ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của ngành y tế thể hiện ở chất lượng khám chữa bệnh
ngày một nâng cao, là một yếu tố trong quá trình phát triển kinh tế xã hội,
góp phần đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Trong những năm
trước đây, do điều kiện kinh tế nước ta còn khó khăn, việc chăm sóc sức khoẻ
nhân dân nói chung và việc chăm sóc bà mẹ nói riêng chỉ dừng ở mức độ
khám và điều trị khi người bệnh gặp các vấn đề về sức khoẻ. Hiện nay, với sự
phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, sự chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trong đó
bao gồm sức khoẻ bà mẹ được nâng lên nhiều, điều đó được thể hiện không
chỉ ở chất lượng khám và điều trị mà còn thể hiện trong vấn đề phòng ngừa sự
xuất hiện và tiến triển của bệnh tật, đặc biệt trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ
bà mẹ. Tuy nhiên, theo ước tính hàng năm ở nước ta vẫn có khoảng phụ nữ
có biến chứng liên quan thai nghén: chảy máu, nhiễm trùng, rối loạn huyết áp,
chuyển dạ tắc nghẽn, và những biến chứng do phá thai không an toàn là liên
quan chính giữa thai nghén và các biến chứng các đe dọa cuộc sống của người
phụ nữ. Nhiều loại biến chứng này không dễ để phòng tránh, và sự tiến triển
không bị gián đoạn của nó có thể là nguyên nhân gây chết mẹ. Các yếu tố cấp
tính làm nặng thêm sự dễ bị tổn thương của người phụ nữ dẫn đến các biến
chứng và tử vong liên quan đến thai nghén và sự sinh đẻ, nhưng với sự điều
trị kịp thời và tối ưu có thể làm cải thiện lớn khả năng tồn tại. Các can thiệp
thích đáng trong chăm sóc cấp cứu sản khoa, bao gồm quản lý bệnh lý nhiễm
khuẩn, thuốc co hồi tử cung, thuốc chống co giật, kiểm soát tử cung, lấy các
sản phẩm còn sót lại, đỡ đẻ đường âm đạo, phẫu thuật lấy thai, phẫu thuật cắt
tử cung và truyền máu an toàn có thể làm giảm tỷ lệ chết mẹ. Tuy vậy, một
biến chứng có thể tiến triển đến một tình trạng sức khỏe tới hạn bất kể một sự
chăm sóc ban đầu phù hợp nào. Người phụ nữ bị tử vong thường trải qua một
con đường chung trước khi chết: rối loạn chức năng của nhiều cơ quan hoặc
các triệu chứng liên quan đến hội chứng Sốc. Để tránh khỏi cái chết, những
1
người phụ nữ ốm nặng này, nên được tiếp nhận một sự can thiệp chăm sóc
toàn diện, dựa trên sự hồi sức hô hấp và tuần hoàn, các can thiệp hỗ trợ đặc biệt
lý và sinh hoá. Cơ thể phụ nữ có những thay đổi để đáp ứng với kích thích
sinh lý do thai và phần phụ của thai gây ra.
1.1.1.Thay đổi về nội tiết: ở phụ nữ có thai, các tuyến nội tiết đều có thay đổi,
đặc biệt là hai loại hormon hướng sinh dục do rau thai HCG và các
Steroid.
• HCG: Hormon hướng sinh dục rau thai có hai loại A và B, ở người chủ
yếu là loại B, thường gọi là Prolan B, do rau thai tiết ra. HCG được tế
bào nuôi tiết ra rất sớm ngay sau khi thụ tai 2 tuần. HCG có tác dụng
giống LH của tuyến yên và được chia thành 2 nhóm anpha và beta.
Beta HCG chính xác là do gai rau tiết ra.
• Các Hormon steroid: Hai steroid quan trọng nhất là estrogen và
progesteron tăng dần nồng độ trong quá trình thai nghén, đạt mức cao
nhất vào cuối tháng của quá trình thai nghén. Estrogen và progesteron
giảm một cách đột ngột trước khi chuyển dạ đẻ một vài ngày.
