nghiên cứu sử dụng dây lá và củ khoai lang ủ chua trong chăn nuôi lợn thương phẩm f1 (l x mc) tại thái nguyên - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM nguyÔn thÞ thu huyÒn
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DÂY LÁ VÀ CỦ KHOAI LANG
Ủ CHUA TRONG CHĂN NUÔI LỢN THƯƠNG PHẨM
F1 (L  MC) TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hƣng Quang

giáo TS. Nguyễn Hưng Quang đã tậ n tì nh quan tâm , chỉ bảo hướng dẫn tôi
trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn tốt nghiệp; cùng toàn thể các thầy,
cô giáo đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi - thú y, Khoa
sau Đại học, các em sinh viên khóa 37 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các
hộ gia đình Tạ Xuân Hợp, Nguyễn Thị Thúy, Tạ Đình Hồng, Nguyễn Văn Hải và
Nguyễn Văn Hiếu tại xã Đồng Tiến - huyện Phổ Yên - Thái Nguyên đã giúp đỡ và
tạo điều kiện để tôi tiến hành công trình nghiên cứu đề tài thuận lợi.
Tôi cũng chân thành cám ơn chương trình phát triển dự án của trung tâm
khoai tây quốc tế (CIP); Viện chăn nuôi quốc gia (NIAH); Trung tâm kiểm định
chất lượng Giống và Vật tư hàng hóa Nông nghiệp Thái Nguyên đã tạo điều kiện
cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn gia đình cùng những người bạn đã động
viên tôi trong thời gian vừa qua giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 10 năm 2011
Tc giả
Nguyễn Thị Thu Huyền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích của đề tài 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4


iv
2.3.4. Phương pháp phân tích mẫu 44
2.3.5. Phương pháp đo độ dày mỡ lưng của lợn 45
2.3.6. Phương pháp theo dõi 45
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 47
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. Năng suất và thành phần dinh dưỡng một số giống khoai lang nghiên cứu 48
3.2. Kết quả phân tích thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua 51
3.3. Hiệu quả sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau của lợn thí nghiệm đến sinh trưởng của
lợn thịt F1 (L x MC) 533
3.3.1. Sinh trưởng tích lũy và độ dày mỡ lưng của lợn thí nghiệm 53
3.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 57
3.3.3. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 60
3.4. Tiêu tốn và chi phí thức ăn của lợn thí nghiệm 62
3.5. Sơ bộ hoạch toán chi phí 65
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 67
1. Kết luận 67
2. Tồn tại 68
3. Đề nghị 68
CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ CÔNG BỐ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
1. Tài liệu tiếng việt 670
2. Tài liệu dịch 674
3. Tài liệu tiếng nước ngoài 675
PHỤ LỤC 78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

CT

Công thức
DE

Năng lượng tiêu hoá
ĐC

Đối chứng
ĐVTA

Đơn vị thức ăn
FAO

Tổ chức nông lương thế giới
GE

Năng lượng thô
g

Gram
P

Phot pho
HCN

Axit cianhydric
HCl

Axit clohydric

Milimét
NE

Năng lượng thuần
NEm

Nhu cầu duy trì
NEp

Nhu cầu sản xuất
NFE

Dẫn xuất không đạm (Nitrogen free extractives)
NH
3Amoniac
NXB

Nhà xuất bản
TA

Thức ăn
TA ủ

Thức ăn ủ chua
TAHH

Thức ăn hỗn hợp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 41
Bảng 2.2: Tỉ lệ phối trộn và thành phần dinh dưỡng của TAHH tự phối trộn 42
Bảng 2.3: Giá trị dinh dưỡng của một kg thức ăn Greenfeed 43
Bảng 3.1: Năng suất dây lá và củ của một số giống khoai lang nghiên cứu qua hai
lần cắt 1, 2 (t/ha) ở vụ đông xuân 48
Bảng 3.2: Năng suất dây lá và củ của một số giống khoai lang nghiên cứu qua hai
lần cắt 1, 2 (t/ha) ở vụ xuân h 49
Bảng 3.3: Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của một số giống khoai lang
nghiên cứu qua hai lần cắt 1, 2 50
Bảng 3.4: Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua 51
Bảng 3.5: Khối lượng và độ dày mỡ lưng của lợn thí nghiệm vụ đông xuân (kg) 54
Bảng 3.6: Khối lượng của lợn qua các kì cân vụ xuân h (kg) 54
Bảng 3.7: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm vụ đông xuân (g/con/ngày) 57
Bảng 3.8: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm vụ xuân h (g/con/ngày) 58
Bảng 3.9: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 60
Bảng 3.10: Tiêu tốn và chi phí thức ăn của lợn thí nghiệm vụ xuân h 63
Bảng 3.11: Tiêu tốn và chi phí thức ăn của lợn thí nghiệm vụ đông xuân 64
Bảng 3.12: Sơ bộ hạch toán giá thành vụ đông xuân 65
Bảng 3.13: Sơ bộ hoạch toán giá thành vụ xuân h 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii
DANH MỤC CÁC HÌNH


