nghiên cứu biểu hiện lâm sàng và đặc điểm hình ảnh học của dị dạng thông động-tĩnh mạch não chưa có biến chứng chảy máu nội sọ tại bệnh viện bạch mai - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não (AVM) là một trong số các bất
thường bẩm sinh của hệ thống mạch máu não trong đó động mạch được nối
thông trực tiếp với tĩnh mạch không qua mạng lưới mao mạch. Dị dạng thông
động-tĩnh mạch não gồm có ba thành phần là các động mạch nuôi, ổ dị dạng
và tĩnh mạch dẫn lưu [1].
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não có xu hướng luôn tiến triển dẫn đến
biến chứng chảy máu não chiếm tỷ lệ cao khoảng 70% [2], [3] và tỷ lệ tử
vong do vỡ các AVM chiếm 10% [4]…Phần lớn các trường hợp dị dạng
thông động-tĩnh mạch não được phát hiện khi đã vỡ, số bệnh nhân được phát
hiện trước khi có biến chứng này không nhiều. Phần lớn các trường hợp này ổ
dị dạng nằm ở vùng chức năng của não do đó các triệu chứng lâm sàng xuất
hiện sớm của các vùng chức năng này [5].
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não thường không biểu hiện các triệu
chứng lâm sàng trong giai đoạn đầu của cuộc đời, các trương hợp này có thể
được phát hiện qua việc hỏi kỹ về tiền sử bệnh tật, các biểu hiện lâm sàng
hiện tại cũng như việc khám lâm sàng một cách tỉ mỉ hệ thống thần kinh và
tâm thần.
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não là một bất thường bẩm sinh của hệ
thống mạch máu não, nó sẽ phát triển không ngừng và tiến tới biến chứng
xuất huyết nội sọ[2], [3]. Việc phát hiện trước khi có biến chứng này sẽ hạn
chế được các hậu quả nghiêm trọng
Ngày nay với sự tiến bộ của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như siêu
âm Doppler xuyên sọ, chụp cắt lớp vi tính sọ não, chụp cộng hưởng từ não và
mạch não, chụp mạch mã hóa xóa nền ngày càng phát hiện nhiều hơn các dị
dạng mạch máu não nói chung và dị dạng thông động-tĩnh mạch não nói
2
riêng. Tuy nhiên chụp mạch mã hóa xóa nền vẫn là kỹ thuật có tính chất quyết
định cho chẩn đoán và điều trị dị dạng thông động-tĩnh mạch não, phương
pháp tối ưu nhất để mô tả chi tiết cấu trúc của dị dạng mạch máu (gồm động

não và sau đó sáu năm (1933) tác giả công bố nhìn thấy dị dạng mạch máu
não trên phim chụp mạch[9].
Năm 1953, Seldinger phát minh ra phương pháp chụp qua ống thông cho
phép chụp mạch máu chọn lọc tất cả các mạch trung tâm và ngoại vi của cơ thể
[10].
Năm 1965, Miazaki và Kato là những người đầu tiên báo cáo việc sử dụng
siêu âm Doppler để đánh giá tình trạng các mạch máu đoạn ngoài sọ [11].
Đến năm 1982, Aalid và cộng sự đó sử dụng máy Doppler với đầu dò tần số
thấp cho phép sóng siêu âm xuyên qua được các cấu trúc của xương sọ và đo
được tốc độ dòng máu của các động mạch nền não thuộc đa giác Willis [11].
Hounsfield và Ambrose (1971) đã cho ra đời máy chụp CLVT sọ não
đầu tiên [12].
Đến năm 1983, trong lĩnh vực chụp mạch có một tiến bộ mới, đó là
phương pháp chụp mạch mã hóa xóa nền, cho phép nhìn rõ các cấu trúc mạch
4
với một lượng thuốc cản quang rất ít. Gần đây phương pháp chụp mạch cộng
hưởng từ là phương pháp không xâm nhập cũng được áp dụng nhiều [13].
