1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não (AVMs) là một trong số các bất
thường bẩm sinh của hệ thống mạch máu não trong đó động mạch được nối
thông trực tiếp với tĩnh mạch không qua mạng lưới mao mạch. Dị dạng thông
động-tĩnh mạch não gồm có ba thành phần là các động mạch nuôi, ổ dị dạng
và tĩnh mạch dẫn lưu [39].
Dị dạng thông động-tĩnh mạch não có xu hướng luôn tiến triển dẫn đến
biến chứng chảy máu não. Phần lớn các trường hợp dị dạng thông động-tĩnh
mạch não được phát hiện khi đã vỡ, số bệnh nhân được phát hiện trước khi có
biến chứng này không nhiều. Phần lớn các trường hợp này ổ dị dạng nằm ở
vùng chức năng của não do đó các triệu chứng lâm sàng xuất hiện sớm. Ngoài
ra các ổ dị dạng này có thể có các đặc điểm đặc biệt về hình thái giúp cho
chúng tránh được nguy cơ vỡ sớm.
Biểu hiện lâm sàng của dị dạng thông động-tĩnh mạch não chưa vỡ: Nó
thường không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng trong giai đoạn đầu của
cuộc đời, khai thác lại tiền sử bệnh nhân có thể có biểu hiện nhức đầu kiểu
nhức nửa đầu (migraine), cơn co giật động kinh Động kinh là triệu chứng
hay gặp trong bệnh cảnh lâm sàng của dị dạng thông động-tĩnh mạch não
chưa vỡ chiếm khoảng 30% các trường hợp [32]. Loại cơn động kinh thường
là cục bộ, hay cục bộ toàn thể hóa [59], [70]. Nhức đầu kiểu nhức nửa đầu
(migraine) cũng là triệu chứng hay gặp sau động kinh. Bởi vậy nếu không
được phát hiện sớm để có phương pháp điều trị sớm, nếu khi xảy ra biến
chứng chảy máu trong sọ chiếm tỷ lệ cao khoảng 70% [17], [67] và tỷ lệ tử
vong do vỡ các AVMs chiếm 10% [70]. Mặt khác bệnh lý này thường xảy ra ở
tuổi trẻ từ 20 đến 40 tuổi [25], đang tuổi lao động và cống hiến cho xã hội,
hơn thế nữa nếu được phát hiện được sớm và điều trị kịp thời nhiều trường
hợp cho kết quả khả quan, hạn chế tỷ lệ vỡ tái phát.
2
Ngày nay với sự tiến bộ của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như siêu
âm Doppler xuyên sọ, chụp cắt lớp vi tính sọ não, chụp cộng hưởng từ não và
Dị dạng thông động tĩnh-mạch não lần đầu tiên được mô tả một cách rõ
ràng, chính xác năm 1895 bởi Steinheil và từ đó ngày càng có nhiều nghiên
cứu về bệnh lí này.
Cushing và Dandy (1928) đã tìm ra cơ chế của hiện tượng “đoạt máu”
gặp trong thông động-tĩnh mạch não là do có sự thay đổi kiểu dòng chảy, máu
bị hút vào ổ dị dạng nhiều dẫn đến vùng não xung quanh bị thiếu máu.
Năm 1927, Egaz Moniz đó phát minh ra phương pháp chụp mạch máu
não và sau đó sáu năm (1933) tác giả công bố nhìn thấy dị dạng mạch máu
não trên phim chụp mạch.
Năm 1953, Seldinger phát minh ra phương pháp chụp qua ống thông cho
phép chụp mạch máu chọn lọc tất cả các mạch trung tâm và ngoại vi của cơ thể.
Năm 1965, Miazaki và Kato là những người đầu tiên báo cáo việc sử
dụng siêu âm Doppler để đánh giá tình trạng các mạch máu đoạn ngoài sọ.