nguồn thức ăn rẻ tiền cho chăn nuôi là một vấn đề cấp thiết. Dây lá và củ khoai lang
đã không chỉ là nguồn thức ăn cho con người mà còn được sử dụng làm thức ăn
chính trong chăn nuôi lợn từ lâu đời. Nhưng khoai lang vụ chính vào vụ đông xuân,
có một lượng lớn dây lá và củ được thu hoạch, đây là nguồn thức ăn rất tốt cho lợn,
song rất khó phơi khô trong mùa đông mưa ẩm và lạnh để dự trữ, hơn nữa củ khoai
có đặc điểm là tỷ lệ nước cao 70,63 - 81%, dây lá là 83,08 - 90.9%, không thể bảo
quản ở dạng tươi trong thời gian dài vì nó dễ bị ôi và thối (Nguyễn Thị Tịnh, 2006)
[40]. Chính vì vậy giải pháp ủ chua là biện pháp bảo quản, dự trữ nguồn thức ăn
trong thời gian khá dài và còn nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn, bên cạnh đó
giá thành rẻ… phù hợp với các hộ chăn nuôi vùng núi phía Bắc.
Mục tiêu của chăn nuôi lợn thịt là lợn lớn nhanh, thời gian nuôi ngắn, tiêu tốn
thức ăn thấp, tỷ lệ móc hàm cao, thịt nạc nhiều, chi phí khác thấp, an toàn với sức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
khỏe người tiêu dùng (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [20]. Thức ăn là yếu tố quan
trọng trong các yếu tố ngoại cảnh chi phối đến sinh trưởng và khả năng cho thịt của
lợn. Lượng thức ăn cho ăn và thành phần, đặc điểm của thức ăn sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến tốc độ tăng trọng của lợn (Nguyễn Thị Tịnh và cs, 2006) [38]. Thức ăn cần
phải đảm bảo về năng lượng, cũng như sự cân đối và đầy đủ các axit amin, vitamin,
khoáng Một số loại thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn như: Ngô là loại thức ăn có
hàm lượng năng lượng cao, tuy nhiên hàm lượng protein trong ngô lại thấp hơn các
loại ngũ cốc khác (Trần Thế Thông, 1979) [31], bên cạnh đó các axit amin không
cân đối. Đậu tương hàm lượng protein cao nhưng có các chất ức chế men trypsine,
chymotrypsine làm giảm tỷ lệ tiêu hóa protein. Đồng thời, ở đậu tương ngho
vitamin nhóm B nhưng giàu Ca, P. Cũng với họ đậu đỗ thì cỏ stylo cũng đang được
sử dụng nhiều do hàm lượng chất khô cao, có mùi thơm đặc trưng, nhưng hàm
protein trong chất khô không cao. Lá sắn có hàm lượng protein thô cao (25,6%)
trong đó giàu lysine, thiếu methionine, caroten và khoáng cao với lá sắn tươi có

và củ khoai lang với các phụ gia khác nhau.
- Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng các công thức thức ăn ủ chua từ
dây lá và củ khoai lang ủ khác nhau đến sinh trưởng và chi phí thức ăn của lợn thịt
F1 (L x MC) tại các mùa vụ khác nhau.
3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu sự biến động của các thành phần hóa
học trong thức ăn ủ chua dây lá và củ khoai lang và các nguyên liệu khác để làm cơ
sở dùng làm thức ăn cho lợn.
* Ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn thịt bằng cách ủ chua
các nguồn thức ăn sẵn có, rẻ tiền tại địa phương trong quy mô chăn nuôi nông hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vai trò của thức ăn trong chăn nuôi lợn thịt
1.1.1. Dinh dưỡng năng lượng
Mọi hoạt động sống, phát triển, sinh sản của lợn đều gắn liền với quá trình sử
dụng và trao đổi năng lượng. Năng lượng trong thức ăn được dự trữ trong các dạng
vật chất của thức ăn như mỡ, đường, protein và hydratcacbon. Lợn nhận năng lượng
thức ăn từ bên ngoài, thông qua tiêu hoá hấp thụ ở đường tiêu hoá vào cơ thể và
được tổng hợp thành mỡ, glucose, protein thuần của cơ thể lợn Lê Hồng Mận và cs
(2003) [16].
Năng lượng trong thức ăn được gia súc trực tiếp nhận chính là nguồn năng
lượng sinh học. Nó được sinh ra khi một phân tử hữu cơ bị oxy hoá nói một cách