• Buồng trứng: khi có thai hoàng thể tiếp tục tồn tại và chế tiết cho đến
hết tháng thứ 3, hoàng thể này gọi là hoàng thể thai nghén. Dưới tác
dụng của HCG do rau tiết ra, sự hoạt động của hoàng thể được duy trì
chế tiết ra esstrogen và progesteron. Từ tháng thứ 4 trở đi hoàng thể
thai nghén ngừng hoạt động, thoái triển và teo lại.
• Bánh rau: Từ tháng thứ 4 trở đi hoạt động của hoàng thể thai nghén
chấm dứt. Rau thai trực tiếp chế tiết ra estrogen và progesteron cho đến
cuối thời kỳ thai nghén.
3
• Thai nhi: người ta nhận thấy có 90% lượng estrol trong nước tiểu của
phụ nữ có thai có nguồn gốc từ thai nhi. Vỏ thượng thận của thai nhi
chế tiết ra DHA (dehydroandrosteron ), chất này được rau thai chuyển
thành estriol và đưa vào tuần hoàn của mẹ. Do đó việc định lượng
estriol 24 giờ vào cuối của thời kỳ thai nghén có tác dụng để đánh giá
sự phát triển của thai.
• Vỏ thượng thận: Các corticoid chuyển hoá đường và muối khoáng tăng
khi chưa có thai khoảng 6 – 8 cm, vào cuối thời kỳ thai nghén có thể
lên tới 32cm.
• Vị trí: Khi chưa có thai, TC nằm ở đáy chậu, trong tiểu khung. Khi có
thai, TC to lên tiến vào ổ bụng và tiếp xúc với thành bụng trước, đẩy
ruột sang bên và lên trên. Tháng đầu thai nghén TC còn ở dưới khớp
vệ, từ tháng thứ 2 trở đi TC cao lên phía trên trung bình là 4 cm mỗi
tháng. Do đó người ta có thể tính tuổi thai theo công thức: Tuổi thai
(tháng) = Chiều cao tử cung/4 +1
• Cấu tạo: TC gồm 3 phần: thân, eo và cổ tử cung. Thành TC gồm 3 lớp
từ ngoài vào trong: phúc mạc, cơ và niêm mạc.
- Phúc mạc: Ở thân TC phúc mạc dính chặt vào lớp cơ. Khi có thai phúc
mạc giãn ra theo lớp cơ TC. Ở đoạn eo, phúc mạc có thể bóc tách được
dễ dàng khỏi lớp cơ. Ranh giới giữa 2 vùng là đường bám chặt của
phúc mạc. Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cung với đoạn
dưới TC. Người ta thường mổ lấy thai ở đoạn dưới TC để có thể phủ
được phúc mạc sau khi đã đóng kín vết mổ ở lớp cơ.
- Cơ TC gồm 3 lớp: Lớp ngoài là lớp dọc, lớp cơ này vòng qua đáy TC
và kéo dài tới các dây chằng của TC. Lớp trong là lớp cơ vòng, nó có
các sới cơ giống như cơ thắt ở quanh các lỗ vòi trứng và lỗ trong CTC.
Giữa 2 lớp cơ này là lớp cơ đan chéo, lớp này phát triển mạnh nhất
5
trong khi có thai. Trong lớp cơ này có nhiều mạch máu. Sau khi sổ rau,
lớp này co chặt lại để tạo khối an toàn của tử cung, thít chặt các mạch
máu tao nên quá trình cầm máu sinh lý.
- NMTC khi có thai biến đổi thành ngoại sản mạc. Ngoại sản mạc gồm 3
phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc tử cung và ngoại sản mạc tử
cung – rau.
• Mật độ: Khi có thai các mạch máu tặng sinh, các sợi cơ phì đại và
ngấm nước nên mềm và nắn dễ lún xuống. Do ảnh hưởng của
Progesteron nên cơ tử cung cũng như các cơ trơn khác đều giảm trương
tĩnh mạch của buồng trứng to lên, đường kính 0,9 – 2,6 cm khi thai đủ tháng.
1.1.2.6. Vòi trứng: Cơ của vòi trứng ít phì đại khi có thai, niêm mạc mỏng
hơn, các tế bào rụng có thể xuất hiện ở một vài chỗ ở niêm mạc vòi trứng
nhưng không tạo thành một màng liên tục.
