nghiên cứu ảnh hưởng của enzyme đến khả năng tiêu hóa, sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức của lợn con sau khi cai sữa - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐỖ VĂN CHIẾN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ENZYME ĐẾN KHẢ
NĂNG TIÊU HÓA, SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG THỨC CỦA LỢN CON SAU CAI SỮA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp đỡ quý báu
đó.
Thái nguyên, tháng 4 năm 2010
Tác giả

Đỗ Văn Chiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2010
Tác giả

Đỗ Văn Chiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Mục lục
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu của đề tài
2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2
3.1. Ý nghĩa khoa học
2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Cơ sở khoa học
3
1.1.1. Hoạt động tiêu hoá của lợn giai đoạn sau cai sữa
3
1.1.2. Sinh trưởng của lợn cai sữa
10
1.1.3. Thức ăn và dinh dưỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa


2.2. Nội dung nghiên cứu:
46
2.3 Phương pháp nghiên cứu
46
2.3.1 Phương pháp tiến hành
46
2.3.2. Phương pháp xác định thành phần hoá học của thức ăn và trong
phân lợn
55
2.3.3. Phương pháp sử lý số liệu
56
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
57
3.1. Kết quả thí nghiệm 1
57
3.1.1. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá nitơ
57
3.1.2. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con thí
nghiệm.
58
3.2. Kết quả thí nghiệm 2
60
3.2.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm
60
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thí nghiệm
62
3.2.3. Lượng thức ăn tiêu thụ/con/ngày
65
3.2.4. Tiêu tốn thức ăn / 1 kg tăng khối lượng lợn (kg)

:
Cộng sự
DCP
:
Dicalcium phosphat
ĐC
:
Đối chứng
ĐVT
:
Đơn vị tính
g
:
Gram
Kcal
:
Kilô calo
Kg
:
Kilôgam
KL
:
Khối lượng
KPCS
:
Khẩu phần cơ sở
KPTN
:
Khẩu phần thí nghiệm
MCP

:
Vật chất khô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thử mức tiêu hoá
47
Bảng 2.2. Thành phần thức ăn thí nghiệm 1
48
Bảng 2.3. Sơ đồ thí nghiệm 2
51
Bảng 2.4. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 2
52
Bảng 3.1. Tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần của lợn con sau cai sữa
57
Bảng 3.2. Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con sau cai sữa
59
Bảng 3.3. Sinh trưởng tích luỹ của lợn con thí nghiệm (kg/con)
60
Bảng 3.4. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày)
62
Bảng 3.5. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%)
64
Bảng 3.6. Lượng thức ăn tiêu thụ/con/ngày (gam)
65
Bảng 3.7. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ giữa thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nghiên cứu những chế phẩm sinh
học như kháng sinh, hormone sinh trưởng để bổ sung vào khẩu phần thức ăn của
lợn, nhằm tạo cho lợn có khả năng tăng trưởng nhanh, sức đề kháng với bệnh tật
cao và giảm được chi phí trong chăn nuôi. Tuy nhiên sau đó nhiều nhà nghiên cứu
đã cho thấy rằng: việc sử dụng kháng sinh gây ảnh hưởng đến chất lượng và mùi
vị của sản phẩm thịt lợn. Còn những sản phẩm thịt của lợn được nuôi bằng khẩu
phần có bổ sung hormone sinh trưởng đã để lại hậu quả không nhỏ cho con người
vật nuôi và môi trường sống. Tình hình đó thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu
ra những chế phẩm sinh học mới để bổ sung vào khẩu phần thức ăn cho lợn, nhằm
kích thích sinh trưởng, tăng cường sức đề kháng đồng thời tạo ra được những sản
phẩm thịt lợn chất lượng cao.
Hiện nay trên thế giới những chế phẩm sinh học có hiệu quả cao đã được
ứng dụng vào sản xuất chăn nuôi. Trong đó, công nghệ sản xuất enzyme đang có
vai trò đặc biệt quan trọng. Các enzyme thức ăn đang được nghiên cứu và ứng
dụng vào sản xuất chăn nuôi, nhằm tăng quá trình tiêu hoá, giảm chi phí thức ăn
và tăng khối lượng vật nuôi, đôi khi còn cải tạo một số chỉ tiêu sinh lí của cơ thể
động vật, tạo sự cân bằng sinh học hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá, làm giảm
tỷ lệ mắc các bệnh về đường tiêu hoá ở vật nuôi.
Ban đầu những thử nghiệm để sử dụng những enzyme trong những thức
ăn của lợn được dựa trên những sản phẩm được hình thành trong những ngành
công nghiệp sợi, giấy và thực phẩm. Hầu hết, những sản phẩm enzyme ban đầu
này đều không thích hợp đối với nền chất xơ và protein ở trong khẩu phần ăn của
lợn hoặc không thích hợp với môi trường trong đường ruột lợn. Những kết quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Áp dụng để xây dựng 1 công thức thức ăn cho lợn ngoại giai đoạn sau
cai sữa với giá thành rẻ, hiệu quả chăn nuôi cao.
- Khuyến cáo người chăn nuôi sử dụng enzyme trong chăn nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Hoạt động tiêu hoá của lợn giai đoạn sau cai sữa
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là làm thế nào để
lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh,
đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của
đàn con. Để đạt được mục đích trên, bên cạnh việc tạo cho lợn con điều kiện
chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ,
đặc biệt là đặc điểm của cơ quan tiêu hoá lợn con, để từ đó phối hợp được khẩu
phần thức ăn phù hợp.
1.1.1.1. Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá của lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 10 cho biết lợn là loài gia súc ăn tạp,
khả năng chịu đựng kham khổ cao, lợn có dạ dày trung gian, có thể sử dụng tốt
nhiều loại thức ăn nên nguồn thức ăn của lợn rất phong phú, từ thức ăn thô xanh