Năng lượng thuần: NE là hiệu số giữa ME - số gia nhiệt (HI). Số gia nhiệt HI
là tổng nhiệt lượng giải phóng cho sự tiêu tốn năng lượng trong quá trình tiêu hoá
và trao đổi chất. Năng lượng thuần là năng lượng để lợn sử dụng cho nhu cầu duy
trì (NEm) và sản xuất (NEp). Những nhu cầu này thường được biểu thị trên cơ sở
trọ211ng lượng trao đổi của cơ thể, trọng lượng này được quy ước là trọng lượng cơ
thể luỹ thừa số mũ 0,75 BW
0,75
. Các báo cáo về năng lượng tiêu tốn cho tích luỹ mỡ
(ME) thường từ 9,516,3 Mcal ME/kg (Tess và cs, 1984) [71]. Do đó năng lượng
dùng cho tích lũy thịt nạc ít hơn nhiều so với tích luỹ mỡ.
Nguồn năng lượng có được của vật nuôi chủ yếu từ:
Đường và tinh bột: Tinh bột là nguồn năng lượng và carbohydrate chủ yếu
trong phần lớn các khẩu phần của lợn. Đối với độ tuổi từ dưới 2 - 3 tuần lợn con
được cho ăn thức ăn có nhiều tinh bột sẽ không lớn nhanh bằng lợn được cho ăn
khẩu phần có nhiều carbohydrate là glucose, lactose hay sacarose.
Thêm vào đó bổ sung chất xơ vào khẩu phần của lợn sẽ làm giảm năng lượng
tiêu hoá DE của khẩu phần. Khi lượng chất thô vượt quá 10 - 15% khẩu, lượng thức
ăn ăn vào có thể sẽ bị giảm do độ choán quá nhiều hoặc tính ngon miệng của thức
ăn thấp. Khẩu phần năng lượng thấp (chất xơ cao) sẽ cho tỉ lệ tăng trưởng tương
đương với tỉ lệ tăng trưởng của lợn được ăn khẩu phần năng lượng cao trong giai
đoạn nhiệt độ môi trường thấp, nhưng khẩu phần loại này thường làm giảm tỉ lệ
tăng trưởng khi nhiệt độ môi trường cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Việc sử dụng chất xơ ở động vật dạ dày đơn khác nhiều và nó phụ thuộc chủ
yếu vào nguồn gốc của chất xơ. Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi các thành phần vật lí
hoá học của khẩu phần, mức độ cho ăn, tuổi và trọng lượng cơ thể của động vật, sự
thích ứng đối với nguồn chất xơ, sự khác biệt giữa các cá thể lợn. Các thành phần

