TÌM HIỂU VỀ LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌCVINH
KHOA KINH TẾ
---------------
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
“LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY”
PHẦN I: TÓM TẮT
I. Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia đều
đã từng đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những
tác động tiêu cực, trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát
một con số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát triển.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường.Nó là một
trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới mọi hệ
thống kinh tế dù phát triển hay không.
Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá tiền
tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải
pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy ra ở
bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào.
Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế thị
trường,vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay để đánh giá
sức khoẻ của nền kinh tế nước nhà.
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền kinh
tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động
1
đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên
thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp
cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh
doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi
cộm ấy là lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là
một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể

để phân tích, đánh giá.
- Lập dàn ý nội dung chi tiết cho bài nghiên cứu, sắp xếp thông tin thành các
phần, các luận điểm cho phù hợp.
- Liên kết các bộ phận thông tin của bài dàn ý thành một bài nghiên cứu hoàn
chỉnh.
II. Dàn ý nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung làm rõ những vấn đề sau:
- Những lý luận chung về lạm phát
- Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây
- Phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới đời sống xã hội.
- Chỉ ra những nguyên nhân gây nên lạm phát trong thời gian qua
Đưa ra những giải pháp để kiểm soát lạm phát trong thời gian tới
PHẦN II : NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1. Định nghĩa lạm phát
 Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá
số lượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không giải thích
được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế giới từ những năm 70 hoặc
ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn có thể xảy ra trong khi cung tiền
tăng ổnđịnh. Nếu chỉ coi là lạm phát khi sự tăng giá là kết quả của việc tăng mạnh
cung tiền thì sẽ dẫn đến coi thường các nguy cơ lạm phát có thể xảy ra.
 Một quan điểm phổ biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện tượng
tăng
lên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thời gian. Tuy
nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại. Nếu giá cả chỉ tăng
3
tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần Tết Nguyên đán ở Việt nam, sau đó
lại giảm xuống thì đó là kết quả của những biến động cung cầu tạm thời, nhiều khi
có tác dụng tích cực hơn là tiêu cực tới nền kinh tế. Những trường hợp như vậy mà
đã coi là lạm phát thì sẽ dẫn đến sự cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.

để tính CPI ở Mỹ người ta điều tra tới 80.000 loại hàng hoá và dịch vụ. Không
những thế, CPI còn được tính riêng cho nhóm người tiêu dùng nông thôn, thành thị,
công nhân viên chức thành thị…
5

3. Phân loại lạm phát
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế chia lạm phát thành 3 loại khác
nhau: lạm
phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
 Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải là loại lạm phát một con số, biểu hiện mức tăng giá ở tỷ lệ thấp,
dưới 10% một năm. Chính phủ các nước luôn mong muốn duy trì một tỷ lệ lạm phát
nhất định ở mức độ vừa phải (lạm phát mục tiêu) vì nó mang lại tác dụng tốt cho nền
kinh tế. Thông thường, mức lạm phát mục tiêu nằm trong giới hạn của mức lạm
phát vừa phải. Với mức lạm phát này, giá cả tăng chậm đến nỗi người ta không
cảm nhận là
đang có lạm phát và do đó được coi như là giá cả tương đối ổn định.
Trong trường hợp này, dân chúng vẫn còn tin vào giá trị đồng tiền.
 Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã là loại lạm phát hai hay ba con số trong vòng một năm (từ 10% đến
100%). Với mức lạm phát này, mức độ tăng giá gây tác hại nghiêm trọng đối với
nền kinh tế, thể hiện bằng đồng tiền mất giá một cách nhanh chóng. Trong trường
hợp này người dân tránh giữ tiền mặt mà muốn bảo tồn của cải dưới dạng phi tiền
tệ. Việt
Nam trong những năm của thập niên 80 rơi vào tình trạng lạm phát này.
Giá cả luôn luôn tăng ở mức 3 con số.
 Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là loại lạm phát với tốc độ tăng giá trên ba con số trong vòng một
năm.
Đồng tiền bị mất giá đến mức chóng mặt. Dân chúng chìm ngập trong khối

triển (ODA) hàng năm Việt Nam nhận được khoảng 2 tỷ USD (năm 2007 là 2 tỷ
USD, 2008 2.2 tỷ USD). Kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm từ 5-7 tỷ USD.
Mặc dù, Việt Nam luôn bị thâm hụt thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít
hơn các dòng tiền chuyển vào Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai vẫn
thặng dư. Dự trữ ngoại tệ của ngân hàng thương mại liên tục tăng cao (năm 2006
tăng 4.6 tỷ USD, năm 2007 tăng 10.6 tỷ USD, năm 2008 2.4 tỷ USD). Dự trữ ngoại
tệ của NHNN tăng đồng nghĩa với một lượng tiền tương ứng VND được bơm vào
nền kinh tế, mặt khác NHNN không thực hiện biện pháp Vô hiệu hóa lượng tiền
bơm vào nền kinh tế do vậy tiền trong nền kinh tế tăng lên.
7
Ngoài ra, năm 2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân
hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 đạt 50.18%, năm 2007 đạt 49.1%.
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng
cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát
hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát
cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia. Điều này dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời
sống kinh tế của chính phủ: làm suy vong nền kinh tế quốc gia.Có sự tác động mạnh
tới đời sống của người dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang. Sau
12 năm kiểm soát được lạm phát(1995-2007) thì tình hình lạm phát hiện nay ở Việt
Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là
9% của mỗi quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của
chính phủ. Lạm phát trong năm 2011 sẽ không vượt quá 7% và chỉ trong quý một
năm 2011, lạm phát ở Việt Nam đã lên tới 6,1%. Thực trạng này đã khiến mục tiêu
kìm chân lạm phát ở mức 7% của Quốc hội trở thành một nhiệm vụ bất khả thi trong
năm nay. Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay giảm xuống rất thấp và lạm phát ở mức
rất cao (trên 20%). Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù
tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua. Mục tiêu
tăng trưởng GDP năm 2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là 8,5- 9%,
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế
quý 1/2008 đã chậm lại so với tốc độ của quý 1/2007. Lạm phát vượt qua mức tối đa