Đến năm 1982, Aalid và cộng sự đó sử dụng máy Doppler với đầu dò tần số
thấp cho phép sóng siêu âm xuyên qua được các cấu trúc của xương sọ và đo
được tốc độ dòng máu của các động mạch nền não thuộc đa giác Willis.
Hounsfield và Ambrose (1971) đã cho ra đời máy chụp CLVT sọ não đầu
tiên.
Đến năm 1983, trong lĩnh vực chụp mạch có một tiến bộ mới, đó là
phương pháp chụp mạch mã hóa xóa nền, cho phép nhìn rõ các cấu trúc mạch
với một lượng thuốc cản quang rất ít. Gần đây phương pháp chụp mạch cộng
hưởng từ là phương pháp không xâm nhập cũng được áp dụng nhiều.
4
1.1.2. Trong nước
Năm 1961, Nguyễn Thường Xuân và cộng sự đã phổ biến những kinh
nghiệm bước đầu về một số thể chảy máu trong sọ có chỉ định phẫu thuật.
Năm 1975, Nguyễn Văn Đăng đã áp dụng kỹ thuật chụp động mạch nền
theo phương pháp Seldinger để phát hiện các dị dạng mạch não. Dựa vào các
kỹ thuật mới Nguyễn Văn Đăng và cộng sự đã đi sâu nghiên cứu các dị dạng
mạch máu não và các biến chứng của nó; năm 1982 đó thông báo kết quả 25
mạch với n-CBA (Histoacryl) là 29% [10].
Năm 2009, Vũ Thị Ngọc Liên và cộng sự nghiên cứu 30 bệnh nhân dị
dạng thông động-tĩnh mạch não đã vỡ, kết luận rằng 90% xảy ra ở người dưới
40 tuổi và trên cắt lớp vi tính thường là khối máu tụ nhu mô não [18].
Năm 2010, Phạm Hồng Đức, Phạm Minh Thông, Lê Văn Thính nghiên
cứu 161 bệnh nhân dị dạng thông động-tĩnh mạch não đã chỉ ra rằng một ổ dị
dạng kích thước nhỏ hơn 3cm, có phình trong ổ dị dạng và mạch nuôi, tĩnh
mạch dẫn lưu duy nhất và hẹp tĩnh mạch dẫn lưu là các yếu tố nguy cơ cao
dẫn tới xuất huyết [10].
Năm 2010, Đinh Văn Thuyết nghiên cứu với đề tài “Nhận xét mối liên
quan giữa các đặc điểm hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền với một số biểu
hiện lâm sàng thường gặp của dị dạng thông động tĩnh-mạch não”
Năm 2011, Nguyễn Văn Liệu “Nghiên cứu hình ảnh học các trường hợp
di dạng thông động-tĩnh mạch não chưa vỡ tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch
mai” có kết luận 82,88% các ổ dị dạng có liên quan đến vùng chức năng của
não. 3/4 số ổ dị dạng nằm ở nông.
6
1.2. Sơ lược giải phẫu hệ động mạch và tĩnh mạch não
1.2.1. Hệ động mạch não [2], [11], [12]
Hình 1.1. Các động mạch nuôi não [11]
Não được cấp máu bởi hai hệ thống động mạch là động mạch sống nền
và động mạch cảnh trong.
Hai động mạch đốt sống sau khi qua lỗ lớn xương chẩm vào sọ thì hợp
lại ở trước rãnh nền của cầu não thành động mạch nền. Sau khi cho các nhánh
vào cầu não và tiểu não, động mạch chia hai ngành cùng là hai động mạch
não sau.Còn động mạch cảnh trong sau khi tới xoang tĩnh mạch hang thì chia
thành bốn ngành cùng là: động mạch não trước, động mạch thông sau, động
mạch mạch mạc trước và động mạch não giữa.