1.1.2.7. Thay đổi toàn thân.
• Tuần hoàn:
- Khi có thai khối lượng tuần hoàn tăng khoảng 50%. Khối lượng máu
bắt đầu tăng trong 3 tháng đầu, tăng nhanh trong 3 tháng giữa và cao
nhất vào tháng thứ 7, tương đối hằng định ở những tuần lễ cuối. Sau đẻ
khối lượng máu giảm nhanh và dần trở về bình thường.
- Lượng huyết tương tăng nhiều hơn nên số lượng hồng cầu giảm, tỷ lệ
huyết sắc tố và hematocrite giảm. Bạch cầu tăng trong khoảng 5000 –
12000/ml. Tiểu cầu từ 300.000 – 400.000.
- Fibrinogen bình thường 2 - 4 g/l, khi có thai tăng khoảng 50%. Các yếu
tố đông máu khác như yếu tố VI (proconvertin), VIII (antihemophilic
globulin), IX, X đều tăng lên khi có thai. Yếu tố II (prothombin) chỉ
tăng nhẹ, còn yếu tố XI, XII giảm nhẹ.
- Caxi và sắt huyết thanh giảm, dự trữ kiềm giảm.
- Nhịp tim tăng 10 – 15 nhịp/phút, cung lương tim tăng 50%.
7
- Các mạch máu mềm, dài và to ra, dễ giãn do đó huyết động học không
tăng.
• Hô hấp:
- Cơ hoành lên cao khoảng 4cm, góc dưới sườn hoành dãn rộng.
- Tần số thở tăng lên trong quá trình thai nghén, thai phụ thở nhanh
nông, đặc biệt ở những trường hợp đa thai, đa ối.
- Thể tích khí lưu thông tăng lên bắt đầu từ tháng thứ 3 và tăng nhiều
nhất 40% khi thai đủ tháng. Thể tích khí dự trữ thở ra giảm, bắt đầu từ
tháng thứ 5 đến khi đủ tháng giảm 15%. Thể tích khí cặn cũng giảm từ
tháng thứ 5, đến khi thai đủ tháng giảm 20%. Hai thể tích khí này giảm
• Thần kinh:
- Người phụ nữ có thay đổi về tâm lý, cảm xúc, hay cáu gắt, dễ thay đổi
tính tình, trí nhớ giảm sút khi có thai.
- Hệ thống thần kinh giao cảo và phó giao cảm cũng có những thay đổi
do có liên quan mật thiết với thay đổi nội tiết.
• Chuyển hoá:
- Tăng giữ nước ở ngoài tế bào và huyết tương.
- Nhu cầu về muối khoáng như sắt, canxi, magie tăng.
- Chuyển hoá lipid, lipoprotein, apoprotein trong huyết thanh tăng.
- Chuyển hoá đường cũng tăng lên với đặc điểm: hạ đường huyết khi
nhịn ăn vừa phải, tăng đường huyết sau bữa ăn và tăng insulin máu.
• Thân nhiệt: trong 3 tháng đầu thân nhiệt > 37
0
C do tác dụng của hoàng
thể thai nghén. Từ tháng thứ 4 thân nhiệt trở lại bình thường.
• Trọng lượng cơ thể: Trong quá trình thai nghén, trọng lượng phụ nữ
tăng 9 – 12 kg. Sự tăng trọng lượng diễn ra không đều, ba tháng đầu
tăng ít do nghén, tăng khoảng 1,5kg. Ba tháng giữ tăng nhiều nhất
khoảng 6kg, ba tháng cuối tăng ít hơn, khoảng 4 - 5 kg.
1.2. Sinh lý chuyển dạ
1.2.1. Đại cương
• Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai
được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ. Thường xảy ra từ tuần
38 đến cuối tuần lễ 42.
9
• Đẻ non là tình trạng gián đoạn thai nghén khi thai có thể sống được,
tuổi thai từ 28 – 37 tuần.
• Đẻ già tháng là hiện tượng chuển dạ đẻ xảy ra sau 2 tuần lễ so với ngày
dự kiến đẻ, khi tuổi thai quá 42 tuần.
• Sảy thai là sự chấm dứt thai nghén trước khi thai có thể sống được.
