đánh giá hiệu quả điều trị nội nha bằng hệ thống endo express trên nhóm răng hàm nhỏ - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

CAO THỊ NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI NHA
BẰNG HỆ THỐNG ENDO EXPRESS
TRÊN NHÓM RĂNG HÀM NHỎ
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ BỆNH VIỆN
Hà Nội - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI


CAO THỊ NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI NHA NHÓM
RĂNG HÀM NHỎ
BẰNG HỆ THỐNG ENDO EXPRESS
Chuyên ngành : RĂNG HÀM MẶT
Mã số: 60.72.28
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Phạm Thị Thu Hiền
Hà Nội- 2012
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị nội nha là một công việc quen thuộc trong thực hành nha
khoa. Trong nội nha, việc sửa soạn hệ thống ống tủy là giai đoạn rất quan
trọng vì giúp giảm đau và loại bỏ các chất cặn bã, vi khuẩn là nguyên nhân
chính gây ra bệnh lý tủy.
Trong điều trị nội nha, đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và đòi hỏi sử
dụng nhiều dụng cụ nhất. Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự hiểu

có ống tủy dạng oval, dù có một tỉ lệ khá cao ống tủy dạng oval đã được ghi
nhận: 56% răng cửa hàm dưới 63% những răng hàm nhỏ có một chân có ống
tủy dạng oval dẹt, theo nghiên cứu của Wu và cộng sự. [34].
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả điều trị
nội nha bằng hệ thống Endo Express trên nhóm răng hàm nhỏ” nhằm
những mục tiêu sau:
1. So sánh hiệu quả sửa soạn ống tủy nhóm răng hàm nhỏ bằng hệ
thống Protaper và Endo Express trên thực nghiệm
2. Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang các bệnh nhân có răng hàm nhỏ
có chỉ định điều trị nội nha tại viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia.
3. Đánh giá kết quả điều trị trên các răng hàm nhỏ được điều trị nội
nha bằng hệ thống Endo Express.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong điều trị nội nha, một trong những giai đoạn quan trọng nhất là
giai đoạn sửa soạn ống tủy. Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian nhất và
cũng là giai đoạn có nhiều dụng cụ và kĩ thuật khác nhau đã được đề xuất
trong thực hành . Do đó để điều trị tủy có hiệu quả đòi hỏi người bác sĩ nội
nha phải: Nắm rõ đặc điểm giải phẫu của hệ thống ống tủy răng của từng loại
răng nói chung và những thay đổi có thể xảy ra của nó theo tuổi và tình trạng
bệnh lý. Qua lâm sàng và x-quang xác định đúng tình trạng tổn thương của
tủy, tổn thương quanh cuống để có bước tiến hành điều trị tủy thích hợp.
Tuân thủ 3 nguyên tắc của Schiler trong thực hiện kỹ thuật điều trị tủy.
GIẢI PHẪU HÌNH THÁI ỐNG TỦY
Đặc điểm chung
Tủy răng là một bộ phận phức tạp, được tạo thành bởi khối mô liên kết non
giàu mạch máu, dây thần kinh và các tế bào tủy như nguyên bào tạo ngà,
nguyên bào sợi, đại thực bào, tế bào trung mô,…
Tủy răng nằm trong hốc tủy, hình thể của hốc tủy tương tự với hình thể