7
Một số lớn các nhánh của động mạch đốt sống và động mạch cảnh trong
1.2.1.2 Các động mạch trung ương
Các động mạch này cấp máu cho các nhân nền của não như nhân đuôi,
nhân bèo, nhân trước tường, cho gian não và thành dưới của não thất III. Các
nhánh trung ương này đều tách từ ba động mạch não trước, não giữa và não
sau. Riêng các nhánh tách từ động mạch não giữa được gọi là các nhánh vân,
thường xảy ra chảy máu não ở các động mạch này.
1.2.1.3 Các động mạch mạch mạc
Động mạch mạch mạc cấp máu cho các tâm mạch mạc của não thất. Có
hai động mạch mạch mạc: động mạch mạch mạc trước tách ra từ động mạch
cảnh trong và nhánh mạch mạc tách ra từ động mạch não sau.
1.2.2. Hệ tĩnh mạch [4], [12]
Hình 1.2. Các tĩnh mạch não [12]
9
Máu não được dẫn lưu bởi hệ thống tĩnh mạch não, các tĩnh mạch này
thông với các xoang tĩnh mạch màng cứng, hệ thống xoang mạch này đổ vào
các tĩnh mạch cảnh. Người ta phân ra ba hệ thống tĩnh mạch:
1.2.2.1 Hệ thống nông
Dẫn lưu máu của vỏ não và vùng chất trắng ngay dưới vỏ vào xoang tĩnh
mạch: ở phần lồi của bán cầu đại não đổ lên trên vào xoang tĩnh mạch dọc
trên; ở phần tiếp giáp giữa hai bán cầu đổ về xoang tĩnh mạch dọc trên và dọc
dưới; ở mặt trong đổ về xoang tĩnh mạch hang, xoang đá và xoang bên.
1.2.2.2 Hệ thống trung tâm
Thu nhận máu từ cấu trúc ở trong sâu: thể vân, bao trong, đám rối mạch
mạc tất cả họp thành một nhánh lớn, ở giữa và rất ngắn gọi là tĩnh mạch
Galen.
Tĩnh mạch Galen hợp cùng với xoang tĩnh mạch dọc dưới tạo thành
xoang thẳng đổ về hội lưu Hérophile (bao gồm xoang tĩnh mạch dọc trên,
xoang thẳng, xoang tĩnh mạch bên, chẩm sau) khu trú ở trước ụ chẩm trong.
1.2.2.3 Hệ thống nền
Nhận máu từ khu vực nền của não, mỗi bên đổ vào một tĩnh mạch lớn gọi là
nhánh trong sọ của động mạch cảnh trong và/hoặc từ hệ động mạch sống nền,
đôi khi được tách ra từ các nhánh của động mạch cảnh ngoài hoặc từ động
mạch đốt sống xuyên qua màng cứng Nối thông của một AVMs với dòng chảy
cao và sức cản thấp có thể gây hút máu nhiều vào ổ từ các vùng xung quanh.
Với tốc độ dùng chảy cao và duy trì lâu ngày có thể gây ra hiện tượng chít
hẹp hay giãn của các động mạch, điều này là do sự dầy lên và tăng sản của
lớp nội mạc. Các động mạch nuôi này có thể kết thúc ở trong ổ dị dạng hoặc
tiếp tục cung cấp máu cho các vùng não kế cận với ổ dị dạng hoặc nó mọc
11
gián tiếp từ một động mạch gần với ổ dị dạng. Ngoài ra chúng ta còn có thể
thấy các phình mạch kèm theo, các phình mạch này có cấu trúc như hình phễu
nằm ở chỗ chia đôi của động mạch hoặc có hình nang hay hình thoi nằm ở các
mạch máu ở xa AVMs, nằm trên động mạch nuôi hay trong ổ dị dạng. Tỷ lệ
gặp phình mạch đi kèm với AVMs khoảng 10% [21].