Năm 1994, Martinez nghiên cứu xuất huyết não không do chấn thương ở
người trẻ cho thấy nguyên nhân chủ yếu ở nhóm 15 – 30 tuổi là do thông
động tĩnh mạch não [14].
Trong những năm gần đây việc điều trị AVM bằng phương pháp can
thiệp nội mạch đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Vào đầu những
năm 1990 nhiều tác giả đã sử dụng vật liệu gây nút mạch là Polyvinyl alcohol
(PVA) để gây tắc trước mổ (như Purdy, năm 1990; Fox năm 1990;
Schumacher năm 1991; Nakstad năm 1992). Các vật liệu khác được sử dụng
cho điều trị DDĐTMN như là chỉ Silk (Deveikis năm 1994), Ethanol tinh
khiết (Yakes năm 1997) hoặc Ethibolic [1].
1.1.2. Trong nước
Năm 1961, Nguyễn Thường Xuân và cộng sự đã phổ biến những kinh
nghiệm bước đầu về một số thể chảy máu trong sọ có chỉ định phẫu thuật[15].

(93,62%) [11].
Năm 2008, Phạm Hồng Đức, Phạm Minh Thông trong nghiên cứu về
điều trị gây tắc nội mạch dị dạng thông động-tĩnh mạch não đã kết luận tỷ lệ
điều trị khỏi dị dạng thông động-tĩnh mạch não bằng phương pháp gây tắc nội
mạch với n-CBA (Histoacryl) là 29% [17].
6
Năm 2009, Vũ Thị Ngọc Liên và cộng sự nghiên cứu 30 bệnh nhân dị
dạng thông động-tĩnh mạch não đã vỡ, kết luận rằng 90% xảy ra ở người dưới
40 tuổi và trên cắt lớp vi tính thường là khối máu tụ nhu mô não [18].
Năm 2010, Phạm Hồng Đức, Phạm Minh Thông, Lê Văn Thính nghiên
cứu 161 bệnh nhân dị dạng thông động-tĩnh mạch não đã chỉ ra rằng một ổ dị
dạng kích thước nhỏ hơn 3cm, có phình trong ổ dị dạng và mạch nuôi, tĩnh
mạch dẫn lưu duy nhất và hẹp tĩnh mạch dẫn lưu là các yếu tố nguy cơ cao
dẫn tới xuất huyết [6].
Năm 2010, Đinh Văn Thuyết nghiên cứu với đề tài “Nhận xét mối liên
quan giữa các đặc điểm hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền với một số biểu
hiện lâm sàng thường gặp của dị dạng thông động tĩnh-mạch não” [19].
Năm 2011, Nguyễn Văn Liệu “Nghiên cứu hình ảnh học các trường hợp
di dạng thông động-tĩnh mạch não chưa vỡ tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch
mai” có kết luận 82,88% các ổ dị dạng có liên quan đến vùng chức năng của
não. 3/4 số ổ dị dạng nằm ở nông[5].
1.2. Sơ lược giải phẫu hệ động mạch và tĩnh mạch não
Có hai hệ động mạch cấp máu cho não là hệ động mạch cảnh trong và hệ
động mạch đốt sống-thân nền, cả hai hệ thống này nối với nhau ở nền sọ vùng
bể đáy tạo thành đa giác Willis, từ đó cho các nhánh cấp máu cho não [20],
[21], [22], [23], [24], [25], [26], [27], [28].
1.2.1. Động mạch cảnh gốc
Động mạch (ĐM) cảnh gốc bên trái thường xuất phát trực tiếp từ quai
ĐM chủ, bên phải thường xuất phát từ thân cánh tay đầu. Từ nguyên ủy ĐM
chạy thẳng lên đến ngang mức C4 tách ra 2 nhánh tận là ĐM cảnh trong và

tương ứng đoạn C1 và C2. Ra khỏi xoang hang, ĐM đi theo hướng lên trên ra
ngoài và ra sau rồi chia các nhánh tận. Đoạn này, phía trên liên quan với thùy
trán, phía trong liên quan với giao thoa thị giác và thần kinh II. Sự phân chia
này thấy rõ trên phim chụp nghiêng. Trên phim chụp hướng thẳng chỉ thấy
được đoạn C1.