Theo Wu và cộng sự, tỉ lệ dạng ống tủy hình oval dài ở 1/3 chóp lên
đến 25%, ở nhóm răng cửa hàm dưới là 56% và nhóm răng hàm nhỏ có một
6
chân là 63%, và ở chân xa của nhóm răng hàm lớn hàm dưới, tỉ lệ này là từ
25-30%.[36]
Hình thái giải phẫu phức tạp này có thể xem như là một thách thức lớn
đối với sự kiểm soát nhiễm khuẩn trong quá trình sửa soạn ống tủy.
Giải phẫu hình thể trong nhóm răng hàm nhỏ
Tỉ lệ ống tủy có dạng oval ở nhóm răng hàm nhỏ là 63%, theo nghiên
cứu của Wu MK và cộng sự.
Răng hàm nhỏ thứ nhất và thứ 2 hàm trên
Răng hàm nhỏ thứ nhất và thứ hai hàm dưới.
PHÂN LOẠI BỆNH LÝ TỦY RĂNG
Có nhiều cách phân loại bệnh lý tủy răng như dựa vào triệu chứng lâm
sàng, tổn thương giải phẫu bệnh hay chỉ định điều trị. Trên thực tế, các
phân loại được áp dụng nhiều nhất là phân loại của Selzer và Bender
(1993) dựa theo tiến triển của bệnh:
Giai đoạn viêm:
Chứng đau tủy:
• Tăng nhạy cảm tủy
Giai đoạn thoái hóa
• Thoái hóa thể teo
• Calci hóa, loạn dưỡng
7
• Xung huyết tủy
Viêm tủy đau
• Viêm tủy cấp
• Viêm tủy mạn kín
Viêm tủy không đau
• Viêm tủy mạn hở

thống ống tuỷ, tránh gây tổn thương mô cuống.
ii. Tránh đẩy các yếu tố như vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, mô hoại tử hoặc
ngà mủn ra vùng cuống răng.
iii. Lấy sạch toàn bộ các thành phần nhiễm khuẩn trong khoang tuỷ, tái lập
lại cân bằng sinh hoá cho vùng cuống răng.
iv. Hoàn tất việc làm sạch và tạo hình cho mỗi ống tuỷ trong một lần điều trị.
v. Tạo khoang tuỷ đủ rộng cho việc đặt thuốc nội tuỷ, đồng thời thấm hút
một phần dịch viêm từ cuống răng.
 Làm sạch hệ thống ống tủy:
- Làm sạch hệ thống ống tủy gồm “làm sạch cơ - sinh học” và “làm sạch
cơ - hóa học”, đảm bảo loại trừ được các tác nhân gây bệnh như các
mảnh hữu cơ từ mô tủy hoại tử, vi khuẩn, sản phẩm chuyển hóa của vi
khuẩn, mùn ngà, các bó sợi tạo keo của mô tủy, sỏi tủy, và các chất hàn
cũ khỏi hệ thống ống tủy… nhằm tạo ra một khoang vô khuẩn để tiếp
nhân chất hàn.
 Các dung dịch bơm rửa và bôi trơn:
- Hypochlorid natri (NaOCl):. Baumgartner và Mader cho rằng NaOCl
2,5% - 5,25% làm tiêu cặn hữu cơ, loại bỏ VK làm tan rã tổ chức tủy
còn sót lại, tạo dạng treo giữa các yếu tố trong lòng khoang tủy [29].
Phải phối hợp làm sạch bằng các dụng cụ hoặc siêu âm và các dung
dịch bơm rửa. Thể tích nước bơm rửa tối thiểu cho mỗi lần là 2 ml.
- EDTA và các chất làm trơn: Loại này có tác dụng lấy bỏ ngà mủn, làm
mềm các chỗ ngà mủn tắc, chủ yếu ở vùng chóp ốn tủy, làm tăng hiệu
lực cắt của dụng cụ tạo hình [1,2]. Các chất làm trơn gồm RC-Prep là
Glyoxitde có thành phần chủ yếu là Peroxyd, có tác dụng làm trơn dụng
cụ trượt trong lòng ống tủy. Ngoài ra, RC-prep còn có tác dụng làm tiêu
9
các sợi tạo keo của mô tủy sống. Do đó rất hiệu quả khi dùng phối hợp
với NaOCl [29].
PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH HỆ THỐNG ỐNG TỦY

