Trang 1
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
GIỚI THIỆU 3
MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
I.1Mục êu nghiên cứu 5
2.2 Phạm vi nghiên cứu 5
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
I.2Thu thập dữ liệu 7
3.2 Xử lý dữ liệu và phân :ch không gian 7
KẾT QUẢ 9
4.1 Đánh giá của thay đổi của môi trường từ năm 1985 đến năm 2000 9
4.2 Tần suất của sự cố tràn dầu từ năm 1976 đến năm 1996 10
4.3 Nhân khẩu học thay đổi 12
4.4 Các yếu tố chịu trách nhiệm cho thay đổi môi trường 13
MỘT SỐ THẢO LUẬN 15
5.1 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và vốn chủ sở hữu 16
5.2 Tiến hành đánh giá định kỳ tác động môi trường (EIA) 16
5.3 Chương trình :ch hợp quản lý vùng ven biển (ICZM) 17
5.4 Thiết kế hệ thống thông n môi trường khu vực 17
KẾT LUẬN 19
NHẬN XÉT BÁO CÁO 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 2
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 3
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
GIỚI THIỆU
Trong vài thập kỷ qua, khu vực đồng bằng Niger đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng, đem lại những lợi ích to lớn cho các tiểu bang lân cận cũng như những
đóng góp đối với quốc gia Nigeria. Từ khi các mỏ dầu được phát hiện với số lượng lớn
trong vùng đồng bằng này vào năm 1956, nhà nước Nigeria đã thu lợi nhuận khổng lồ từ
các tài sản dầu mỏ của khu vực. Kể từ đó, khu vực này đã phát triển trở thành nguồn thu
chính cho đất nước. Bắt đầu từ năm 1975 để dầu mới, dầu từ khu vực đồng bằng Niger
khai thác trung bình chiếm hơn 90% xuất khẩu của Nigeria, chiếm khoảng 80% doanh
thu của chính phủ vào tháng 12 năm 1981. Trong thế kỷ mới, đóng góp tổng thể của
ngành dầu khí cho nền kinh tế quốc gia cũng tăng từ 84% vào năm 2000 lên 95% vào
năm 2002 và khoảng 96,7% vào năm 2003. Mặc dù hoạt động sản xuất dầu tại đồng bằng
Niger đã tạo ra cảnh quan kinh tế đáng kể cho đất nước với một đóng góp to lớn ngoại
hối thu nhập, tuy nhiên đã gây ra những mặt tiêu cực. Thăm dò dầu khí đã gây ra tác
động xấu đến môi trường ở đồng bằng này, sự tích lũy không ngừng chất ô nhiễm qua
các năm do sự giám sát hạn chế và thiếu đánh giá. Chẳng hạn, ngành công nghiệp dầu khí
thực hiện thăm dò dầu mỏ trong hơn bốn thập kỷ với các thủ tục đánh giá tác động môi
trường không thích hợp. Trong những trường hợp này, lợi ích của việc tìm kiếm thăm dò
và khai thác dầu khí trong khu vực đã không tạo ra một hiệu ứng số nhân tích cực cho các
cư dân của khu vực này. Đồng tình với khẳng định này, báo cáo của Chương trình Môi
trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã phát biểu rằng: "chi phí dài hạn cho việc không có
hành động gì để ngăn chặn suy thoái môi trường đã được ước tính là khoảng $ 5,1 tỷ
USD mỗi năm, chiếm hơn 15% sản phẩm quốc nội GDP của đất nước.
Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (USDOE) cũng nghiên cứu rằng: kể từ khi bắt đầu hoạt
động dầu khí, Đồng bằng sông Niger đã bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng liên quan
đến khí và dầu rò rỉ vẫn còn tràn lan trong khu vực. Theo Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, khu
vực này đã trải qua 4.000 sự cố tràn dầu từ năm 1960. Một trong những tác động đáng
chú ý nhất của các sự cố tràn dầu và các hoạt động sản xuất là sự mất mát rừng ngập
trong các tài liệu kiểm tra đánh giá rủi ro môi trường, đúng thời điểm cần thiết phải nâng
cao hiểu biết, giám sát về các vấn đề môi trường với sản xuất dầu và khí đốt cho cộng
đồng nhưng không có công nghệ không gian địa lý. Một số các nghiên cứu hàng đầu về
đồng bằng sông Niger trong những nghiên cứu này bao gồm một báo cáo bởi Onkwuka
nhằm xác định tỷ lệ mà tại đó, hoạt động khai thác dầu thô gây thiệt hại đến môi trường
sống động vật hoang dã và sinh vật biển do độc tính của sản xuất dầu. Đánh giá sự hiện
diện của hydrocacbon thơm đa vòng tại một khu định cư đánh bắt cá trong khu vực đồng
bằng sông, Coker tìm thấy tất cả các hóa chất có mặt ở nồng độ đáng kể. Đánh giá độc
tính sinh thái của polycyclic aromatic hydrocarbons trên các trầm tích bị ô nhiễm thực
hiện bởi Brack cho thấy mẫu lấy từ nhà máy lọc Warri ở đồng bằng Niger đạt mức cực kỳ
độc hại. Trong khi trong tất cả các nghiên cứu này, các tác giả đã xác định được mối liên
kết từ các thiết bị đầu cuối thải dầu, là một yếu tố góp phần vào sự suy giảm sinh thái, đã
không có sử dụng công nghệ không gian như một công cụ đánh giá.
Mặc dù đã có những nghiên cứu trước đây nhưng đã không có bất kỳ nỗ lực lớn
nào để thực hiện một chương trình viễn thám và GIS đánh giá dựa trên những thay đổi
ngày càng tăng của môi trường bên trong vùng ven biển.Theo đó, vấn đề hiện nay ở đồng
bằng nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải thiết kế các phương pháp tiếp cận mới để quản lý
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 5
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
từ xa ven biển, quản lý hiệu quả các nguồn lực trong môi trường nhiệt đới nhạy cảm, duy
trì sự cân bằng giữa bảo tồn nguồn tài nguyên ven biển trong tình hình phát triển kinh tế
nhanh chóng. GIS như một công cụ được sử dụng bởi địa lý, các nhà khảo cổ, các nhà địa
chất và các nhà khoa học khác trong các ngành khoa học tự nhiên và xã hội, cung cấp cơ
hội cho các thao tác, lưu trữ và lập bản đồ dữ liệu với một hệ tham chiếu không gian.
Việc sử dụng ảnh vệ tinh viễn thámvà mô hình GIS có thể thu được sự phân tích về tình
hình phân bố sử dụng đất, các thông tin độ dốc bề mặt ở khu vực đồng bằng sông Niger.
Dự án này sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống trong các nghiên cứu trước bằng cách khai
thác các ứng dụng của GIS và viễn thám trong môi trường vùng nhiệt đới ven biển với sự
Cameroon, phía Nam giáp Đại Tây Dương và phía Tây giáp Cộng hòa Benin. Khu vực
nghiên cứu nằm dọc theo phía đông của đồng bằng sông Niger (Hình 1). Khu vực này
nằm ở vĩ độ 04
o
40’00" N và kinh độ 07
o
07’00" E. Khu vực này có rất nhiều sông và
kênh rạch. Khu vực đồng bằng Niger nằm trên một diện tích khoảng 112.110 km
2
, chiềm
khoảng 12% tổng diện tích bề mặt của Nigeria. Khu vực nằm dọc theo đường bờ biển dài
560km, chiếm khoảng hai phần ba toàn bộ bờ biển của Nigeria . Tại thời điểm điều tra
dân số năm 1991, tổng dân số của khu vực đứng ở mức khoảng 20 triệu USD (chiếm
23% dân số Nigeria). Ước tính tại thời điểm hiện tại, tổng dân số của khu vực đạt 27 triệu
năm 2005.