- Các nhánh tận: có bốn nhánh tận: ĐM não trước, ĐM não giữa, ĐM
mạc trước và ĐM thông sau.
+ ĐM não trước: có hai đoạn chính.
 Đoạn A1: trên phim chụp mạch hướng thẳng hoặc chếch 3/4. ĐM
chạy ngang ra trước và vào trong tới khe liên bán cầu. Đoạn này có thể nhỏ
hoặc không có trong một số trường hợp.
 Đoạn A2: thấy rõ trên phim chụp nghiêng. Sau khi cho nhánh ĐM thông
trước, ĐM chạy ra trước lên trên rồi cong ra sau vòng quanh gối và thân thể chai.
Trên phim hướng thẳng ĐM chạy thẳng đứng đi lên chính mặt phẳng giữa.
ĐM cho các nhánh cấp máu cho đầu nhân đuôi, phần trước vùng dưới
đồi, phần trước nhân đậu, nửa trước của cánh tay trước bao trong (ĐM
Heubner), mặt trong và phần trong của mặt dưới thùy trán, bờ trên và một
phần nhỏ mặt ngoài bán cầu, 4/5 trước của thể chai và mép trắng trước, mặt
trong của thùy đỉnh.
+ ĐM não giữa: chia các đoạn.
 Đoạn M1: thấy rõ trên phim chụp hướng thẳng. ĐM chạy ra ngoài
hơi cong lên trên tới khe Sylvius thì uốn cong vào trong và chia hai nhánh
tận: thân trước trên và thân sau dưới. Chỗ chia đôi này hay gặp phình mạch.
9
 Đoạn M2: từ khe Sylvius mỗi thân lại chia các nhánh cho mặt ngoài
thùy đảo.
 Đoạn M3 và M4: ra khỏi khe Sylvius và tạo ra đường cong thứ hai
cong lên trên tiếp cận với bề mặt vỏ não.
ĐM não giữa cấp máu cho khu vực nông (vỏ não và dưới vỏ) gồm: đa số mặt
ngoài bán cầu đại não, phần ngoài của mặt dưới thùy trán, thùy đảo và chất

thành một thân chung là ĐM thân nền.
Có thể chia ĐM đốt sống làm bốn đoạn liên quan.
+ Đoạn V1: từ nguyên ủy đến đoạn vào lỗ mỏm ngang đốt sống cổ C6.
+ Đoạn V2: đoạn trong lỗ mỏm ngang từ đốt sống cổ C6 đến dưới C2.
+ Đoạn V3: đoạn từ đốt C2 đến C1.
+ Đoạn V4: đoạn từ trên C1 đến chỗ hợp với ĐM đốt sống bên đối diện.
Các nhánh bên:
+ ĐM tiểu não sau dưới (PICA): là nhánh lớn nhất trong bốn nhánh bên
chính tách từ đoạn V4. Chỗ xuất phát thường gặp túi phình chiếm 5% các
phình mạch trong não. Vì nó là đoạn tận cùng của động mạch đốt sống nên cả
hai bên thường được đổ đầy thuốc cản quang trên phim chụp mạch (do dòng
trào ngược), cho dù chỉ bơm thuốc đơn độc qua động mạch đốt sống một bên.
+ ĐM màng não sau: nhánh đầu tiên tách ra từ đoạn V4 trong bể não
vào khoang màng cứng của vùng hố sau. Nhánh này nối với các nhánh màng
não vùng hố sau.
+ ĐM tủy trước: là nhánh xa của đoạn V4 nó nối với nhánh cùng tên để
tạo ra thân ĐM giữa và cấp máu cho 2/3 trước của tủy cổ cao.