trâm ra. [30].
Kĩ thuật này có ưu điểm là giữ trâm ở trung tâm giữa các thành của ống
tủy, tạo điều kiện để làm rộng ống tủy ở phần chóp nhưng không làm loe chóp
răng hay thay đổi hình dạng ống tủy và không cần thiết phải bẻ cong trâm
trước khi sửa soạn[13], [30].
 Kĩ thuật lên dây cót (Watching winding technique)
Kĩ thuật được mô tả bao gồm động tác xoay qua xoay lại trâm khoảng 45
0
(có
thể từ 30 đến 60
0
) khi đưa trâm vào trong lòng ống tủy. Khi sử dụng file
Hedstrom, kĩ thuật thực hiện một dao động nhỏ tại chỗ với thành ống tủy. Sau đó
mô ngà sẽ được lấy ra nhờ động tác kéo trâm ra ngoài chứ không có tác dụng cắt
ngà như kĩ thuật cân bằng lực.
Động tác này ít xâm phạm hơn so với động tác xoay 45
0
và kéo trâm ra ngoài
(động tác nong) và thường được thực hiện trước kĩ thuật cân bằng lực.
11
Hình: Kỹ thuật lên dây cót (watch winding technique)
 Động tác dũa (Filing hay push-pull): đưa trâm về phía chóp răng và
kéo ra.
 Động tác nong (Reaming hay clockwise/right-hand rotation) xoay
cùng chiều kim đồng hồ ¼ vòng, ½ vòng, ¾ vòng đến 1 vòng hoặc
hơn nữa.
1.4.3. Phương pháp tạo hình ống tủy với dụng cụ máy:
Phương pháp được áp dụng để sửa soạn ống tủy bằng trâm xoay máy NiTi
là phương pháp Crown – down. Nguyên tắc của phương pháp này là đảm bảo
đường vào ống tủy thẳng, luôn luôn tái lập với một trâm số 15 sau mỗi lần

Một vấn đề đối với trâm xoay NiTi đó là trâm luôn có xu hương duỗi
thẳng do động cơ xoay liên tục. Những trâm xoay có đường kính lớn thường
kém đàn hồi hơn, cứng hơn, và có xu hướng lấy đi nhiều mô ngà hơn ở mặt
13
ngoài phần ống tủy cong, nhất là ở 1/3 chóp, dẫn đến hai hệ quả đó là một mặt
thì những mô hoại tử ở vùng chóp thì không được lấy đi, mặt khác thì chóp
chân răng lại bị làm loe hơn khiến cho trâm dễ đi quá cuống trong khi sửa
soạn.[10], [19], [20].
Đối với những ống tủy cong ở 1/3 giữa, nha sĩ thường cố lấy đi phần
ngà ở mặt trong đoạn cong, để mở rộng ống tủy và giảm góc cong. Điều đó sẽ
dẫn đến việc lấy bỏ đi quá nhiều độ dày ngà ở mặt trong, khiến tăng nguy cơ
nứt gãy chân răng. [14]
Trâm xoay hiện tại thường có dạng tròn đối xứng nên khi tạo dạng ống
tủy thường tạo dạng hình tròn. Phần ống tủy phía trong và phía ngoài, cũng
như là phần cong của ống tủy hình giọt nước thường không được sửa soạn tốt
bằng những trâm xoay hiện tại, dù sử dụng dụng cụ bằng tay hay bằng tay
khoan. Điều đó nghĩa là mô tủy hoại tử và mùn ngà không được lấy bỏ và còn
tồn tại những khoảng trống sau khi hàn, dẫn tới sự tái nhiễm trong tương lai
gây thất bại trong điều trị.[33], [34].
Hình: Sửa soạn ống tủy dạng dẹt vơi trâm xoay.
CÁC HỆ THỐNG TRÂM XOAY TẠO HÌNH ỐNG TỦY
Đặc điểm chung:
Hợp kim Nikel titanium được sáng chế bởi William Buehler vào đầu
những năm 60 của thế kỷ 20. Andreasen và Hilleman đưa vào sử dụng trong
14
nắn chỉnh răng vào năm 1971 và lần đầu tiên được sử dụng trong nội nha bởi
Walia và cộng sự vào năm 1988. Từ đó đến nay có rất nhiều hệ thống trâm
xoay tay và xoay máy Ni-ti đã ra đời, tạo ra bước tiến lớn trong lĩnh vực nội
nha. Hợp kim Ni-Ti có modul đàn hồi bằng 1/4 đến 1/5 của thép không gỉ,
biến dạng đàn hồi lớn, mềm dẻo hơn thép không gỉ, khả năng ghi nhớ hình