* Ổ dị dạng: định nghĩa của một ổ dị dạng như là một mạng lưới các
mạch máu bất thường xen kẽ giữa động mạch đến và tĩnh mạch dẫn lưu. Các
ổ dị dạng thường có ranh giới rõ ràng, nhưng đôi khi nó chiếm một phần lớn
của bán cầu não thì có hình thái lan toả hơn. Với phương pháp chụp mạch mã
hóa xóa nền siêu chọn lọc có thể thấy được sự đa dạng của các nối thông
động-tĩnh mạch trong ổ dị dạng, từ một lỗ dò đơn giản cho đến một mạng lưới
nối thông rất phức tạp. Hiện nay người ta cho là búi mạch được cấu tạo từ
nhiều phần nhỏ được gọi là các “ngăn”, mỗi “ngăn” là một phần của búi mạch
và được nuôi bởi một động mạch và được dẫn lưu đi bởi một tĩnh mạch cùng
tên. Kích thước ổ dị dạng là phần được quan tâm nhiều nhất ở rất nhiều
nghiên cứu về tiên lượng cũng như điều trị, mặc dù phương pháp đo phù hợp
và chính xác của nó vẫn còn một vài khó khăn.
* Tĩnh mạch dẫn lưu: có thể có một hay nhiều tĩnh mạch dẫn lưu bắt
nguồn từ vùng sâu trong ổ dị dạng và tiến tới bề mặt của nó, thu máu từ các
nhánh trên đường dẫn lưu, trực tiếp hoặc qua hệ thống bàng hệ để tiến tới hệ
thống tĩnh mạch nông hoặc/và sâu của não. Do không có giường mao mạch
ra ở lứa tuổi 20-40, rất hiếm gặp ở tuổi 50 [25].
Trong tiền sử bệnh nhân hay có nhức đầu kiểu vận mạch, nhức đầu từng
cơn rồi trở lại bình thường hoặc để lại các triệu chứng thần kinh như lác mắt,
thiếu sót tháp nửa người kiểu thiếu máu cục bộ não.
13
Biểu hiện động kinh cũng là triệu chứng hay gặp trong bệnh cảnh lâm sàng
của AVMs, chiếm khoảng 30% [32]. Loại cơn động kinh thường là động kinh
cục bộ, hay cục bộ toàn thể hoá.
Vì có nhiều chỗ mạch máu lớn xen kẽ giữa động mạch và tĩnh mạch
chiếm chỗ của hệ mao mạch do đó có sự giảm đáng kể sức cản của dòng máu
và làm tốc độ máu vào ổ dị dạng tăng lên rất nhiều lần, nếu ổ dị dạng có kích
thước lớn thì có thể tăng lên 50-100 lần, vì tốc độ máu tăng, máu bị hút nhiều
vào túi làm cho vùng não xung quanh bị thiếu máu, đó là hiện tượng "đoạt
máu". Cùng với tổn thương tại chỗ hiện tượng thiếu máu giải thích các triệu
chứng thần kinh trước khi chảy máu như nhức đầu, động kinh
1.7. Triệu chứng cận lâm sàng của dị dạng thông động-tĩnh mạch
1.7.1. Siêu âm Doppler xuyên sọ [13]
Siêu âm Doppler xuyên sọ là dựa trên nguyên lý các sóng siêu âm sẽ
phản chiếu lại khi xuyên qua một vật thể chuyển động trong dùng máu (hồng
cầu) sẽ tạo nên sự thay đổi về tần số, thay đổi về tốc độ của hồng cầu chuyển
động trong dùng máu.
- Các tín hiệu ghi được qua thăm dò vùng thái dương (temporal window), đầu
dò đặt ở vị trí phía trên cung gò má cho biết tốc độ dòng máu của động mạch
não giữa, động mạch cảnh trong đoạn trong sọ (khúc tận) và các động mạch
não trước và động mạch não sau.
- Đầu dù đặt ở vị trí ổ mắt (orbital window) cho biết tốc độ dòng máu ở động
mạch cảnh trong đoạn Siphon và động mạch mắt.
