1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp những người có tuổi trên 60 là người
cao tuổi. Tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới ngày càng tăng. từ
46,4 tuổi năm 1950-1955 đến 66,0 tuổi năm 2000-2005, và dự đoán là 69 tuổi
năm 2010-2015. Tỷ lệ người trên 70 tuổi năm 1950-1955 dưới 1%, tăng lên
57% năm 2010-2015. Ở nước ta, tuổi thọ trung bình là 68,6 (2003) và là 69
(2004), số người trên 60 tuổi chiếm gần 10% dân số. Số người cao tuổi tăng
đi kèm với sự tăng về nhu cầu chăm sóc y tế cũng như chi phí cho dịch vụ y
tế. Ở Mỹ, năm 1996 có khoảng 72 triệu ca bệnh, 47% trong số đó trên 65 tuổi;
năm 2004, có 47 triệu ca phẫu thuật, 33% trong số đó người cao tuổi [3], [11].
Gây mê hồi sức ở người cao tuổi gặp nhiều khó khăn hơn ở người trẻ.
Bởi những biến đổi về sinh lý và bệnh lý. Đa số người cao tuổi có bệnh lý
phối hợp. Tần suất những biến chứng và tai biến cao, có thể gặp trước, trong
hay sau gây mê phẫu thuật. Giai đoạn khởi mê là giai đoạn có nhiều biến
động. Sự thay đổi huyết động trong giai đoạn khởi mê và đặt ống NKQ khi
chưa có đủ điều kiện thích hợp ở người cao tuổi làm tăng tỷ lệ tai biến, đôi
khi kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục. Thay đổi huyết động
có thể là trụy tim mạch khi mê quá sâu hay tăng vọt mạch, huyết áp khi mê
chưa đủ làm tăng nguy cơ thiếu máu vành, tăng nguy cơ tai biến mạch não
hay nặng thêm bệnh phối hợp kèm theo. Sự thay đổi này nhiều hay ít phụ
thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sỹ gây mê, cách dùng thuốc mê, cũng
như cách phối hợp với các thuốc khác. Đặt ống NKQ khi chưa đủ thời gian
chờ và chưa có điều kiện tốt làm tăng nguy cơ co thắt, tăng tiết đờm rãi, tổn
thương dây thanh âm, tăng biến đổi huyết động và đồng nghĩa với chất lượng
của cuộc gây mê chưa tốt.
2
Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiều thuốc tốt được tìm ra cũng
như nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được áp dụng trong gây mê giúp
giảm thiểu tai biến. Thuốc mê tĩnh mạch được sử dụng phổ biến hiện nay phải
kể đến là Propofol, Etomidate. Do có nhiều ưu điểm như khởi mê nhanh, tỉnh
Trương lực cơ của đường thở trên giảm, nên khi bệnh nhân được gây mê dễ
tụt lưỡi làm tắc đường thở, không thông khí được khi úp mask. Phản xạ bảo
vệ đường thở giảm làm tăng nguy cơ hít phải chất trào ngược.
Hệ cơ xương: Hầu hết bị loãng xương nên xương dễ gãy. Lồng ngực
cứng do vôi hoá sụn sườn làm thở bụng nhiều hơn thở ngực. Vận động cột
sống cổ hạn chế gây đặt NKQ khó. Cột sống ngực, lưng biến dạng: cong vẹo,
xẹp lún, vôi hoá cột sống và các dây chằng gây hạn chế hô hấp, khó khăn khi
gây tê tủy sống, ngoài màng cứng.
Sinh lý người cao tuổi liên quan đến gây mê hồi sức [3], [11]
Hệ tim mạch: vách thất trái và động mạch chủ dầy lên; tế bào cơ tim to lên
và giảm số lượng do cơ chế lão hoá; thành phần chất tạo keo (collagen) và
elastin của cơ tim tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở hệ dẫn truyền làm số tế bào
tạo nhịp ở nút nhĩ giảm đi. Rung nhĩ thường thấy ở nhóm người cao tuổi, có
thể do sự mất dần những tế bào tạo nhịp và dẫn truyền ở nhĩ. Sức co bópcơ
tim giảm do giảm đáp ứng của thụ thể β. Nhịp tim kém linh hoạt, kém thích
ứng với tăng gánh, bù trừ bị hạn chế và không kịp thời. Bệnh mạch vành, suy
4
tim ứ huyết và THA là những nguyên nhân hàng đầu trong tai biến và tử vong
ở người cao tuổi.