bán hoạt động
Diện cắt hình thang lệch, lõm hai
cạnh hai bên, đại diện là Quantec…
Loại này có tác dụng
khoan thủng ít.
Loại 3: Loại
hoạt động
Diện cắt hình tam giác gồm PowR,
FlexMaster, Hero, Protaper…
Loại này có tác dụng
xoay thủng sâu, mạnh.
Profile K3 Protaper
Quantec
Các hệ thống trâm xoay NiTi
16
Hiện tại trên thị trường có hơn 30 hệ thống trâm xoay NiTi[23].
1.0.0.1. Hệ thống Protaper
Ở Việt Nam hiện nay Protaper là trâm xoay Ni-Ti mới nhất. Hệ thống
Protaper có những đặc điểm sau:
. Góc cắt tích cực: Thiết diện hình tam giác lồi, làm giảm vùng tiếp
xúc giữa trâm và ngà răng, dẫn đến giảm lực xoắn, lực quá tải trên trâm, giảm
tác động siết chặt và khả năng gãy dụng cụ trong ống tuỷ, do đó làm tăng hiệu
quả cắt.
. Nhiều độ thuôn: Mỗi dụng cụ có nhiều độ thuôn khác nhau tăng dần
từ 2-19% dọc theo phần cắt làm độ dẻo tăng đáng kể, hiệu quả cắt cao, giảm
độ xoắn khi dùng ở ống tuỷ hẹp. Dụng cụ số lớn có độ thuôn ngược làm gia
tăng độ mềm dẻo.
. Đầu không cắt hướng trâm tự tìm đường không gây hại thành ống tuỷ.
 Mô tả bộ trâm xoay Protaper
Protaper có loại cầm tay và loại chạy máy cần tay khoan giảm tốc

cửa giữa [15]
Hình 1.8. Ống tủy” hình giọt nước” do
sử dụng dụng cụ thẳng ở chóp[15]
Ngoài hệ thống Protaper còn có nhiều hệ thống trâm xoay NiTi khác như
Profile, Quantec, K3, RaCe… tuy nhiên chưa được ứng dụng nhiều tại
Việt Nam.
1.0.0.1. HỆ THỐNG ENDO EXPRESS
Hệ thống Endo Express là hệ thống sửa soạn ống tủy mới, được hoàn
thiện vài năm gần đây. Hệ thống sửa soạn Endo Express bao gồm motor với
tay khoan chuyển động qua lại, và bộ trâm Endo với nhiều kích thước và độ
thuôn khác nhau.
Về đặc điểm thiết kế, bộ trâm xoay Endo Express bao gồm:
- Trâm số 8 và 10, có thiết kế tương đối giống các hệ thống trâm khác
với độ thuôn là 2°. Mục đích thăm dò và mở đường vào ống tủy ban
đầu.
- Trâm số 15 đến 40, độ thuôn 2°, có thiết kế mặt phẳng chạy dọc theo
thân trâm. Thiết kế mặt phẳng dọc theo thân trâm là đặc điểm thiết kế
khác biệt chủ yếu so với các trâm xoay hiện tại. Tạo điều kiện thu gom
mùn ngà và hạn chế tối đa việc đẩy chất bẩn xuống vùng chóp.
- Trâm số 30/04, 25/06 và 25/08, với độ thuôn là 4°, 6° và 8°.
So với các trâm NiTi hiện hành, trâm Endo Express có số rãnh cắt ít hơn,
16 rãnh cắt so với 24 rãnh cắt của file. Điều đó giảm đi sự gài quá chặt giữa
trâm và thành ống tủy.
19
Motor tay khoan của hệ thống Endo Express hoạt động xoay 2 chiều với
góc xoay mỗi bên 30 độ, dựa trên nguyên lý “lực cân bằng” (Balanced force)
và “lên dây cót” (watch winding) trong sửa soạn ống tủy.
Chuyển động xoay qua lại 30 độ của motor tay khoan Endo Express tạo
một lực cân bằng trong sửa soạn ống tủy, giúp hạn chế tối đa độ mỏi của kim
loại, độ căng dãn của trâm, trâm không bị gài chặt vào trong thành ống tủy, do