Bảng 1: Dự báo dân số cho đồng bằng sông Niger
Đồng bằng sông Niger đại diện cho một khu vực duy nhất sở hữu vùng đất ngập
nước lớn thứ ba của thế giới với mức độ đa dạng sinh học vô cùng quan trọng. Khu vực
có đa dạng
khảm các loại sinh thái tạo thành năm vùng sinh thái đặc thù khác nhau, từ hàng rào đảo
rừng và thảm thực vật ven biển đến môi trường sống trên núi. Khu sinh thái đầu tiên có
các tính năng của một khu rừng ngập mặn và thảm thực vật ven biển với một chuỗi các
hòn đảo cát thấp, đóng vai trò rào cản bảo vệ bờ biển của đồng bằng sông Niger, giữa các
cửa sông Benin và Imo. Khu sinh thái thứ hai đặc trưng của vùng đầm lầy nước ngọt bao
gồm khoảng 17.000 km
2
. Loại thứ ba chủ yếu là các khu rừng đất thấp mưa trải dài trên
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 7
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
Hình ảnh của Landsat Thematic Mapper (TM) và Enhanced Thematic Mapper
Plus (ETM +) ngày 4 tháng 5 năm 1985 và 12 tháng 6 năm 2000 đã thu được trong
nghiên cứu này. Dữ liệu vệ tinh về TM Landsat ETM+ đã được xử lý bằng cách sử dụng
phần mềm xử lý hình ảnh ERDAS IMAGINE 8,7.
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 8
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
Hình 1: Khu vực nghiên cứu
Các hình ảnh được nhập vào ERDAS bằng cách sử dụng ERDAS theo định dạng
GEOTIFF. Từ những hình ảnh riêng lẻ, chúng được xếp chồng lên nhau bằng cách sử
dụng mô – đun lớp ERDAS để tạo thành một cảnh nổi. Những hình ảnh năm 1985 đã
được cùng chồng lắp với hình ảnh năm 2000 và sau đó những liên kết địa lý cho phép tập
hợp cả hai hình ảnh của khu vực nghiên cứu. Các hình ảnh được sử dụng kỹ thuật cân
bằng biểu đồ. Các hình ảnh được phân loại bằng cách sử dụng một kỹ thuật phân loại để
xác định các tính năng che phủ đất trong khu vực nghiên cứu.Các công việc còn lại liên
quan đến việc phân tích không gian và đầu ra bao gồm thời gian nghiên cứu, sử dụng
ArcView GIS. Các đơn vị không gian của phân tích bao gồm các quốc gia nằm trong khu
vực đồng bằng sông. Đầu ra cho các khu vực đã được lập bản đồ và so sánh theo thời
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 9
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
gian. Quá trình này đã giúp cho thấy sự phát triển không gian của sự thay đổi môi trường
ven biển ở đồng bằng sông Niger cũng như các thay đổi trong các biến khác.
KẾT QUẢ
Phần này trình bày các kết quả của phân tích dữ liệu bằng cách cung cấp một tổng
hợp ngắn gọn về các số liệu thống kê mô tả và phân tích không gian địa lý (GIS và phân
tích cảm biến từ xa) đánh giá. Sau đó, nó sẽ làm nổi bật các yếu tố liên quan với sự thay
đổi môi trường trong khu vực nghiên cứu.
riêng biệt hàng năm. Thống kê của chính phủ cho thấy giữa năm 1976 và 1996 có 4835
sự cố dẫn đến rò rỉ ít nhất là 2.446.322 thùng, trong đó ước tính khoảng 1.896.930 thùng
đã được thải ra môi trường. Vụ tràn dầu lớn nhất của Nigeria được ghi nhận vào năm
1980.
Bảng 3: Một số ghi nhận trường hợp bị đổ dầu trên vùng đồng bằng sông từ 1979-1980
Thảm họa này dẫn đến việc xả ít nhất 200.000 thùng dầu vào Đại Tây Dương từ cơ sở
Texaco và tiêu hủy 340 ha rừng ngập mặn. Lịch sử sự cố tràn dầu trong khu vực được
hiển thị trong Bảng 3. Từ các dữ liệu, 5 vụ tràn dầu trong tháng 01 năm 1980 dẫn đến thất
thoát 400.000 thùng ra môi trường. Những vụ tràn dầu khác bao gồm các vụ rò rỉ dầu
Oyakama tháng 5 năm 1980 (30.000 thùng); Oshiko tràn dầu năm 1979 (10.000 thùng)
cũng tại Forcados vào ngày 6 tháng 7 năm 1979 (570.000 thùng).
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 12
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
Hình 4: Hình ảnh về các sự cố tràn dầu trong vùng lựa chọn của khu vực.