Hệ hô hấp: gần 30% tế bào thành phế nang bị mất đi từ 20 đến 80 tuổi, làm
giới hạn tính đàn hồi và lực kéo của nhu mô phổi. Do đó, tổng dung tích phổi
(TLC), dung lượng sống cố gắng (FVC), thể tích thở ra cố gắng trong một giây
(FEV1), dung tích sống (VC) và thể tích dự trữ hít vào (IRV) đều giảm, trừ
lượng khí cặn (RV) tăng. Tuy dung tích cặn chức năng (FRC) không thay đổi,
nhưng thể tích đóng (closing volume) tăng dần theo tuổi, và có thể trở nên lớn
hơn FRC. Hậu quả là đường thở bị xẹp trong khi thành ngực kém đàn hồi và
khối cơ hô hấp giảm.
Tỷ lệ V/Q (thông khí/tưới máu phế nang) mất tương hợp. Sự trao đổi khí
trong phổi kém, mất thích ứng với hô hấp gắng sức. Sự tăng thông khí suy
giảm rõ ràng trong đáp ứng với tình trạng oxy–máu thấp và ưu thán, do mất
Khối lượng gan giảm khoảng 40% ở tuổi 80, cùng với giảm lưu lượng
máu gan và nội tạng, làm giảm độ thanh thải thuốc. Hoạt dộng của một số
enzyme (cytochrome P450) giảm theo tuổi, tụy teo và xơ hoá làm người cao
tuổi thường thiếu năng lượng, chất đạm, vitamin và khoáng chất, làm chậm
liền vết thương.
Hệ nội tiết: Người cao tuổi thường bị bệnh đái tháo đường (tuýp II). Tần suất
lên đến 25% ở tuổi trên 80. Bệnh thường lành tính nếu phát hiện kịp thời và
điều trị đúng cách. Tuy nhiên nó cũng có thể đột ngột nặng lên khi bị nhiễm
trùng, khi phẫu thuật lớn, kích thích nội tạng, gây mê lâu,
Điều hoà thân nhiệt: Trên người cao tuổi, chuyển hoá cơ bản và thân nhiệt
giảm do khối cơ-xương bị teo và được thay thế bằng mô mỡ. Thân nhiệt có xu
hướng thấp do khả năng điều hoà kém và do những biến đổi của cơ thể.
6
1.1.2. Đáp ứng dược học của thuốc trên người cao tuổi [3], [11]
Trên người cao tuổi, dược động học có thể bị biến đổi, vì lượng nước
toàn phần cơ thể, lưu lượng máu thận và gan bị suy giảm. Dược lực học cũng
có thể bị biến đổi, nhạy cảm với nhiều loại dược chất, đặc biệt những thuốc
làm suy nhược thần kinh trung ương. Dưới những điều kiện cân bằng, liều
hiệu quả trung bình (ED50), nồng độ tối thiểu phế nang (MAC) giảm tới 30%
giữa tuổi 20 và 70 tuổi hay 4% cho mỗi thập niên từ tuổi trên 40. Nhu cầu của
tất cả những thuốc mê tĩnh mạch và thuốc mê bốc hơi đều giảm theo tuổi. Số
lượng những thụ cảm hoạt động, cũng như những thụ cảm của thần kinh và
thần kinh cơ, cùng những thụ cảm của các cơ quan đều giảm theo tuổi, dễ đưa
đến quá liều lượng dược chất. Khối cơ bị teo thay bằng mô mỡ, cùng với nước
trong cơ thể giảm làm giảm thể tích phân phối của những dược chất tan trong
mỡ. Protein và albumin-huyết tương giảm làm giảm protein gắn thuốc, làm
tăng lượng thuốc tự do. Giảm thể tích tuần hoàn cùng với thiểu năng tuần hoàn
làm tăng sự phân bố thuốc đến tim và não, là các cơ quan có lượng máu đến
nhiều, do đó dễ gây ngộ độc.