- Đầu dù đặt ở vị trí dưới chẩm (suboccipital window) ghi được tốc độ dòng
máu ở động mạch sống và động mạch nền.
Siêu âm Doppler xuyên sọ cho biết các thông số sau:
Vùng dưới
chẩm
55-80 Ngược chiều
36 ± 9
Động mạch nền
Vùng dưới
chẩm
>80 Ngược chiều
39 ± 9
Động mạch mắt Vùng ổ mắt 40-55 Cùng hướng
21 ± 5
Động mạch
cảnh trong
đoạn Siphon
Vùng ổ mắt 55-80 Cùng/ngược chiều
47 ±19
Siêu âm Doppler xuyên sọ được áp dụng trong các trường hợp sau: phát
hiện hẹp động mạch trong não, đánh giá tuần hoàn bàng hệ khi có hẹp hoặc
tắc mạch, đánh giá tình trạng các mạch nuôi, đánh giá các bệnh nhân nghi ngờ
chết não, phát hiện và theo dõi tắc mạch trong phẫu thuật tim và mạch cảnh,
nhức nửa đầu Migraine.
15
Đối với các trường hợp thông động-tĩnh mạch não, siêu âm Doppler
xuyên sọ cho phép xác định các dị dạng kích thước trung bình và lớn, các
mạch máu nuôi trong các dị dạng thông động-tĩnh não mang đặc điểm là tăng
thể tích, tăng tốc độ dòng máu và giảm sức cản. Tốc độ dòng chảy tăng và chỉ
số mạch giảm xuống ghi được ở các mạch nuôi của các dị dạng này. Sử dụng
các nghiệm pháp gây tăng thông khí sẽ nâng cao hiệu quả chẩn đoán. Siêu âm
Doppler xuyên sọ thường được ứng dụng để đánh giá hiệu quả của việc gây
tắc mạch chọn lọc để điều trị các dị dạng thông động-tĩnh mạch não và theo
nó, tuy nhiên nó không xác định được một cách chính xác giới hạn và mức độ
lan tràn của dị dạng thông động-tĩnh mạch não. Nhờ sự ra đời của máy CLVT
đa dãy đầu dù (MSCT) cùng với kỹ thuật tái tạo ảnh không gian ba chiều đó
cho phép thăm khám nhanh chóng hơn và chỉ rõ các yếu tố mạch máu, do đó
CLVT đa dãy đầu dò đã trở thành công cụ cần thiết đặc biệt trong chẩn đoán
các bệnh lý tim mạch và mạch máu não.
CLVT mạch máu đa dãy đầu dò giúp chẩn đoán xác định dị dạng thông
động-tĩnh mạch não là rất cao, đạt tới 100%. Trên CLVT mạch máu, các động
mạch đến thường xác định được vị trí của chúng, cũng có thể phát hiện được
phình mạch có hoặc không liên quan đến dòng chảy. Các tĩnh mạch dẫn lưu
giãn nhiều hơn so với động mạch nuôi và có thể thấy phình tĩnh mạch.
1.7.3. Chụp cộng hưởng từ [15], [16], [39], [78], [47], [87], [43]
Đây là phương pháp thăm dò giải phẫu chức năng não bằng các hình ảnh
chất lượng cao. Kỹ thuật này dựa vào đặc tính từ trường của vật chất. Hiện ở
nhiều nước tiên tiến trên thế giới chụp CHT như là một trắc nghiệm sàng lọc
17
để phát hiện tổn thương các cấu trúc mạch của hệ thần kinh trung ương ở
nhóm nguy cơ cao: thận đa nang, loạn sản xơ cơ.