cơ thể lợn. Protein của thức ăn sau đó được tiêu hoá, phân giải ra các axit amin,
được tổng hợp thành các tế bào mô đặc trưng cho cơ thể sinh trưởng và phát triển.
Cơ thể không tự tổng hợp được protein từ gluxit, lipit và các sản phẩm trao đổi nitơ.
Nguyên liệu để tổng hợp protein trong cơ thể chỉ có thể là protein và axit amin trong
thức ăn. Vì vậy việc cung cấp cho khẩu phần với khối lượng và tỉ lệ chính xác sẽ
giảm được tỉ lệ protein trong khẩu phần một cách thích hợp.
Người ta đã phát hiện trên 150 axit amin khác nhau, nhưng để tạo thành
protein chủ yếu có 22 axit amin tham gia (Từ Quang Hiển và cs 2004) [8]. Thành
phần cấu tạo cơ bản của protein là axit amin, trong đó được phân ra làm hai loại;
axit amin thiết yếu (axit amin không thay thế), và axit amin không thiết yếu (axit
amin có thể thay thế).
Để đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh sản bình thường của
gia súc, phải cung cấp đầy đủ và cân đối về số lượng, chất lượng protein và axit
amin trong khẩu phần. Để tạo thành protein thuần càng nhiều có nghĩa là tạo ra
protein tích luỹ hữu ích cho cơ thể càng nhiều, thì nguồn protein thô thức ăn cung
cấp cho gia súc phải được cân đối đầy đủ tỉ lệ và chất lượng 10 axit amin thiết yếu
để gia súc tiêu hoá, hấp thụ triệt để. Tuy nhiên vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nữa như tỷ lệ năng lượng/protein, tỷ lệ năng lượng/lysine và một số axit
amin "giới hạn" khác, giống, nhiệt độ môi trường, tình trạng sức khỏe con vật (Lê
Hồng Mận và cs 2003) [16]. Giá trị sinh học protein đầy đủ của thức ăn có ý nghĩa
lớn đối với động vật dạ dày đơn (như lợn, ), còn đối với động vật dạ dày bốn túi
(động vật nhai lại) chỉ cần protein thô đầy đủ trong thức ăn là đảm bảo đủ yêu cầu.
Khi gia súc còn non, quá trình sinh trưởng gắn chặt với trao đổi protein trong
cơ thể. Nó tuân theo một quy luật nhất định, con vật càng non trao đổi chất càng
mạnh thì khả năng tích luỹ protein càng lớn, khi con vật trưởng thành thì khả năng
tích luỹ protein càng giảm, hàm lượng protein cũng giảm theo. Gia súc càng lớn thì
tổng lượng protein cung cấp cho chúng càng tăng. Nếu tính theo 1 kg khối lượng cơ
thể thì nhu cầu protein giảm theo sự tăng lên của khối lượng. Như vậy đối với gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng protein trong đó có các axit amin tiêu hoá ít, thải ra ngoài qua nước tiểu và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
phân, kết quả làm giảm tăng trọng và hiệu quả thức ăn. Lợn ăn quá nhiều một lượng
axit amin riêng lẻ có thể gây nhiều triệu chứng xấu gây độc, gây tính đối kháng, hay
gây mất cân bằng axit amin (Lê Hồng Mận và cs 2003) [16]. Theo tác giả Bùi Đức
Lũng và cs (1995) [15] hàm lượng lysine trong protein thô của những thức ăn là rất
khác nhau. Giàu lysine là protein của bột cá (8,9%), sữa khô (7,9%), men thức ăn (6,8),
khô dầu đậu tương (5,9%). Ngho lysine là protein của cao lương (2,5%), ngô
(2,9%), gạo (3,3%), khô dầu hướng dương (3,4%). Có thể sử dụng L - lysine bổ
sung vào khẩu phần ăn cho gia súc, gia cầm để cân đối sự thiếu hụt có trong thức
ăn, mặt khác có thể giảm được hàm lượng protein động vật.
Nếu khẩu phần thức ăn của gia súc thừa một loại axit amin nào đó kể cả axit
amin cần thiết hay không cần thiết đều làm giảm khả năng lợi dụng protein của con
vật dẫn đến làm thay đổi cân bằng axit amin trong khẩu phần, từ đó sẽ tạo ra yếu tố
hạn chế mới làm giảm hiệu suất lợi dụng protein. Trong quá trình hấp thu con vật sẽ
hấp thu cả các cặp axit amin đối kháng như lysine - arginine, valine - leucine -
izoleucine. Những cặp axit amin đối kháng này sẽ làm mất cân bằng axit amin, làm
giá trị sinh học protein của khẩu phần giảm. Khi thừa axit amin trong khẩu phần
trước hết điều đó sẽ làm giảm sự tiêu thụ thức ăn của lợn. Lợi dụng điều này người
chăn nuôi có thể điều chỉnh giảm cung cấp thức ăn cho lợn thời kỳ cuối nuôi thịt để
làm giảm lượng mỡ bụng và dưới da.
* Giá trị sinh học của protein
Trong phần lớn khẩu phần ăn của lợn, có một số axit amin không hoặc có ít giá
trị sinh học. Do protein không được tiêu thụ triệt để, từ đó dẫn đến nhiều axit amin
không được hấp thụ hoàn toàn. Trong một vài sản phẩm như trứng, sữa axit amin có
giá trị sinh học gần như tuyệt đối, trong khi ở các sản phẩm thực vật axit amin có
giá trị sinh học thấp hơn nhiều. Khi thiết lập khẩu phần cho lợn thì phải biết rõ hàm

