu theo mẫu chủ đích, dự kiến khám và phỏng vấn tất cả học
sinh của trường tiểu học Xuân La quận Tây Hồ thành phố Hà Nội gồm: 1520
học sinh trong đó.
o 360 học sinh khối lớp 1
o 340 học sinh khối lớp 2
o 270 học sinh khối lớp 3
o 270 học sinh khối lớp 4
o 280 học sinh khối lớp 5
2.5. Phương pháp thu thập thông tin
 Công cụ thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập thông qua phiếu khám răng miệng cho học sinh, có
kết hợp giữa phỏng vấn và khám lâm sàng với nội dung theo phiếu khám in
sẵn. Phiếu khám răng miệng gồm 2 phần: phỏng vấn và khám lâm sàng.
19
 Phỏng vấn bao gồm các nội dung:(Phụ lục phiếu khám răng miệng)
- Thông tin chung.
- Thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh.
- Các yếu tố liên quan khác.

tiền sâu răng, men răng đổi màu do nhiễm fluor, mòn mặt nhai ….
- Thiểu sản: thường là những vệt mất men dài tạo thành dải,ngấn bậc
thang và thường đi kèm với nhiễm tetracylin.
- Lõm hình chêm: vết lõm thường gặp ở vùng cổ răng, nhẵnbóng và
không lắng cặn thức ăn.
- Vết tiền sâu răng: là những đốm trắng nhỏ trên mặt men nhưng chưa
tạo lỗ.
- Men răng đổi màu do nhiễm fluor: thường gặp ở một nhóm răng, tạo
thành những dải đổi màu, bề mặt men lồi lõm.
- Mòn mặt nhai: thường gặp ở răng hàm, bề mặt nhẵn bóng, đáy cứng
không lắng đọng thức ăn.
- Các bước tiến hành:
+ Chào hỏi, làm quen với học sinh tạo không khí cởi mở, gần gũi.
+ Lắng nghe học sinh nói.
21
+ Tư vấn cho học sinh về tác hại và cách phòng bệnh răng miệng.
+ Khám dưới ánh sáng tự nhiên: Quan sát kết hợp dụng cụ để phát hiện
sâu răng, viêm lợi.
 Cách tổ chức thu thập số liệu:
- Liên hệ với chính quyền địa phương và Ban giám hiệu 2 trường tiểu
học được chọn.
- Tập huấn cán bộ điều tra.
- Tổ chức phỏng vấn và khám lâm sàng.
2.6. Các chỉ số dùng trong điều tra dịch tễ học bệnh răng miệng
Để đánh giá tình hình sức khoẻ răng miệng, trong điều tra dịch tễ học
sử dụng nhiều chỉ số khác nhau nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử
dụng một số chỉ số sau:
- Chỉ số smt: chỉ số sâu mất trám răng sữa
- Chỉ số SMT: chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn
2.6.1. Chỉ số sâu - mất - trám răng vĩnh viễn (SMT)

Mất răng do sâu E
Mất răng lý do khác -
23
Nhận định kết quả:
Các kết quả được so sánh với các chỉ số theo phân loại của WHO
Bảng 2.3: Tỷ lệ sâu răng
Tỷ lệ Xếp loại
> 80 % Cao
50- 80 % Trung bình
<50 % Thấp
2.6.3. Các biến số nghiên cứu
2.6.3.1. Các biến số độc lập
- Tuổi
- Giới
2.6.3.2. Các biến số phụ thuộc
- Tỷ lệ sâu răng
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn
- Tỷ lệ sâu răng sữa
- Số lần chải răng trong ngày
- Thời điểm chải răng
- Thời gian chải răng
- Kỹ thuật chải răng
- Số lần đi khám răng miệng trong năm
- Tình trạng mọc răng
24
2.7. Sai số và khống chế sai số
 Hạn chế của nghiên cứu:
- Do thời gian, kinh phí và nguồn lực hạn chế nên nghiên cứu chỉ tiến
hành ở học sinh tiểu học của 4 trường, không bao phủ toàn bộ các trường
trong toàn tỉnh.

- Những học sinh tham gia nghiên cứu sẽ được tư vấn về kiến thức liên
quan đến bệnh sâu răng sau khi khám. Các kết quả khám lâm sàng và hướng
điều trị được thông báo cho cha, mẹ học sinh thông qua phiếu khám răng cho
học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status