11
+ ĐM tủy sau: nối với các ĐM cùng tên bên đối diện chạy trong rãnh
sau của tủy sống, cấp máu cho mặt bên của hành tủy và mặt dưới của tủy não.
Ngoài ra, ĐM đốt sống còn cho các nhánh cấp máu cho các cơ vùng cổ
và cơ cạnh sống và tiếp nối với động mạch hầu lên.
Các vị trí bất thường của ĐM đốt sống:
+ ĐM đốt sống trái xuất phát trực tiếp từ quai ĐM chủ hoặc từ ĐM
chủ ngực.
+ ĐM đốt sống xuất phát từ ĐM cảnh chung…
1.2.4. Động mạch thân nền.
Hợp bởi hai ĐM đốt sống, thường từ bờ dưới của cầu não, rồi chạy
cong ra sau trên phần nền xương chẩm và tận hết ở mỏm yên sau bằng cách
chia hai nhánh tận là hai ĐM não sau.

+ ĐM thông sau nhỏ hoặc thiểu sản gặp 22%.
+ Thiểu sản ĐM thông trước gặp 3%.
+ Thiểu sản một ĐM não sau gặp 15%.
1.2.6. Các nhánh nối giữa ĐM cảnh trong hai bên với cảnh ngoài và ĐM
dưới đòn
- ĐM mắt (nhánh ĐM cảnh trong) nối với ĐM mặt (nhánh ĐM cảnh ngoài).
- ĐM cảnh trong nối với ĐM đốt sống qua nhánh thông sau.
- Hai ĐM cảnh trong nối với nhau qua ĐM thông trước.
- Vòng nối giữa các nhánh nông của các ĐM não trước, não giữa và não
sau ở bề mặt bán cầu đại não.
1.2.7. Hệ tĩnh mạch (TM)
14
Hình 1.3. Giải phẫu hệ tĩnh mạch não [30], [31].
Máu não được dẫn lưu bởi hệ TM não, các TM này thông với các
xoang TM màng cứng, hệ thống xoang mạch này đổ vào các TM cảnh. Người
ta phân ra ba hệ thống TM [21], [23], [25].
1.2.7.1. Hệ thống nông
Dẫn lưu máu của vỏ não và vùng chất trắng ngay dưới vỏ vào xoang
TM: ở phần lồi của bán cầu đại não đổ lên trên vào xoang TM dọc trên; ở
phần tiếp giáp giữa hai bán cầu đổ về xoang TM dọc trên và dọc dưới; ở mặt
trong đổ về xoang TM hang, xoang đá và xoang bên.
1.2.7.2. Hệ thống trung tâm
Thu nhận máu từ cấu trúc ở trong sâu: thể vân, bao trong, đám rối mạch
mạc…tất cả họp thành một nhánh lớn, ở giữa và rất ngắn gọi là TM Galen.
TM Galen cùng với xoang TM dọc dưới tạo thành xoang thẳng đổ về
hội lưu Hérophine (bao gồm xoang TM dọc trên, xoang thẳng, xoang TM bên,
chẩm sau) khu trú ở trước ụ chẩm trong.
1.2.7.3. Hệ thống nền
15
Nhận máu từ khu vực nền của não, mỗi bên đổ vào một TM lớn gọi là

trung tâm ổ dị dạng nơi mà sự nối thông (shunting) động-tĩnh mạch xảy ra
qua một hoặc nhiều lỗ dò (fistule). Các động mạch nuôi này điển hình được
tách ra từ một hoặc nhiều nhánh trong sọ của động mạch cảnh trong
và/hoặc từ hệ động mạch sống nền, đôi khi được tách ra từ các nhánh của
động mạch cảnh ngoài hoặc từ động mạch đốt sống xuyên qua màng cứng
[37]. Nối thông của một DDĐTMN với dòng chảy cao và sức cản thấp có
thể gây hút máu nhiều vào ổ từ các vùng xung quanh. Với tốc độ dòng chảy
17
cao và duy trì lâu ngày có thể gây ra hiện tượng chít hẹp hay giãn của các
động mạch, điều này là do sự dầy lên và tăng sản của lớp nội mạc [38]. Các
động mạch nuôi này có thể kết thúc ở trong ổ dị dạng hoặc tiếp tục cung
cấp máu cho các vùng não kế cận với ổ dị dạng hoặc nó mọc gián tiếp từ
một động mạch gần với ổ dị dạng. Ngoài ra chúng ta còn có thể thấy các
phình mạch kèm theo, các phình mạch này có cấu trúc như hình phễu nằm
ở chỗ chia đôi của động mạch hoặc có hình nang hay hình thoi nằm ở các
mạch máu ở xa DDĐTMN, nằm trên động mạch nuôi hay trong ổ dị dạng.