4.3 Nhân khẩu học thay đổi
Thập kỷ qua đã chứng kiến dòng người đến khu vực này tìm kiếm công ăn việc làm trong
ngành dầu khí và các cơ hội kinh tế khác gây ra sự suy thoái của hầu hết tài nguyên môi
trường. Như thể hiện trong hình 5, hầu hết các cụm khu định cư xung quanh khu vực là
chiếm tỷ lệ cao nhất trong suy thoái môi trường. Ví dụ, khu vực Port Harcourt (đại diện
với dấu chấm màu đỏ) có chứa kênh sinh thái nhạy cảm đã chịu sự ô nhiễm nặng nề do
áp lực từ các hoạt động của con người. Trong quá trình điều tra dân số năm 1991, tổng
dân số cho khu vực đồng bằng sông Niger đã được ước tính khoảng 20 triệu (23% dân số
cả nước). Dự báo nguồn tin chính phủ dựa trên tốc độ tăng trưởng hàng năm trung bình
2,0% và 2,9%, đưa dân số năm 2005 cho khu vực ở mức gần 27 triệu. Tuy nhiên, kế
hoạch tổng thể của một cuộc điều tra mẫu cơ bản được thực hiện vào năm 2003, đặt tỷ lệ
tăng dân số trung bình hàng năm trong hầu hết các cộng đồng bằng cách sử dụng khả
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 13
cơ sở hạ tầng. Xem xét các nỗ lực trong quy hoạch các khu bảo tồn đồng bằng sông Niger
là hình ảnh thu nhỏ của một tương lai ảm đạm đang chờ môi trường sống đa dạng của nó
và các loà, có quá ít các quy định về đa dạng sinh học hoặc không được thực thi đúng
mức. Các tổ chức quản lý thiếu kinh phí, đội ngũ nhân viên chưa được đào tạo, chuyên
môn kỹ thuật, thông tin đầy đủ, khả năng phân tích, và điều kiện tiên quyết khác để thực
hiện các chính sách và các chương trình toàn diện. Hơn nữa, sự chồng chéo nhiệm vụ và
thẩm quyền giữa Cơ quan Bảo vệ Môi trường (FEPA Liên bang) và Bộ Tài nguyên Dầu
khí (DPR) thường xuyên đối phó với cạnh tranh sản xuất.
c) Chính sách chính phủ
Khuôn khổ cho các hoạt động dầu mỏ ở Nigeria được quy định trong Luật Dầu khí
và các pháp luật khác có liên quan. Điều này bao gồm dầu trong Đạo Luật Waters năm
1968, đường ống dẫn dầu Đạo luật năm 1956 cũng như Luật Gas Associated năm 1979,
và dầu khí (khoan và sản xuất) Quy chế năm 1969, được ban hành theo Luật Dầu khí năm
1988. Từ năm 1988, các quy định liên bang thông qua Cơ quan Bảo vệ Môi trường
(FEPA) ban hành, chi phối các hoạt động môi trường trong lĩnh vực dầu mỏ và các ngành
công nghiệp khác. Sở Tài nguyên Dầu khí (DPR) cũng đã xây dựng nhiều hướng dẫn về
môi trường và các tiêu chuẩn cho ngành công nghiệp dầu khí ở Nigeria. Đến một mức độ
lớn, nội dung của các tiêu chuẩn này quy định phản ánh những người áp dụng đối với
lĩnh vực dầu ở châu Âu và Hoa Kỳ, nhưng đáng ngạc nhiên công ty vẫn tìm cách để làm
trái quy định.
Theo pháp luật hiện hành, các công ty dầu được quy định bởi luật liên bang sử
dụng các biện pháp phòng ngừa bao gồm cả việc cung cấp nhà nước của các công nghệ
để ngăn chặn ô nhiễm môi trường, và hành động một cách thích hợp trong việc xóa bỏ
các vấn đề phát sinh từ dầu khí (khoan và sản xuất). Một phần của nghĩa vụ pháp lý các
lĩnh vực dầu mỏ dưới Đánh giá Tác động Môi trường (EIA) Đạo luật năm 1992 yêu cầu
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 15
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
một đánh giá tác động môi trường về vị trí của một đề xuất dự án mà nó có khả năng ảnh
ở miền Nam Nigeria. Sự quan tâm đặc biệt là tốc độ tăng trưởng ở đồng bằng sông Niger
và số lượng lớn của các khu định cư của con người trong khu vực Port Harcourt Rivers.