1.2.3. Cơn co tử cung
- Thai dưới 30 tuần, tử cung hầu như không co bóp, hoạt động tử cung <
20 UM. Từ 30 – 37 tuần, các cơn co nhiều hơn đạt mức 50 UM, không
quá một cơn co trong 1 giờ.
- Một hai tuần trước khi đẻ, tử cung có các cơn co nhẹ, mau hơn trước,
áp lực từ 3 – 15 mmHg gọi là các cơn co Hicks, không gây đau.
- Ngoài cơn co, cơ tử cung vẫn trong tình trạng hơi co được gọi là trương
lực cơ bản, trung bình áp lực này 5 – 15 mmHg.
- Cường độ cơn co là số đo ở thời điểm áp lực tử cung cao nhất của mỗi
cơn co.
- Hiệu lực của cơn co = Cường độ cơn co – Trương lực cơ bản.
- Độ dài cơn co được tính từ thời điểm tử cung bắt đầu co bóp đến khi
hết cơn co.
- Tần số cơn co tăng dần trong quá trình chuyển dạ.
- Có 4 loại cơn co tử cung:
Loại 1: cơn co dạng hình chuông, pha tăng áp lực tương xứng với pha
giảm áp lực. Giữa các cơn co là thời gian nghỉ.
Loại 2: Cơn co dạng hình hyperbol, pha tăng áp ngắn, pha giảm áp kéo
dài. Cơ co kéo dài đến khi xuất hiện cơn co mới, không có thời gian
nghỉ.
Loại 3: Ngược với cơn co loại 2, thường gặp ở giai đoạn mới chuyển
dạ, pha tăng áp lực kéo dài, pha giảm áp lực ngắn và đột ngột.
Loại 4: Có biểu hiện sự thay đổi đều đặn của 2 loại cơn co xen kẽ nhau,
phân biệt bằng cường độ, độ dài và hình dạng.
1.2.4.Thay đổi về phía mẹ, thai nhi và phần phụ của thai do tác động của
cơn co tử cung.
11
• Thay đổi của người mẹ:
- Xoá: là hiện tượng lỗ trong cổ tử cung rộng dần ra trong khi lỗ ngoài
không thay đổi.
này và các bệnh do thai nghén mà có: nhiễm độc thai nghén, viêm ruột
thừa và thai nghén, tắc ruột
- Các dị tật và di chứng bệnh từ nhỏ: dị dạng sinh dục, khung xương
chậu hẹp, khung chậu lệch do còi xương, lao, chấn thương, di chứng
bại liệt
- Tuổi mẹ quá trẻ (< 18 tuổi), lớn tuổi ( >35 tuổi ).
- Mẹ đẻ nhiều lần ( >4 lần), tiền sử nặng nề về thai nghén và sinh đẻ:
điều trị vô sinh, sảy thai liên tiếp, đẻ non, thai chết lưu, đã đẻ can thiệp,
đã có lần bị băng huyết nặng khi đẻ.
1.3.1.2. Từ phía thai:
- Đa thai: sinh đôi, sinh ba.
- Ngôi thai bất thường ( ngôi mặt, ngôi trán, ngôi ngang, ngôi ngược).
- Thai to, thai dị dạng, thai non tháng, thai suy dinh dưỡng, suy thai mạn
tính, thai già tháng.
1.3.1.3. Từ phần phụ của thai:
- Bánh rau: rau bám thấp, rau tiền đạo, rau bong non.
- Sa dây rau, dây rau thắt nút, dây rau quấn cổ.
1.3.2. Yếu tố tiên lượng xấu phát sinh trong chuyển dạ.
1.3.2.1. Toàn thân của mẹ:
- Các cơn đau do co bóp tử cung khiến bà mẹ lo lắng, sợ hãi ảnh hưởng
xấu đến quá trình chuyển dạ.
- Cuộc chuyển dạ kéo dài làm sản phụ mệt mỏi, kiệt sức.
1.3.2.2. Diễn biến của cơn co tử cung, sự xoá mở cổ tử cung, đầu ối.
13
- Các rối loạn cơn co tử cung có thể gặp trong chuyển dạ: tăng co bóp,
giảm co bóp, tăng trương lực cơ bản.