Tỷ lệ gặp phình mạch đi kèm với DDĐTMN khoảng 10% [39].
+ Ổ dị dạng: là một mạng lưới các mạch máu bất thường xen kẽ giữa
động mạch đến và tĩnh mạch dẫn lưu. Chúng bao gồm các tiểu động mạch có
thành mỏng nối với nhau và nối với các tiểu tĩnh mạch mỏng. Ở đây, không
có giường mao mạch trung gian và không có tổ chức thần kinh đệm trong ổ.
Khoảng 60% ổ dị dạng có túi phình [33]. Các ổ dị dạng thường có ranh giới
rõ ràng, nhưng đôi khi nó chiếm một phần lớn của bán cầu não thì có hình
thái lan tỏa hơn. Kích thước ổ dị dạng là phần được quan tâm nhiều nhất ở rất
nhiều nghiên cứu về tiên lượng cũng như điều trị, mặc dù phương pháp đo
phù hợp và chính xác của nó vẫn còn một vài khó khăn.
+ Tĩnh mạch dẫn lưu: có thể có một hay nhiều tĩnh mạch dẫn lưu bắt
nguồn từ vùng sâu trong ổ dị dạng và tiến tới bề mặt của nó, thu máu từ các
nhánh trên đường dẫn lưu, trực tiếp hoặc qua hệ thống bàng hệ để tiến tới hệ
thống tĩnh mạch nông hoặc/và sâu của não. Do không có giường mao mạch

phát hiện ở người cùng thế hệ hoặc thế hệ nối tiếp. Mặc dù đây là một bệnh
bẩm sinh nhưng các tai biến chưa có biến chứng chảy máu nội sọ thường xảy
ra ở lứa tuổi 20-40, rất hiếm gặp ở tuổi 50 [41].
Trong tiền sử bệnh nhân hay có nhức đầu kiểu vận mạch, nhức đầu từng
cơn rồi trở lại bình thường hoặc để lại các triệu chứng thần kinh như lác mắt,
thiếu sót tháp nửa người kiểu thiếu máu cục bộ não.
Biểu hiện động kinh cũng là triệu chứng hay gặp trong bệnh cảnh lâm
sàng của AVM, chiếm khoảng 30% [42]. Loại cơn động kinh thường là động
kinh cục bộ, hay cục bộ toàn thể hoá.
Vì có nhiều chỗ mạch máu lớn xen kẽ giữa động mạch và tĩnh mạch
chiếm chỗ của hệ mao mạch do đó có sự giảm đáng kể sức cản của dòng máu
và làm tốc độ máu vào ổ dị dạng tăng lên rất nhiều lần, nếu ổ dị dạng có kích
thước lớn thì có thể tăng lên 50-100 lần, vì tốc độ máu tăng, máu bị hút nhiều
vào túi làm cho vùng não xung quanh bị thiếu máu, đó là hiện tượng "đoạt
máu"[8], [43]. Cùng với tổn thương tại chỗ hiện tượng thiếu máu giải thích
các triệu chứng thần kinh trước khi chảy máu như nhức đầu, động kinh
1.7. Triệu chứng cận lâm sàng của dị dạng thông động-tĩnh mạch
1.7.1. Siêu âm Doppler xuyên sọ [44]
Siêu âm Doppler xuyên sọ là dựa trên nguyên lý các sóng siêu âm sẽ
phản chiếu lại khi xuyên qua một vật thể chuyển động trong dùng máu (hồng
cầu) sẽ tạo nên sự thay đổi về tần số, thay đổi về tốc độ của hồng cầu chuyển
động trong dùng máu.