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 16
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
Điều này không chỉ đe dọa năng lực cân bằng của một hệ sinh thái vốn đã mong manh
nay lại gặp phải những thách thức to lớn cho cả hai môi trường và quản lý tài nguyên
thiên nhiên và các nhà hoạch định chính sách trong khu vực. Do đó, việc sử dụng thực tế
một phương pháp tiếp cận quy mô liên quan đến dữ liệu chính và điều tra dân số, GIS và
viễn thám trong theo dõi sự thay đổi môi trường ven biển về quản lý tài nguyên ven biển
ở đồng bằng sông Niger của Nigeria. Xem xét những nỗ lực trong quá khứ để đánh giá hệ
sinh thái bằng công nghệ GIS, được sử dụng trong bài báo này đã hoàn thành một mục
đích hữu ích cho các thao tác, lưu trữ và lập bản đồ dữ liệu ven biển với một tham chiếu
không gian. Nó cũng là một công cụ hiệu quả để quản lý tài nguyên ven biển. Tích hợp
phân tích dữ liệu bằng cách sử dụng viễn thám hình ảnh vệ tinh và mô hình GIS, tạo điều
kiện cho việc phân tích sự phân bố không gian của sự thay đổi môi trường liên quan đến
sử dụng đất, phân loại đất, rừng và thủy văn và các vấn đề nhân khẩu học. Công nghệ
thông tin như vậy được đánh giá cao không thể thiếu đối với các nhà sản xuất quyết định
ở Nigeria khi họ phải vật lộn với tương lai của hoạt động phát triển cùng hệ sinh thái
đồng bằng sông trong thế kỷ 21.
Khuyến nghị chính sách: Bốn khuyến nghị cho các chiến lược bảo tồn và bảo vệ môi
trường được liệt kê dưới đây.
5.1 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và vốn chủ sở hữu.
Loạt các tranh cãi xung quanh sự suy giảm sinh thái của đồng bằng sông Niger đã được
xem xét do một số yếu tố. Những sai sót về chính sách, không hành động theo hướng an
toàn môi trường của các cộng đồng và bất bình đẳng, bảo vệ môi trường ven biển sẽ yêu
cầu đầu vào tích cực của cộng đồng và phân phối công bằng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên doanh thu. Như vậy, môi trường bảo tồn ven biển của đồng bằng sông Niger đòi
hỏi sự hiểu biết về nhu cầu kinh tế - xã hội của các cộng đồng địa phương, những người
hiện tại ở đồng bằng sông Niger.
5.3 Chương trình tích hợp quản lý vùng ven biển (ICZM)
Cách tiếp cận quản lý tài nguyên ven biển tích hợp là cần thiết để giải quyết một
loạt các vấn đề môi trường và xã hội phải đối mặt với đồng bằng sông Niger một cách
bền vững. Tích hợp quản lý vùng ven biển bao hàm lập kế hoạch toàn diện và quá trình
phối hợp có khả năng bảo đảm rằng lợi ích to lớn về kinh tế và xã hội từ các nguồn tài
nguyên ở đồng bằng sông Niger không tiêu tan bởi các chính sách gây tàn phá môi
trường. ICZM đại diện cho một cách tiếp cận sinh thái và xã hội để quản lý môi trường
nhạy cảm với một phân kỳ lớn từ các mô hình lập kế hoạch truyền thống kỹ hợp lý đã
được chứng minh là không hiệu quả trong việc đối phó với sự phức tạp liên quan với các
vấn đề ven biển. Để thực hiện mục đích của mình ICZM xây dựng từ một vài hành động
ở cấp quốc gia và khu vực như là một phần của một kế hoạch hành động để khắc phục
suy thoái môi trường trong quá khứ và sửa đổi hiện tại các hoạt động có hại cho môi
trường. Chúng bao gồm việc thành lập một khuôn khổ chính sách phù hợp để hỗ trợ quản
lý tài nguyên ven biển và bảo tồn môi trường. Điều này có thể đạt được thông qua một
khuôn khổ quản lý vùng ven biển trong kế hoạch của vùng đồng bằng Niger.