phù hợp gây rối loạn trao đổi Ca, P làm mất cân đối trong khẩu phần. Tỷ lệ Ca/P
lớn làm giảm hấp thụ P dẫn đến vôi hoá xương, lợn chậm lớn, đặc biệt khẩu phần
ngho P tiêu hoá. Ngược lại khi tỷ lệ này thấp thì ít gây hại hơn (Lê Hồng Mận và
cs 2003) [16].
1.1.5. Vitamin
Cơ thể động vật cần khoảng 15 loại vitamin với lượng rất ít chỉ tính từ µg
(microgam) trong thức ăn nhưng có vai trò rất lớn tới quá trình trao đổi, các hoạt động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
của các enzym và hormon. Nó là chất xúc tác sinh học xúc tiến việc tổng hợp phân giải
các chất dinh dưỡng (Trần Tố và cs, 2008) [42]. Vitamin chia làm hai nhóm: Nhóm
vitamin tan trong dầu mỡ bao gồm các vitamin: A, K, D, E; Nhóm vitamin tan trong
nước bao gồm các vitamin: B12, C, B6, B1, thiamin, niacin, axit pantothnic, axit folic,
biotin, choline
Cơ thể lợn thường xuyên nhận được nguồn VTM từ thức ăn, với những lượng
vô cùng nhỏ. VTM giúp cho sinh vật phát triển bình thường, sinh sản đều đặn có
khả năng chống đỡ bệnh tật cao. Ngược lại, khi cơ thể thiếu một trong các VTM cần
thiết sẽ dẫn tới mất cân bằng về sinh lý và sẽ mắc bệnh, gọi là bệnh thiếu VTM
(avitaminosic) (Trần Tố và cs, 2008) [42]. Chẳng hạn thiếu VTM A có thể dẫn đến
mù loà, tốc độ sinh trưởng chậm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp. Nếu
thiếu VTM D dẫn đến chức năng của cơ không hoạt động bình thường ảnh hưởng
đến sự hấp thu Ca và P. Thiếu VTM E làm biến đổi sinh lý ở đường sinh dục, suy
thoái khung xương, cơ tim tắc nghẽn mạch, thiếu máu (Từ Quang Hiển và cs, 2001)
[7]. VTM K thiếu dễ gây bệnh chảy máu và máu chậm đông (Trần Tố và cs ,
2008) [42].
1.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng dây l và củ khoai lang ủ chua cho lợn thịt
1.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, tiêu hóa của lợn giai đoạn nuôi thịt
1.2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng của lợn thịt

trưởng là quá trình diễn ra từ khi hợp tử được hình thành cho đến khi cơ thể lớn
lên, thành thục về thể vóc, do đó quá trình sinh trưởng chịu sự tác động của
nhiều yếu tố.
Mỗi giống, mỗi loài đều có tốc độ sinh trưởng khác nhau, sự sinh trưởng đó do
gen quy định và di truyền từ bố mẹ, nhưng hầu hết các gen này là do các gen quy
định tính trạng số lượng.
- Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều: Không đồng đều về khả năng
tăng khối lượng, không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan, bộ phận của cơ
thể, không đồng đều về sự tích luỹ của các tổ chức mỡ, nạc, xương. Điều quan trọng
nhất là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc
vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] để đánh giá khả năng sinh trưởng của
vật nuôi, ta dùng phương pháp cân định kỳ khối lượng và đo kích thước các chiều
của cơ thể vật nuôi, từ đó tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng để đánh giá khả năng
sinh trưởng của vật nuôi. Các chỉ tiêu sinh trưởng thường dùng là:
+ Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tích
luỹ được qua thời gian khảo sát. Các thông số thu được qua các lần cân đo biểu thị
sinh trưởng tích luỹ của vật nuôi.
+ Sinh trưởng tuyệt đối (A): Là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi
tăng lên trong một đơn vị thời gian. Đối với lợn sinh trưởng tuyệt đối thường dùng
đơn vị là g/con/ngày.
+ Sinh trưởng tương đối (R): Là tỷ lệ % của phần khối lượng (thể tích, kích
thước) tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) thời điểm cân đo. Đơn vị
sinh trưởng tương đối là %.
+ Hệ số sinh trưởng (C): Là tỷ lệ % của khối lượng, kích thước ở thời điểm
cuối khảo sát so với thời điểm đầu. Đơn vị tính hệ số sinh trưởng là %.