So với CLVT, CHT phân tích ổ dị dạng tốt hơn nhiều vì nó thường phân biệt
giới hạn chính xác giữa ổ dị dạng và các mạch máu ngoại vi của dị dạng. Nó xác
định chính xác vị trí của ổ dị dạng so với hệ thống não thất và với các cấu trúc
chức năng ở vùng vỏ hoặc vùng sâu. CHT có thể mô tả tốt hơn những thay đổi
hình thái não do dị dạng thông động-tĩnh mạch não gây ra hoặc những hậu quả
của nó đến nhu mô và não thất: tổn thương thiếu máu não, xuất huyết cũ; teo não
kèm giãn hệ thống não thất; chèn ép hệ thống não thất trong trường hợp hiệu ứng
khối do dị dạng thông động-tĩnh mạch não chèn ép; ứ nước não thất trong
trường hợp xuất huyết trước đó hoặc do hệ thống não thất bị chèn ép bởi tĩnh
mạch dẫn lưu giãn.
So với chụp mạch thường qui, kích thước và vị trí giải phẫu của ổ dị
dạng được chỉ rõ trên CHT. Smith đó chỉ ra rằng xác định kích thước của ổ dị
1.7.4.2. Kỹ thuật
Đánh giá chụp mạch của DDĐTMN thường được tiến hành làm hai bước:
- Chụp chọn lọc (selective) cả mạch cấp máu cho DDĐTM còng như các
nhánh còn lại của hệ mạch não.
- Chụp siêu chọn lọc (superselective) chỉ mạch cấp máu cho ổ dị dạng
DDĐTMN bằng vi ống thông.
Chụp mạch chọn lọc
Cần chụp cả bốn trục động mạch nuôi não để đánh giá toàn bộ não trước
khi ra quyết định điều trị. Nghiên cứu nhiều thông số chụp mạch cho phép ít
nhiều đánh giá một cách chính xác nguy cơ xuất huyết, và từ đó đưa ra thái độ
19
điều trị. Có rất nhiều thông số và đôi khi khó thấy được, bao gồm:
- Các mạch đến: số động mạch đến, số mạch nuôi, mức độ giãn, ngoằn
ngoèo, phình mạch, cướp máu, bổ xung thêm mạch, các động mạch màng
cứng, hẹp động mạch.
- Ổ dị dạng: kích thước, thể tích, phân loại các dạng dò khác nhau (dò
động-tĩnh mạch, dò tiểu động mạch-tĩnh mạch), vị trí ổ dị dạng.
- Các mạch đi: số lượng tĩnh mạch dẫn lưu, số lượng hệ thống tĩnh mạch
dẫn lưu, vị trí, hình thái, ngoằn ngoèo, hẹp tĩnh mạch, gập góc tĩnh mạch, hợp
lưu tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch (giãn một đoạn hay toàn bộ tĩnh mạch), trào
ngược tĩnh mạch vào một xoang màng cứng, bổ sung thêm tĩnh mạch, giảm
sản và mất một xoang tĩnh mạch, khuyết lòng xoang tĩnh mạch, các bất
thường tĩnh mạch.
Chụp mạch siêu chọn lọc
Chụp siêu chọn lọc thường được tiến hành để phân tích ổ dị dạng một
cách chi tiết hơn và từ đó đưa ra đúng quyết định điều trị [64]. Chụp mạch
siêu chọn lọc được tiến hành bằng bơm thuốc cản quang trực tiếp bằng tay
qua vi ống thông vào từng động mạch nuôi. Nó thường là bước đầu của điều
trị bằng gây tắc nội mạch nhằm phân tích kỹ hơn về đặc điểm vùng dị dạng sẽ
được nút [39], [89].
+ Độ III là 2,7% (phân độ theo Spetzler).
1.8.2.2. Điều trị bằng quang tuyến phẫu thuật (Radiosurgery)
- Nguyên lý: quang tuyến phẫu thuật được thực hiện bởi khu trú chùm
phóng xạ bên ngoài vào một mục tiêu nào đó được chỉ rõ nhờ định vị nổi. Lợi
thế của quang tuyến phẫu thuật là nó chiếu một liều phóng xạ cao vào một
mục tiêu (vùng cần điều trị), cùng thời điểm đó phóng xạ được chiếu tới vùng
tổ chức không phải mục tiêu với liều rất thấp [79].