- Cổ tử cung dày, cứng, phù nề, lỗ trong co thắt, cổ tử cung mở chậm
hoặc không mở.
- Đầu ối phồng hay hình quả lê, màng ối dày, ối vỡ non, ối vỡ sớm, nước
ối có phân xu, nước ối có máu.
• Da dây rau: là một cấp cứu sản khoa vì cần phải giải quyết ngay nếu
không thai bị chết.
• Chỉ định mổ về phía thai
- Thai to đều không tương xứng với khung chậu, không có khả năng lọt
qua eo trên.
- Các ngôi bất thường: ngôi vai, ngôi trán, ngôi mặt, ngôi ngược, ngôi
chỏm sa chi.
- Thai già tháng nước ối ít hoặc xanh.
- Chửa nhiều thai.
• Chỉ định mổ về phía mẹ
- Con so lớn tuổi.
- Tình trạng bệnh lý của mẹ: thiếu máu, đái tháo đường không được theo
dõi, THA không được theo dõi, suy tim hoặc phù phổi cấp.
• Chỉ định do bất thường xảy ra khi theo dõi chuyển dạ
- Đẻ khó do cổ tử cung không tiến triển.
- Thất bại của nghiêm pháp lọt ngôi chỏm.
- Đẻ khó do rối loạn cơn co.
- Suy thai cấp trong chuyển dạ.
1.5. Các tai biến sản khoa nặng thường gặp
1.5.1. Vỡ tử cung: Là một tai biến sản khoa nặng, rất nguy hiểm cho thai và
cho mẹ, nếu không phát hiện và xử trí kịp thời sẽ gây tử vong cho mẹ và cho
thai nhi.
1.5.1.1. Vỡ tử cung trong thời kỳ thai nghén.
* Nguyên nhân: thường xảy ra trên các thai phụ có sẹo mổ cũ ở tử cung hoặc
trong trường hợp tử cung đôi mà thai phát triển ở tử cung không phát triển.
- Sẹo mổ lấy thai ở thân tử cung.
- Sẹo khâu lại tử cung bị vỡ.
15
- Sẹo mổ lấy thai từ 2 lần trở lên.
- Sẹo mổ cắt góc tử cung trong chửa ngoài tử cung.
- Do ngôi thai, kiểu thế bất thường.
- Do đa thai, các thai dính nhau.
- Do truyền oxytocin không đúng chỉ định và liều lượng.
- Do các can thiệp thủ thuật.
1.5.2.2. Triệu chứng:
Trừ trường hợp vỡ tử cung ở người có sẹo mổ cũ, các trường hợp khác
thường có dấu hiệu báo trước mà ta thường gọi là dấu hiệu doạ vỡ tử cung.
• Doạ vỡ tử cung:
Cơ năng: thai phụ đau dồn dập, quằn quại.
Thực thể:
- Tử cung có như hình quả bầu nậm, khối dưới là đoạn dưới bị kéo dài,
đẩy thân tử cung lên cao. Chỗ thắt là cơ vòng Bandl, càng gần vỡ vòng
Bandl càng lên cao và càng rõ.
- Đo cơn co tử cung thấy mau và mạnh.
- Nghe tim thai có thể nhanh hoặc chậm hoặc không đều.
- Thăm âm đạo có thể phát hiện được các nguyên nhân gây đẻ khó.
• Vỡ tử cung:
Cơ năng:
- Trên thai phụ có dấu hiệu doạ vỡ như mô tả trên đột ngột chói đau, đau
nhiều chỗ sau đó dịu đi.
- Ra máu âm đạo đỏ tươi, có thể nhiều hoặc ít.
Thực thể:
- Nếu mất máu nhiều có tình trạng choáng.
- Mất dấu hiệu quả bầu nậm, dấu hiệu vòng Bandl.
- Sờ thấy thai nhi dưới thành bụng, dó dấu hiệu suy thai hoặc mất tim
thai.
- Thăm âm đạo có máu đỏ theo tay, ngôi thai cao, đẩy thai lên dễ dàng.
17
1.5.2.3. Xử trí:
- Hồi sức cấp cứu: bồi phụ khối lượng máu đã mất, truyền dịch, nước
18
- Đau bụng vùng hạ vị từng cơn.