8,5- 9%, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%.Tác động lạm phát của
Việt Nam năm nay 2011 là nhập khẩu lạm phát. Bởi vì tác nhân của Việt Nam là
tình trạng nhập siêu rất là lớn, mà trong đó các yếu tố về hàng hóa nguyên liệu cơ
bản trên thế giới dự kiến gia tăng trong năm nay. Theo đó Tổ chức Lương nông
Quốc tế (FAO) công bố chỉ số giá lương thực cuối năm 2010 là 214,7 điểm vượt qua
mức 213,5 điểm thời gian khủng hoảng lương thực 2008. Giá ngũ cốc toàn cầu tăng
nhanh, ngoại trừ giá gạo vẫn đứng thấp hơn nhiều so với mức kỷ lục. Giá đường
tăng cao nhất trong vòng 30 năm gần đây, giá các loại hạt có dầu và thịt cùng leo
thang.Lạm phát được đẩy lên cao vì giá lương thực tăng, đây là mối quan ngại lớn
lao của những nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam. Trong tình hình biến động
giá thế giới như vậy, rõ ràng ‘ẩn số lớn của lạm phát Việt Nam 2011 là giá thực
phẩm.Tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đã chậm lại so với tốc độ của quý 1/2007.
Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép 9% và lạm phát năm 2008 tình đến nay là
22,3%. Lạm phát năm 2007 đã ở mức hai chữ số (12,63%), 3 tháng 2008 tiếp tục
lồng lên đến mức 9,19%, cao gấp ba lần cùng kỳ và bằng gần ba phần tư mức cả
năm 2007, đã vượt qua mức theo mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008; nhập siêu gia
9
tăng cả về kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu phí USD), cả về
tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu (56,5% so với 18,2%). Năm 2010,việc giảm tỷ lệ
lạm phát cả năm xuống một con số vào cuối năm đòi hỏi tỷ lệ lạm phát trung bình từ
giờ đến hết năm phải xuống dưới 0,4%,đây là một thách thức. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã
tăng tới 9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu
năm.Sau đây là số liệu thu thập được từ năm 2005-2008:
Tháng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1 1.1 1.2 1.0 14.1
2 3.1 2.1 2.1 6.0
3 3.7 2.8 3.2 9.2
4 4.3 3.0 3.4 21.4
5 4.8 3.6 4.3 25.2

càng lộ rõ như thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng (chỉ riêng năm
tháng đầu năm 2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ USD), khiếm hụt ngân sách luôn
được duy trì ở mức 5% GDP trong nhiều năm, và kết quả tất nhiên của nó là tốc độ
lạm phát của nền kinh tế ngày càng gia tăng (theo một ước lượng đáng tin cậy, nếu
loại trừ tác động tăng giá của thị trường thế giới như giá dầu và giá lương thực, tốc
độ lạm phát do tác động nội tại của nền kinh tế mà chủ yếu xuất phát từ vấn đề sử
dụng tài nguyên không hiệu quả, đã lên đến từ 8- 10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết
vấn đề cơ cấu là một việc làm lâu dài, đòi hỏi một quyết tâm chính trị rất cao. Bài
toán về cơ cấu là bài toán không thể có lời giải một sớm một chiều, nhưng đó là một
bài toán phải kiên trì giải quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó là bài toán sinh tử, quyết
định tương lai phát triển và cường thịnh hay không của nền kinh tế Việt.
12
Về điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề trong chính sách
ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sách ngân sách vẫn là duy
trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trong thời gian dài, những nỗ lực
kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ mô sẽ rất khó thành công. Mục tiêu cân
bằng ngân sách cần phải là một mục tiêu được hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ
lực chống lạm phát trước hết phải được thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính
phủ, cụ thể hóa bởi các hành động tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ máy hành chính,
tiết kiệm công chi, giảm đầu tư công. Tất cả những điều đó sẽ giúp cho việc sung
dụng tài nguyên quốc gia trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích phát triển
đầu tư tư nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốn lớn như
xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tích cực hai mặt:
giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việc sung dụng tài nguyên.
Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi suất và tỷ
giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng và các doanh
nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và tâm lý lạc quan đã
có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một năm trước đây, kỳ vọng
lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng trưởng của các thị trường: thị
trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường bất động sản, thị trường chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status