- Mục đích điều trị: Làm tắc được hoàn toàn ổ dị dạng trong khi vẫn bảo
tồn được các chức năng thần kinh.
- Chỉ định:
+ Những DDĐTMN kích thước nhỏ (<2 cm) và nằm sâu.
+ Bổ xung sau khi tắc mạch hoặc đôi khi sau phẫu thuật cắt bỏ.
+ Bổ xung trước phẫu thuật.
- Cơ chế điều trị: phóng xạ được chiếu với liều qui định chỉ tập trung ở
vùng ổ dị dạng, làm mạch máu trong ổ dị dạng tổn thương thành dày, huyết
khối dẫn đến tắc lòng mạch. Hiện tượng này cần thiết gây tắc tất cả các mạch
máu tới đoạn đổ vào tĩnh mạch dẫn lưu, còn tồn tại một hoặc nhiều luồng
thông là nguyên nhân thất bại của điều trị [79].
1.8.2.3. Điều trị bằng can thiệp nội mạch
- Mục đích:
+ Gây tắc hoàn toàn ổ dị dạng.
+ Gây tắc làm giảm kích thước ổ dị dạng để tạo điều kiện thuận lợi cho
ngoại khoa cắt bỏ hoặc quang tuyến phẫu thuật.
22
+ Gây tắc làm giảm nguy cơ xuất huyết bằng cách loại bỏ các nguy cơ
gây ra xuất huyết như là phình mạch.
- Nguyên lý: đưa vi ống thông (Micro catheter) vào ổ dị dạng để đưa
các vật liệu nút như: Polyvinyl achohol (PVA), vi sợi xoắn, chỉ Silk,
Ethanol tinh khiết, Ethibloc, n-Butyl Cyanoacrylate làm tắc ổ dị dạng và
động mạch nuôi.
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh nhân bị thông động-tĩnh mạch đã vỡ.
- Những bệnh nhân bị thông động-tĩnh mạch màng cứng
- Những bệnh nhân dị dạng tĩnh mạch não.
- Những bệnh nhân dị dạng tĩnh mạch Galen.
- Những bệnh nhân bị thông động mạch cảnh xoang hang.
24
- Ngoài ra, chúng tôi còn loại trừ những bệnh nhân được chẩn đoán là dị
dạng thông động-tĩnh mạch não, còn lưu trữ phim DSA nhưng không có đầy
đủ các thông tin cần thiết như triệu chứng lâm sàng, ngày vào viện v.v…
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang.
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Chúng tôi sử dụng một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất bao gồm các
phần hỏi bệnh, phần khám bệnh, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng, diễn
biến và hướng xử trí bệnh nhân.
* Phần hỏi bệnh và khám lâm sàng được thực hiện bởi chúng tôi (theo
mẫu bệnh án).
* Các xét nghiệm cơ bản như công thức máu, tỷ lệ prothrombin, máu
chảy, máu đông, urê, đường máu, creatinin, lipid máu, xét nghiệm nước tiểu,
chụp X quang tim phổi được thực hiện tại các phòng xét nghiệm Bệnh viện
Bạch Mai
* Các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng quan trọng:
- Siêu âm Doppler xuyên sọ được thực hiện và kết luận bởi các bác sỹ
tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai.
- Tiến hành chụp phim CLVT sọ não, chụp CHT não và mạch não, chụp
MSCT mạch não, chụp mạch mã hóa xoá nền đều do các bác sỹ tại Khoa
Chẩn Đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai thực hiện và đọc kết quả.
2.3.2. Các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng cần thu thập
2.3.2.1. Lâm sàng