- Thăm âm đạo: CTC xoá mỏng, hé mở, phần dưới phình to, có thể sờ
thấy thai ở lỗ trong CTC.
• Điều trị:
Doạ sảy:
- Cho bệnh nhân nghỉ ngơi tuyệt đối.
- Dùng thuốc giảm co: papaverin, sparmaverin, sparfon
- Progesteron 25mg/ ngày x 5 – 7 ngày, Utrogestan 100mg: 400mg/ngày
x 5 – 7 ngày. Duphaston 10mg: 30 mg/ ngày x 5 -7 ngày.
Đang sảy hoặc đã sảy:
- Nếu đang sảy, bọc thai nằm trong ống CTC hoặc ÂĐ: gắp bọc thai
bằng kìm quả tim, nạo hút sạch buồng tử cung.
- Sảy thai băng huyết cần hồi sức tích cực, truyền máu, truyền dịch, nạo
hút sạch, tiêm thuốc co hồi tử cung.
- Sử dụng kháng sinh tránh nhiễm khuẩn.
1.5.3.2. Thai chết lưu
• Nguyên nhân:
Nguyên nhân do mẹ:
- Mẹ mắc các bệnh lý mạn tính: Basedow, thiểu năng giáp trạng, đái tháo
đường, THA, bệnh tim, lao phổi, thiếu máu
- Mẹ bị nhiễm khuẩn: nhiễm ký sinh trùng sốt rét, vi khuẩn giang mai,
virus viêm gan, quai bị, sởi
- Mẹ bị NĐTN, dinh dưỡng kém, lao động vất vả, đời sống khó khăn.
Nguyên nhân do thai:
- Rối loạn nhiễm sắc thể.
- Thai dị dạng: não úng thuỷ, thai vô sọ, phù thai
- Bất đồng nhóm máu Rh giữa mẹ và con.
- Thai già tháng, đa thai
Nguyên nhân do phần phụ:
antỉthombin III, giảm tiểu cầu.
- Nhiễm trùng: Khi màng ối vỡ, nhiễm trùng sẽ rất nhanh và nặng, lan
rộng làm cho mẹ có thể bị choáng nội độc tố, đặc biệt do vi khuẩn gram
âm.
• Điều trị:
- Điều chỉnh lại tình trạng rối loạn đông máu.
- Nong cổ tử cung để nạo, hút.
- Gây sẩy thai, gây chuyển dạ.
- Điều trị nhiễm trùng.
1.5.3.3.Chửa ngoài tử cung.
20
• Định nghĩa: là trường hợp trứng được thụ tinh làm tổ ở ngoài buồng
TC.
• Nguyên nhân:
- Viêm vòi trứng, viêm phần phụ, hẹp vòi trứng do viêm hoặc sau phẫu
thuật tạo hình vòi trứng, vòi trứng xơ cứng kém nhu động, vòi trứng co
thắt nhu động bất thường.
- Các khối u trong lòng vòi trứng hoặc bên ngoài vòi trứng chèn ép làm
hẹp lòng vòi trứng, trong đó có lạc nội mạc tử cung.
• Triệu chứng:
Chửa ngoài tử cung chưa vỡ
- Cơ năng: bệnh nhân có triệu chứng có thai, đau bụng, ra huyết âm đạo.
- Thực thể: Cổ tử cung, thân tử cung mềm, hơi to nhưng không tương
xứng với tuổi thai. Cạnh tử cung có thể sờ thấy khối mềm, ranh giới rõ,
ấn rất đau. Thăm âm đạo sờ túi cùng sau bệnh nhân đau chói.
- Xét nghiệm: HCG (+), siêu âm không thấy thai trong buồng tử cung, có
thể thấy túi thai nằm bên ngoài. Soi ổ bụng thấy vòi trứng căng phồng,
tím đen.
• Xử trí:
1.5.3.4. Rau tiền đạo (RTĐ)
- Chụp X quang bằng tia mềm ta có thể thấy hình mờ của bánh rau khi
RTĐ ở trước ngôi thai, làm cho ngôi đầu cao.
- Chụp X quang có bơm thuốc cản quang vào bàng quang: có hình ảnh “
đầu thai nhi đội mũ nồi”.