- Các tín hiệu ghi được qua thăm dò vùng thái dương (temporal window), đầu
dò đặt ở vị trí phía trên cung gò má cho biết tốc độ dòng máu của động mạch
20
não giữa, động mạch cảnh trong đoạn trong sọ (khúc tận) và các động mạch
não trước và động mạch não sau.
- Đầu dù đặt ở vị trí ổ mắt (orbital window) cho biết tốc độ dòng máu ở động
mạch cảnh trong đoạn Siphon và động mạch mắt.
- Đầu dù đặt ở vị trí dưới chẩm (suboccipital window) ghi được tốc độ dòng

sống
Vùng dưới
chẩm
55-80 Ngược chiều
36 ± 9
Động mạch nền
Vùng dưới
chẩm
>80 Ngược chiều
39 ± 9
Động mạch mắt Vùng ổ mắt 40-55 Cùng hướng
21 ± 5
21
Động mạch cảnh
trong đoạn
Siphon
Vùng ổ mắt 55-80 Cùng/ngược chiều
47 ±19
Siêu âm Doppler xuyên sọ được áp dụng trong các trường hợp sau: phát
hiện hẹp động mạch trong não, đánh giá tuần hoàn bàng hệ khi có hẹp hoặc
tắc mạch, đánh giá tình trạng các mạch nuôi, đánh giá các bệnh nhân nghi ngờ
chết não, phát hiện và theo dõi tắc mạch trong phẫu thuật tim và mạch cảnh,
nhức nửa đầu Migraine.
Đối với các trường hợp thông động-tĩnh mạch não, siêu âm Doppler
xuyên sọ cho phép xác định các dị dạng kích thước trung bình và lớn, các
mạch máu nuôi trong các dị dạng thông động-tĩnh não mang đặc điểm là tăng
thể tích, tăng tốc độ dòng máu và giảm sức cản. Tốc độ dòng chảy tăng và chỉ
số mạch giảm xuống ghi được ở các mạch nuôi của các dị dạng này. Sử dụng
các nghiệm pháp gây tăng thông khí sẽ nâng cao hiệu quả chẩn đoán. Siêu âm
Doppler xuyên sọ thường được ứng dụng để đánh giá hiệu quả của việc gây

định chẩn đoán dị dạng thông động-tĩnh mạch não và đánh giá tình trạng của
nó, tuy nhiên nó không xác định được một cách chính xác giới hạn và mức độ
lan tràn của dị dạng thông động-tĩnh mạch não[1]. Nhờ sự ra đời của máy
CLVT đa dãy đầu dò (MSCT) cùng với kỹ thuật tái tạo ảnh không gian ba
chiều đó cho phép thăm khám nhanh chóng hơn và chỉ rõ các yếu tố mạch
máu, do đó CLVT đa dãy đầu dò đã trở thành công cụ cần thiết đặc biệt trong
chẩn đoán các bệnh lý tim mạch và mạch máu não[47].
CLVT mạch máu đa dãy đầu dò giúp chẩn đoán xác định dị dạng thông
động-tĩnh mạch não là rất cao, đạt tới 100%[48], [49].Trên CLVT mạch máu,
23
các động mạch đến thường xác định được vị trí của chúng, cũng có thể phát
hiện được phình mạch có hoặc không liên quan đến dòng chảy. Các tĩnh mạch
dẫn lưu giãn nhiều hơn so với động mạch nuôi và có thể thấy phình tĩnh
mạch.
1.7.3. Chụp cộng hưởng từ
Đây là phương pháp thăm dò giải phẫu chức năng não bằng các hình
ảnh chất lượng cao. Kỹ thuật này dựa vào đặc tính từ trường của vật chất.