5.4 Thiết kế hệ thống thông tin môi trường khu vực
Cố gắng để đánh giá tình trạng môi trường và quản lý môi trường phát triển kinh
tế dọc theo hệ sinh thái đồng bằng sông Niger thường sai sót do thiếu việc truy cập vào
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 18
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
một hệ thống thông tin môi trường khu vực. Các thiết kế của một hệ thống thông tin môi
trường trong khu vực hệ sinh thái của vùng đồng bằng sông Niger sẽ phục vụ như một
công cụ hỗ trợ quyết định cho các nhà hoạch định chính sách, lĩnh vực dầu mỏ và nghiên
cứu bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng thu thập dữ liệu của người sử dụng và
truy cập vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật có liên quan đến quản lý vùng ven biển. Kỳ vọng là
một hệ thống thông tin như vậy sẽ giúp hiển thị tương tác giữa các hệ sinh thái mong
manh của khu vực và các hoạt động của con người và sau đó làm sắc nét các cơ chế phản
sử dụng bởi các nhà khoa học cho việc thao tác, lưu trữ và lập bản đồ dữ liệu với hệ tham
chiếu không gian là một công cụ hiệu quả cho quản lý tài nguyên. Sử dụng ảnh viễn thám
vệ tinh và mô hình hóa GIS, nhanh chóng phân tích về sự phân bố không gian của sự thay
đổi môi trường liên quan đến sử dụng đất, phân loại đất, rừng và thủy văn
và các vấn đề nhân khẩu học đồng bằng sông Niger. Cuối cùng, đó là niềm tin của chúng
tôi thực hiện thành công của một số chiến lược có thể dẫn đến hiệu quả
quản lý môi trường ven biển trong khu vực đồng bằng sông Niger. Hơn nữa, báo cáo
phục vụ như là một công cụ cần thiết cho việc thiết kế các hệ thống hỗ trợ quyết định
không gian địa lý cho các nhà quản lý tài nguyên ven biển trong việc đánh giá tác động
môi trường phát triển ở vùng nhiệt đới. Điều này là không thể thiếu để đồng bằng sông
Niger phục hồi từ nhiều thập kỷ suy thoái môi trường gây ra cho khu vực khi chúng ta
tiến sâu hơn vào những thập kỷ mở cửa của thế kỷ 21.
Đoàn Thị Ánh Hồng – MSHV: 11260548
Trang 20
Bài tiểu luận “Ứng dụng GIS và viễn thám trong đánh giá những thay đổi môi trường ven biển
vùng đồng bằng Niger – miền Nam Nigeria”
NHẬN XÉT BÁO CÁO
Báo cáo “GIS và ứng dụng viễn thám trong đánh giá những thay đổi về môi
trường ven biển vùng đồng bằng Niger miền Nam Nigeria” đã cung cấp một nguồn dữ
liệu quan trọng cho các nhà quản lý trong việc quản lý từ xa vùng đồng bằng này.
Đối với phương pháp thu thập dữ liệu, báo cáo đã tập hợp được các thông tin cần
thiết về kinh tế - xã hội và môi trường khu vực, từ những tài liệu sơ cấp đến thứ cấp từ
chính phủ trong từng thời kỳ khác nhau, từ năm 1976, 1985, 1996 và đến năm 2000. Các
dữ liệu cũng được cụ thể hóa bằng các dữ liệu không gian từ hãng hàng không quốc gia
Hoa Kỳ và NASA, góp phần tạo nên độ chính xác trong ảnh viễn thám.
Bằng phương tiện GIS và viễn thám, báo cáo đã chỉ ra sự suy giảm đất ngập nước,
rừng ngập mặn, và sự gia tăng trong việc định cư của con người, rừng hỗn hợp, đất canh
tác và thâm canh nông nghiệp cũng như các sự cố tràn dầu, sự tăng trưởng dân số nhanh
chóng trong khu vực thông qua việc chồng lắp các ảnh viễn thám theo không gian và thời
gian, tạo nên những hình ảnh nổi giúp dễ dàng nhận diện các đối tượng cần quan tâm.