- Chụp phóng xạ bằng Iod 131: thấy lượng Iod 131 đưa vào tuần hoàn
của mẹ tập trung nhiều ở vùng hạ vị.
- Siêu âm chẩn đoán: xác định chính xác vị trí của bánh rau, đo được
khoảng cách từ mép bánh rau tới lỗ trong CTC.
• Xử trí:
Chăm sóc điều dưỡng:
- Khuyên bệnh nhân vào viện để điều trị cầm máu dù máu đã ngừng chảy
và dự phòng cho lần sau.
- Nằm bất động tại giường, hạn chế đi lại tối đa khi đã hết chảy máu.
- Chế độ ăn uống: đảm bảo chế độ dinh dưỡng tốt để đảm bảo cân nặng
của trẻ vì rau tiền đạo thường hay gây đẻ non, chế độ ăn chống táo bón,
nên ăn nhiều đường, mía, đạm
Chế độ thuốc:
22
- Papaverin chlohydrat: ngày đầu dùng loại tiêm bắp hay tĩnh mạch để có
hiệu quả giảm cơn co ngay, những ngày sau có thể tiêm hay uống, liều
dùng từ 0,04 đến 0,4g/ngày.
- Progesteron: 25 – 50mg/ngày tiêm bắp sâu 5 – 7 ngày.
- Isopenalin (Isuprel): 1/8 viên 1mg, ngậm dưới lưỡi, theo dõi mạch, chỉ
dùng cho bệnh nhân có mạch < 100lần/phút.
- Salbutamol: 20mcg/phút, sau đó dùng uống rải rác trong ngày để duy
trì tác dụng giảm co.
- Terbutalin sulfat: 5 – 7,5 mg, liều tối đa 10 – 15 mg/ngày. Chỉ định
dùng ức chế cơn co tử cung trong sản khoa (doạ đẻ non, giảm cơn co
trong rau tiền đạo ).
- Aspirin: có tác dụng đối kháng với prostaglandin, chỉ dùng cho thai
toàn máu cục và máu loãng.
- Nếu máu ra nhiều sản phụ xanh nhợt, mạch nhanh, huyết áp hạ, khát
nước, chân tay lạnh, vã mồ hôi.
• Xử trí:
- Ấn động mạch chủ bụng nếu chảy máu nhiều.
- KSTC lấy máu cục và rau sót sau khi đã chống choáng.
- Gây phản xạ co bóp tử cung: Xoa bóp tử cung qua thành bụng phối hợp
với tay kia trong tử cung hoặc chèn ép tử cung bằng 2 tay.
- Tiêm thẳng vào cơ tử cung ở vùng đáy qua thành bụng 5 – 10 đơn vị
oxytocin.
- Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch 5 – 10 đơn vị oxytocin hoà vào 500ml huyết
thanh ngọt 5%.
- Tiêm Ergometrin 0,2mg hoặc méthergin 0,05 mg vào bắp thịt.
- Ampicyclin 500mg x 4 viên/ngày x 5 ngày.
- Nếu sau khi xoa bóp liên tục, tiêm thuốc co bóp tử cung nhưng máu
vẫn tiếp tục chảy và mỗi khi ngừng xoa bóp tử cung lại nhão ra thì phải
nghĩ tới đờ tử cung không hồi phục, ngay lập tức phải tiến hành mổ cắt
tử cung bán phần hoặc thắt động mạch tử cung.
1.5.4.2. Sót Rau
• Nguyên nhân:
24
- Tiền sử sảy thai, nạo hút thai nhiều lần.
- Đẻ nhiều lần và có lần đã bị sót rau, viêm niêm mạc tử cung.
- Sau đẻ non, đẻ thai lưu, do sẹo mổ cũ.
• Triệu chứng:
- Có thể phát hiện sớm sót rau sau đẻ bằng cách kiểm tra bánh rau thấy
thiếu, chú ý các múi rau phụ khi thấy mạch máu trên màng rau.
- Chảy máu: là dấu hiệu sớm nhất của sót rau, thường xuất hiện ngay sau
khi sổ rau. Ra máu rỉ rả hay đọng lại trong buồng tử cung làm tử cung
căng to không co lại được, có thể có dấu hiệu đờ tử cung thứ phát. Có