ra kiểu hình.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thiện và Đinh Hồng Luận (1999) [29] cho
thấy mức độ tăng trọng hàng ngày của lợn nội thấp. Đối với lợn đực hậu bị và cái
hậu bị từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi của lợn Móng Cái là 179 và 197g/ngày. Chỉ số
tiêu tốn thức ăn từ 3 đến 10 tháng tuổi của lợn đực, cái thiến 5,04 đơn vị thức ăn. Tỷ
lệ nạc, mỡ lúc 10 tháng tuổi của lợn đực, cái thiến lần lượt là 33,74% và 42,71%.
Các giống lợn ngoại thuần và lợn lai có khả năng tăng trọng cao hơn với lợn
Landrace bình quân 5 tháng tuổi tăng trọng 621,59g/ngày, tiêu tốn thức ăn 3,59
ĐVTA/kg tăng trọng, tỷ lệ nạc đạt 57,67%, tỷ lệ móc hàm 84,86%. Với lợn lai 3/4
và 7/8 lần lượt là: 523,25 - 525,39g/ngày; 3,63 - 3,47 ĐVTA; 48,9 - 50,38; 82,81 -
85,25% (Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân và cs 1999) [26]. Trong thực tế, phương
thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng tăng trọng mặc dù trong cùng
một giống. Tuy tốc độ sinh trưởng có chậm hơn cho ăn tự do nhưng nâng cao được
tỷ lệ thịt nạc (Trần Quốc việt, Bùi Thị Ngợi, 1995) [45].
* Yếu tố dinh dưỡng:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Thức ăn là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của vật nuôi (Dương Mạnh Hùng, 2004) [12]. Lợn chỉ có thể đạt năng xuất
cao khi đủ dinh dưỡng có giá trị hoàn toàn, nghĩa là lợn phải được cung cấp toàn bộ
các chất dinh dưỡng cần thiết có hoạt tính sinh học cao đảm bảo hoạt động sống
bình thường của cơ thể và tạo thành một sản phẩm tối đa có chất lượng cao. Vì vậy
để đạt được khả năng sinh trưởng cao cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và sự cân
bằng hợp lý các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn như: năng lượng, protein, axit
amin, khoáng và VTM. Thấy được mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong
khẩu phần là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ
thịt nạc, thịt mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt. Do đó vấn đề đặt ra là lập một khẩu
phần thức ăn phù hợp với lứa tuổi, giai đoạn của lợn là điều rất cần thiết.

Quá trình tiêu hoá hoá học ở miệng được thực hiện bởi hai men chứa trong
nước bọt, đó là men amilaza và men mantaza. Hai men này thuỷ phân tinh bột (gạo,
ngô, sắn và khoai) thành đường glucose:
Tinh bột Đường mantose + Dextrin
Sau đó chỉ một ít đường mantose dưới tác dụng yếu ớt của men mantaza phân
giải thành đường glucose.
Mantose 2 Glucose
Càng nhai lâu ở miệng đường glucose được tạo ra càng nhiều. Lượng nước bọt
tiết ra bị chịu ảnh hưởng bởi thức ăn và các chất kích thích khác như HCl, axit
lactic, axit foocmic và axit axetic. Những axit này kích thích tiết nhiều nước bọt.
Thức ăn khô cũng làm tăng tiết nước bọt nhiều hơn thức ăn lỏng. Ngoài ra, lượng
nước bọt tiết ra tăng theo tuổi, rõ rệt nhất là từ khi cai sữa chuyển sang ăn thức ăn
thực vật.
Tiêu hoá ở dạ dày: Tiêu hoá ở dạ dày gồm quá trình tiêu hoá cơ học và tiêu
hoá hoá học.
+ Tiêu hoá cơ học là sự co bóp nhào trộn thức ăn do cơ trơn dạ dày thực hiện.
Quá trình này rất quan trọng: vừa làm cho thức ăn nát nhuyễn, vừa làm cho thức ăn
ngấm đều các men tiêu hoá để sự tiêu hoá được triệt để hơn.
+ Tiêu hoá hoá học là quá trình tác động của các men tiêu hoá do dịch vị tiết
ra. Ở dạ dày lợn có 2 kiểu phân tiết dịch: Một là sự phân tiết mang tính kiềm ở vùng
thượng vị, ở đây lượng dịch tiết ra rất hạn chế so với tổng số dịch tiết. Hai là sự
phân tiết mang tính axit từ vùng thân vị và hạ vị, lượng phân tiết này rất lớn từ sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status