Chuyển hoá các dược chất không được hoàn chỉnh do hoạt tính các hệ
Tác dụng đỉnh
sau 90ph (dù đạt
½ tác dụng đỉnh
sau 5ph)
Tác dụng kéo dài cân
bằng theo thời gian và
giảm rất chậm sau khi
ngừng truyền liên tục
(4h giảm 50%)
Sản phẩm chuyển hóa
là morphine-6-
glucoronide làm tăng
thời gian tác dụng, sự
thải trừ qua thận chậm
Fentanyl Giảm liều 50% Giảm liều 50% Tăng nhạy cảm của
não, thay đổi rất nhỏ
dược động học
Cis-
atracurium
Giảm thời gian
chờ tác dụng
(≈33%)
Khác biệt theo tuổi không
có ý nghĩa
Chuyển hóa
Hoffmann giảm nhẹ,
thời gian bán hủy dài
hơn theo tuổi
Succinyl-
choline
Liều ban đầu của propofol ở người trưởng thành là 1,5-2,5mg/kg, với
nồng độ trong máu 2-6µg/ml thường làm mất tri giác, phụ thuộc vào tuổi, tình
trạng sinh lý, các thuốc dùng kèm theo, kích thích phẫu thuật hiện tại.
Khi sử dụng propofol để khởi mê cùng với N
2
O, liều truyền tĩnh mạch
trung bình là 120µg/kg/ph. Liều khuyến cáo của propofol khoảng 100-
200µg/kg/ph để gây ngủ và 25-75µg/kg/ph để an thần. Sự hồi tỉnh thường xảy
ra ở nồng độ plasma 1-1,5µg/ml.
Trẻ em thường cần liều trên kg cân nặng cao hơn do khoang trung tâm
lớn hơn và tốc độ đào thải nhanh hơn. Người cao tuổi cần liều thấp hơn, do
thể tích khoang trung tâm nhỏ hơn và đào thải chậm hơn. Có thể gặp sự thức
tỉnh trong gây mê dù dùng liều cao propofol tĩnh mạch đơn thuần. Thường thì
Propofol mang lại cảm giác thoải mái cho người sử dụng.
Bảng 1.2. Dược động học của propofol
Hệ số thanh
thải (l/ph)
Thể tích
phân phối (lít)
T1/2α
(phút)
T1/2β
(phút)
T1/2γ
(phút)
Propofol 1,97-2,19 720-1587 2,9-5,4 45-64
284-
222
Propofol+fentany 1,29-2,1 387-546 1,8 34
208-
giảm lưu lượng vành, giảm tiêu thụ oxy cơ tim.
Trên hô hấp:
11
Ức chế hô hấp, giảm tần số thở và thể tích khí lưu thông. Ngừng thở xảy
ra trung bình trong 50% số trường hợp (25-100%). Ngừng thở tăng lên và kéo
dài hơn khi khởi mê cùng với thuốc họ morphin. Khởi mê bằng propofol
không có tác dụng co thắt phế quản, giảm tính kích thích của thanh quản, cho
phép đặt nội khí quản mà không cần giãn cơ. Propofol không làm ảnh hưởng
tới phản xạ co mạch phổi do thiếu oxy nhưng làm giảm trương lực mạch máu.
Trên thần kinh trung ương:
Propofol chủ yếu gây ngủ, làm mất tri giác nhanh và ngắn, song song với
tốc độ tiêm.Tỉnh nhanh và chất lượng tốt (4 phút sau khi tiêm nhắc lại, 20
phút sau khi truyền liên tục).
Tác dụng bảo vệ não đã được tìm thấy trong thực nghiệm, và việc sử dụng
propofol để làm mất sự bùng nổ sóng điện não đã được đưa ra như một phương
pháp để bảo vệ não trong phẫu thuật phình mạch. Tác dụng này có thể do kết
quả kháng gốc oxi hóa tự do của cấu trúc vòng phenol trong propofol.