trâm xoay dao động 30 độ ( hệ thống AET). Nghiên cứu được thực hiện
trên các răng hàm nhỏ hàm dưới, là những răng thường có dạng ống tủy
hình oval. Sau khi sửa soạn ống tủy bằng hai hệ thống này, ông tiến
hành cắt ngang và nhận xét hình thể ống tủy ở 1/3 trên, 1/3 giữa và 1/3
chóp. Kết quả nhận thấy là việc sửa soạn ống tủy bằng hệ thống trâm
xoay dao động có thể tiếp cận đến nhiều vùng trên thành ống tủy, tạo
điều kiện tạo hình ống tủy hình oval. Còn hệ thống Protaper do có đặc
điểm luôn giữ ở trung tâm ống tủy và hạn chế khi tác động lực ở các
thành bên của ống tủy nên thường chỉ tạo được dạng ống tủy hình tròn,
21
và không phù hợp đặc biệt ở những răng có dạng ống tủy hình oval.
[17]

Hình: ống tủy cắt ngang ở 1/3
trên, giữa, chóp trước (a,b,c) và
sau khi sửa soạn bằng hệ thống
AET (d,e,f)
Hình: ống tủy cắt ngang ở 1/3
trên, giữa, chóp trước (a,b,c) và
sau khi sửa soạn bằng hệ thống
Protaper (d,e,f)
Peters và cộng sự (2003) đã đánh giá hiệu quả của việc làm sạch và tạo
hình ống tủy trên những răng có ống tủy cong bằng phim CT, thấy rằng trâm
xoay NiTi hầu như không sửa soạn được bề mặt phía trong của những ống tủy
cong (ví dụ như đối với răng hàm lớn hàm trên). Nghiên cứu cho thấy là 43%
± 29% và 33% ± 19% thành ống tủy của ống gần ngoài và xa ngoài của răng
hàm lớn hàm trên hầu như không thay đổi sau khi sửa soạn. Kết quả cũng
không khả quan hơn đối với ống tiền đình, mà ta vẫn nghĩ là rộng và có thể
làm sạch và tạo hình dễ dàng. 49% ± 29% bề mặt ống tủy không thay đổi sau
khi sửa soạn. Độ lệch chuẩn lớn cho thấy việc sửa soạn các ống tủy có thể

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu lâm sàng:
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là những bệnh nhân có răng hàm
nhỏ có bệnh lý tủy hoặc bệnh lý cuống có chỉ định điều trị tủy đến khám tại
địa điểm trên.
 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Răng bị viêm tủy cấp.
- Răng tủy hoại tử không gây đau tự nhiên.
- Răng viêm quanh cuống mãn.
- Bệnh nhân chấp nhận điều trị tủy.
- Bệnh nhân có sức khỏe toàn thân tốt.
 Tiêu chuẩn loại trừ
24
- Bệnh nhân có các bệnh mạn tính có triệu chứng đau vùng hàm mặt: đau
nửa đầu, đau thần kinh V, đau khớp thái dương hàm, viêm xoang hàm.
- Răng có chỉ định điều trị nội nha kết hợp phẫu thuật.
- Răng chưa đóng cuống.
- Bệnh nhân không hợp tác điều trị hoặc không có khả năng theo toàn bộ
quá trình điều trị.
2.2.2. Nghiên cứu thực nghiệm:
Chúng tôi chọn 20 răng hàm nhỏ có một chân răng được chỉ định nhổ do
yêu cầu chỉnh nha, các răng nhổ có tiêu chuẩn sau:
- Thân Răng còn nguyên vẹn, không có các tổn thương nứt hay vỡ một phần.
- Chóp chân răng đã trưởng thành.
- Không có vôi hóa ống tủy.
- Lỗ chóp cho trâm số 10 đi qua nhưng không cho trâm số 15 đi qua.
- Chiều dài chân răng tối thiểu là 10 mm.
- Ống tủy không cong dạng chữ S.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status