Hiện ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới chụp CHT như là một trắc nghiệm
sàng lọc để phát hiện tổn thương các cấu trúc mạch của hệ thần kinh trung
ương ở nhóm nguy cơ cao: thận đa nang, loạn sản xơ cơ[50], [51].
So với CLVT, CHT phân tích ổ dị dạng tốt hơn nhiều vì nó thường phân
biệt giới hạn chính xác giữa ổ dị dạng và các mạch máu ngoại vi của dị dạng. Nó
xác định chính xác vị trí của ổ dị dạng so với hệ thống não thất và với các cấu trúc
chức năng ở vùng vỏ hoặc vùng sâu. CHT có thể mô tả tốt hơn những thay đổi
hình thái não do dị dạng thông động-tĩnh mạch não gây ra hoặc những hậu quả
của nó đến nhu mô và não thất: tổn thương thiếu máu não, xuất huyết cũ; teo não
kèm giãn hệ thống não thất; chèn ép hệ thống não thất trong trường hợp hiệu ứng
khối do dị dạng thông động-tĩnh mạch não chèn ép; ứ nước não thất trong
trường hợp xuất huyết trước đó hoặc do hệ thống não thất bị chèn ép bởi tĩnh
mạch dẫn lưu giãn[1].

“mặt nạ”, những cấu trúc giống nhau trên hai ảnh chụp bị xóa đi chỉ còn hiện
hình những cấu trúc mới đó là các mạch máu được cản quang bởi thuốc[11].
1.7.4.2. Kỹ thuật
Đánh giá chụp mạch của DDĐTMN thường được tiến hành làm hai bước [56].
25
- Chụp chọn lọc (selective) cả mạch cấp máu cho DDĐTM cũng như
các nhánh còn lại của hệ mạch não.
- Chụp siêu chọn lọc (superselective) chỉ mạch cấp máu cho ổ dị dạng
DDĐTMN bằng vi ống thông.
1.7.4.2.1. Chụp mạch chọn lọc
Cần chụp cả bốn trục động mạch nuôi não để đánh giá toàn bộ não trước
khi ra quyết định điều trị. Nghiên cứu nhiều thông số chụp mạch cho phép ít nhiều
đánh giá một cách chính xác nguy cơ xuất huyết, và từ đó đưa ra thái độ điều trị
[1], [56]. Có rất nhiều thông số và đôi khi khó thấy được, bao gồm:
- Các mạch đến: số động mạch đến, số mạch nuôi, mức độ giãn, ngoằn
ngoèo, phình mạch, cướp máu, bổ xung thêm mạch, các động mạch màng
cứng, hẹp động mạch.
- Ổ dị dạng: kích thước, thể tích, phân loại các dạng dò khác nhau (dò
động-tĩnh mạch, dò tiểu động mạch-tĩnh mạch), vị trí ổ dị dạng.
- Các mạch đi: số lượng tĩnh mạch dẫn lưu, số lượng hệ thống tĩnh
mạch dẫn lưu, vị trí, hình thái, ngoằn ngoèo, hẹp tĩnh mạch, gập góc tĩnh
mạch, hợp lưu tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch (giãn một đoạn hay toàn bộ tĩnh
mạch), trào ngược tĩnh mạch vào một xoang màng cứng, bổ sung thêm tĩnh
mạch, giảm sản và mất một xoang tĩnh mạch, khuyết lòng xoang tĩnh mạch,
các bất thường tĩnh mạch.
1.7.4.2.2. Chụp mạch siêu chọn lọc
Chụp siêu chọn lọc thường được tiến hành để phân tích ổ dị dạng một
cách chi tiết hơn và từ đó đưa ra đúng quyết định điều trị [64]. Chụp mạch
siêu chọn lọc được tiến hành bằng bơm thuốc cản quang trực tiếp bằng tay
qua vi ống thông vào từng động mạch nuôi. Nó thường là bước đầu của điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status