Thuốc làm giảm áp lực nội sọ, giảm lưu lượng máu não và áp lực tưới
máu não. Tuy nhiên vẫn duy trì được sự điều chỉnh tự động lưu lượng máu
não theo sự thay đổi của huyết áp động mạch và đáp ứng vận mạch khi thay đổi
áp lực riêng phần của CO2 trong máu động mạch (PaCO2). Propofol làm giảm áp
lực dịch não tuỷ và áp lực nội nhãn. Thuốc không có tác dụng giảm đau.
Tác dụng tại chỗ:
Đau khi tiêm gặp ở 32-67% bệnh nhân khi tiêm ở những ven tay nhỏ
nhưng có thể giảm đi khi tiêm ở ven lớn hơn hay tiêm cùng lidocaine hay
thuốc giảm đau họ morphine (fentanyl, remifentanil) hoặc một số thuốc khác
(metoprolol, granisetron, dolasetron, thiopental). Pha loãng với nước hay thay
đổi chất mang lipid cũng có thể giảm đau khi tiêm propofol, có lẽ do làm
giảm propofol tự do. Tiêm thuốc ra ngoài bệnh nhân rất đau nhưng không gây
hoại tử. Tiêm vào động mạch gây đau nặng nhưng không có di chứng.
20mg Propofol để điều trị nôn và buồn nôn ở giai đoạn sớm ngay sau mổ.
Hiếm gặp các biến chứng như nấc, tăng trương lực cơ và run cơ.
1.2.1.4. Áp dụng trên lâm sàng
Chỉ định
Gây mê cho bệnh nhân ngoại trú.
Dùng để khởi mê và duy trì mê trong các phẫu thuật ngắn và trung bình
(nhổ răng, nội soi, tai mũi họng ).
Phối hợp làm an thần trong gây tê tuỷ sống, tê ngoài màng cứng, tê tại
chỗ, gây tê đám rối thần kinh, an thần trong hồi sức.
Chống chỉ định
Tuyệt đối: Thiếu phương tiện gây mê hồi sức.
Tương đối: Động kinh chưa ổn định, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 3 tuổi.
Thận trọng với những bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa lipid.
Liều lượng
Thời gian chờ tác dụng 30-40 giây, tác dụng 5-10ph khi tiêm tĩnh mạch.
Gây mê
- Liều khởi mê: Người lớn 2–2,5mg/kg tĩnh mạch (chậm trong 30 giây-2ph).
- Trẻ em 2,5-3mg/kg tĩnh mạch (chậm trong 20-30 giây).
- Liều duy trì: người lớn 1/3 liều khởi mê tĩnh mạch-hoặc truyền liên tục
với liều 6-12mg/kg/h bằng bơm tiêm điện. Trẻ em: 9-15mg/kg/h, giảm dần
theo thời gian.
An thần hoàn toàn: 100-200µg/kg/phút.
An thần trong hồi sức: 1-2mg/kg/h bằng bơm tiêm điện.
Tương tác thuốc: Tăng tiềm lực bởi fentanyl. Không có tác dụng qua lại
giữa propofol và các loại thuốc giãn cơ. Không trộn lẫn với các sản phẩm
hoặc dung dịch khác (trừ glucose 5%). Có thể trộn lẫn với xylocain.
14
Dùng thuốc quá liều: Suy hô hấp, trụy tim mạch. Không có thuốc đối
kháng
1.2.2. Etomidate
Độ thanh tải nhanh của etomidate (18-25ml/kg/ph) là kết quả của việc
thủy phân bởi esterase ở gan. Bệnh gan nặng, xơ gan, giảm protein máu là
nguyên nhân kéo dài thời gian bán thải, tăng thể tích phân phối và giảm độ
thanh thải toàn phần trong huyết tương.
Liều khởi mê thông thường của Etomidate là 0,2-0,3mg/kg tiêm tĩnh
mạch, thời gian khởi phát tác dụng ngắn 15-45 giây, kéo dài 3-12ph. Cử động
bất thường có thể gặp trong khi tiêm thuốc do phản xạ dưới vỏ mà không liên
quan gì tới hoạt động của vỏ não. Tần suất gặp cử động bất thường có thể
được giảm đi khi sử dụng cùng với opioid giảm đau, benzodiazepines, hoặc
sử dụng liều nhỏ etomidate (0,03 đến 0,05mg/kg) an thần trước khi gây mê.
Thời gian hồi tỉnh sau gây mê bằng etomidate phụ thuộc vào tổng liều, thời
gian ngừng tiêm nhắc lại hay ngừng truyền liên tục.
Để duy trì ngủ cần nồng độ đích từ 300 đến 500ng/ml và có thể đạt được
bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch theo 2 hay 3 giai đoạn (100mg/kg/ph trong
10ph, sau đó 10mg/kg/ph hoặc 100mg/kg/ph trong 3-5ph, sau đó 20mg/kg/ph
trong 20-30ph và tiếp theo 10mg/kg/ph).
Sự tương tác của thuốc: fentanyl làm giảm thể tích phân phối và giảm độ
thanh thải toàn phần trong huyết tương (Clp) của etomidate. Liều cao morphin
làm tăng thời gian bán thải của etomidate. Phối hợp enfluran với etomidate,
dược động học không thay đổi.
1.2.2.3. Dược lực học [4]
Trên thần kinh trung ương
Sau tiêm một liều mạnh etomidate gây ra giấc ngủ ngay khi thuốc vào não.
16
Liều 0,3mg/kg tiêm trong 10–30 giây, giấc ngủ xuất hiện trong 30 giây
và kéo dài 4–6ph. Thời gian tăng lên khi tiêm chậm. Truyền 0,1mg/kg/ph gây
ngủ trong 136 giây.
Nồng độ cao nhất trong máu sau tiêm 0,3mg/kg trung bình là 1,59µg/ml
sau tiêm nhanh (10 giây) và 1,30±0,38µg/ml sau tiêm chậm (30 giây).
Với liều tiêm 0,15mg/kg, thời gian ngủ do thuốc là 3ph, liều 0,45mg/kg
Khi sử dụng 0,3mg/kg etomidate, áp lực nội nhãn giảm 30-60% và giảm
trong vòng 5 phút. Muốn duy trì áp lực nội nhãn, phải tiêm nhắc lại etomidate
hoặc sử dụng những thuốc khác có tác dụng hạ nhãn áp để duy trì gây mê.
Tiêm etomidate thường kèm theo co cơ. Chứng co cơ này có lẽ do nguồn
gốc tủy sống, quan sát thấy trên các bệnh nhân trẻ, không được tiền mê và
cũng có thể xảy ra ở giai đoạn hồi tỉnh.
Trên tim mạch
Trên huyết động, etomidate là loại thuốc tốt do có ưu điểm là gây ra rất ít
sự thay đổi trong huyết động khi sử dụng.
Khi khởi mê với liều 0,3mg/kg ở người khỏe mạnh, áp lực động mạch
trung bình, áp lực động mạch phổi, áp lực tĩnh mạch trung ương, thể tích tâm
thu, chỉ số tim và sức cản mao mạch ở mức ổn định, nhìn chung thay đổi dưới
10%. Liều 0,45mg/kg có thay đổi một số thông số: thể tích tâm thu giảm
15%, áp lực động mạch giảm 10%. Nhịp tim hầu như ít tăng.
Trên các bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, tác động trên huyết động của
thuốc cũng không ảnh hưởng trầm trọng. Trên những bệnh nhân ASA III, sử
dụng etomidate liều 0,3mg/kg, thay đổi huyết động rất ít. Etomidate không có
tác dụng phòng ngừa sự thay đổi của mạch huyết áp (M tăng, huyết áp tăng)
trong thủ thuật đặt NKQ.
18
Etomidate gây tăng lưu lượng máu vành 19%, không làm tăng tiêu thụ
lactat và glucose của cơ tim, ức chế cơ tim yếu và thay đổi không nhiều tiêu
thụ oxi cơ tim. Vì vậy etomidate được phối hợp với fentanyl trong khởi mê
bệnh nhân có bệnh mạch vành.
Trên người THA, phối hợp etomidate và fentanyl chỉ ngăn ngừa phần
nào việc tăng huyết áp khi đặt NKQ, nhưng không có tụt huyết áp trong giai
đoạn khởi mê. Trên người có bệnh van tim, các thông số thu được sau tiêm
etomidate hoặc etomidate+fentanyl giảm nhẹ: huyết áp động mạch giảm 20%,
chỉ số tim giảm 10%, và sức cản ngoại vi giảm 14%, vì giảm làm việc thất
trái, cho nên tim chịu đựng được.
etomidate với cytocrom P450.
Thời gian ức chế men 4-6 giờ sau liều khởi mê etomidate. Biểu hiện
bằng hiện tượng nhiễm trùng máu hoặc chảy máu. Tốt hơn cả là không sử
dụng truyền thuốc kéo dài bởi các nghiên cứu cho thấy sử dụng etomidate kéo
dài ở hồi sức làm tăng tỷ lệ chết ở bệnh nhân.
Các tác dụng khác
Thuốc không có hậu quả đặc biệt trên bệnh nhân có tiền sử dị ứng.
Thuốc làm giảm trương lực cơ nhai, tụt lưỡi, giảm áp lực nhãn cầu giống
thiopental và propofol.
Trên người khỏe mạnh các men SGOT, SGPT, phostphatase acid không
tăng. Không có sự thay đổi về áp lực dạ dày, không thay đổi dịch tiết dạ dày,
không thay đổi sự tưới máu của thận, co bóp cơ tử cung và lưu lượng máu tử cung.
Một số bất lợi khác của etomidate
Thuốc gây kích thích hưng phấn, có các cử động bất thường khi khởi mê.
Kích thích co cơ có thể xảy ra ngay theo với việc tiêm thuốc đường tĩnh mạch.
Trên bệnh nhân có tiền mê, kích thích hưng phấn giảm. Các triệu chứng này cũng có
thể gặp ở giai đoạn hồi tỉnh. Bệnh nhân có thể vật vã, kích thích khi tỉnh. Buồn nôn
và nôn gặp khi tỉnh 20-30%, tăng lên khi phối hợp với thuốc họ morphin khi tiền mê.
Etomidate gây đau khi tiêm trên 30-80% các trường hợp, sự đau này có thể
20
chấp nhận được. Thường đau dọc mu bàn tay (44%) và trước cánh tay (8%). Nguyên
nhân có lẽ do co cơ. Để đề phòng người ta chọn tĩnh mạch lớn ở tay, tiêm liều nhỏ
morphin trước, hoặc tiền mê bằng morphin, hoặc có thể tiêm lidocain 20-40 mg trước
khi tiêm etomidate.
Viêm tĩnh mạch huyết khối ở nơi tiêm quan sát được ở 10-20% trường hợp.
Người ta cho rằng nguyên nhân do dung môi thuốc (progylene glycol).
1.2.2.4. Sử dụng lâm sàng
Chỉ định
- Sử dụng trong các phẫu thuật ngắn, gây mê cho bệnh nhân ngoại trú,
nội soi với tai mũi họng (do tác dụng không làm co thắt khí phế quản)
1.2.3. Fentanyl
Là một trong các dẫn xuất của họ morphin, có tác dụng giảm đau trung
ương, được sử dụng nhiều trong gây mê hồi sức.
Khi tiêm tĩnh mạch thuốc có tác dụng giảm đau sau 30 giây, tác dụng tối
đa sau 3 phút và kéo dài 20-30 phút ở liều nhẹ và duy nhất. Thuốc có tác dụng
giảm đau mạnh hơn morphin 50 đến 100 lần.
Fentanyl có tác dụng rất kín đáo lên huyết động ngay cả khi dùng liều
cao (75µg/kg). Thuốc không làm mất sự ổn định về trương lực thành mạch
nên không gây tụt huyết áp lúc khởi mê.
Fentanyl gây nhịp chậm xoang nhất là lúc khởi mê. Điều trị bằng Atropin
thì hết. Fentanyl làm giảm nhẹ lưu lượng vành và tiêu thụ oxy cơ tim.
22
Fentanyl gây ức chế hô hấp ở liều điều trị do ức chế trung tâm hô hấp,
làm giảm tần số thở, giảm thể tích khí lưu thông khi dùng liều cao.
Liều lượng:
Khởi mê: 5-7µg/kg tùy thể trạng bệnh nhân. Tiêm trước khi đặt NKQ 2-3
phút. Duy trì mê: 1,2-2µg/kg nhắc lại mỗi 30 phút.
Dùng giảm đau trong tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng: fentanyl có thể
kết hợp với thuốc tê với liều 1,2-2µg/kg.
Giảm đau sau mổ, trong phòng hồi sức: 1-2µg/kg tiêm bắp, tĩnh mạch,
hoặc sử dụng PCA để điều trị giảm đau.
1.2.4. Atracurium (Tracrium)
1.2.4.1. Tính chất lý hóa [17]
Atracurium là một thuốc giãn cơ không khử cực có công thức hóa học
là C65H82N2O18S2.
Atracurium tiêm tĩnh mạch có pH khoảng 3,25-3,65, mỗi ml chứa
10mg. Atracurium tự hủy với tốc độ chậm, khoảng 6% một năm, ở nhiệt độ
dưới 5
o
C. Ở nhiệt độ 25
Sự hồi phục thần kinh cơ có thể được tăng cường khi sử dụng thuốc
kháng cholinesterase như neostigmine, edrophonium, hoặc pyridostigmine,
kết hợp với một thuốc kháng cholinergic như atropine hay glycopyrrolate.
Dưới gây mê cân bằng, sự tăng cường hồi phục thần kinh cơ có thể bắt đầu sau
khi một liều atracurium 0,4-0,5mg/kg khoảng 20-35ph, hoặc khoảng 10-30ph
sau một liều duy trì 0,08-0,1mg/kg, khi thần kinh cơ đã bắt đầu phục hồi. Sự
phục hồi hoàn toàn thường đạt được sau khi tiêm thuốc giải giãn cơ 8-10ph.
24
Khi sử dụng liều 0,3-0,6mg/kg, thời gian bán thải là khoảng 20 phút.
Không bị ảnh hưởng bởi chức năng gan, thận. Atracurium bị bất hoạt trong
huyết tương thông qua hai con đường: thủy phân este dưới tác dụng của
esterase không đặc hiệu; và đào thải Hofmann, một quá trình hóa học không
enzym xảy ra ở pH sinh lý. Một lượng nhỏ thuốc qua được nhau thai.
Ở bệnh nhân cao tuổi độ thanh thải huyết tương giảm nhẹ so với các
bệnh nhân trẻ tuổi. Sự khác biệt về thời gian hồi phục giãn cơ sau tiêm
atracurium giữa người già và người trẻ không có ý nghĩa.
Atracurium gây tiết histamine ít hơn d-tubocurarine hay metocurine.
Histamine tiết ít và huyết động ít thay đổi khi dùng liều 0,5mg/kg. Dùng liều
0,6mg/kg gây tiết histamine mức độ trung bình và có thể có giảm huyết áp.
Các triệu chứng nhìn chung là nhẹ và dễ xử lý, tuy nhiên vẫn phải cân nhắc
trong trường hợp bệnh nhân nhạy cảm.
1.2.4.3. Chỉ định và chống chỉ định [17]
Atracurium được chỉ định như là một thuốc hỗ trợ cho gây mê toàn
thân, để tạo điều kiện đặt nội khí quản và cung cấp giãn cơ trong quá trình
phẫu thuật hoặc thở máy trong hồi sức.
Chống chỉ định Atracurium ở những bệnh nhân cótiền sử dị ứng hay
mẫn cảm với benzyl alcohol.
1.2.4.4. Liều lượng [17]
Người lớn: Liều atracurium bolus tĩnh mạch khởi đầu: 0,4 đến 0,5mg/kg
(1,7 đến 2,2 lần ED95). Với liều lượng này, sau 2 đến 2,5 phút sẽ đạt điều