lượng thức ăn mà lượng nước bọt tiết ra nhiều hay ít. Thức ăn có phản ứng axit
yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng làm giảm hoặc ngừng tiết dịch.
Ngoài ra, lượng nước bọt còn thay đổi tuỳ theo số lần cho ăn, chất lượng
thức ăn. Nếu chỉ cho lợn ăn một loại thức ăn kéo dài thì sẽ làm tăng nhiệm vụ
của một tuyến, gây ức chế giảm tính thèm ăn của lợn. Ăn nhiều loại thức ăn khác
nhau thì cả hai tuyến hoạt động gây ức chế cho nên ăn nhiều chủng loại thức ăn,
đổi bữa lợn sẽ thèm ăn, tiết nước bọt liên tục và giúp tiêu hoá thức ăn tốt hơn.
* Tiêu hoá ở dạ dày:
Dạ dày lợn con là dạ dày trung gian, tuy phát triển rất nhanh về mặt cấu
tạo nhưng chức năng của nó chưa hoàn thiện.
Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng, cs (2008)[13] cho rằng lợn con trước
một tháng tuổi, dịch vị không có axit HCl tự do, lúc này axit tiết ra ít và nhanh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
chóng liên kết với dịch nhầy. Vì thiếu HCl tự do nên các vi sinh vật dễ có điều
kiện phát triển gây bệnh đường tiêu hoá, điển hình là bệnh phân trắng lợn con.
Trong tháng tuổi đầu dạ dày hầu như không tiêu hóa protein thực vật, sữa rời
khỏi dạ dày 1-1,3 giờ, sau 5-6 giây sữa đông vón lại và được tiêu hóa hoàn toàn.
* Tiêu hóa ở ruột
Dung tích ruột non lợn con lúc sơ sinh là 0,1 lít nhưng sau 20 ngày tuổi thì
đã tăng lên 7 lần so với lúc sơ sinh, 60 ngày tuổi thì gấp 50 lần, tháng thứ 3 là 6
lít, còn khi 12 tháng đạt 20 lít.
Dung tích ruột già lợn con sơ sinh khoảng 0,04 - 0,05 lít, lúc 20 ngày tuổi
thì đã là 0,1 lít, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít, tháng thứ 4 khoảng 7 lít, tháng thứ 7
khoảng 11- 12 lít.
Thức ăn từ dạ dày xuống ruột non chịu tác động phối hợp của các enzyme

"Hypoclohydric". Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn
con. Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt enzyme pepsinogen và enzyme này mới có
khả năng tiêu hoá.Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh
vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nẩy nở và phát triển gây ra các bệnh về
đường tiêu hoá ở lợn con.
Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm
hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào
lúc 5-7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14.
- Amylase và maltase: Hai enzyme này có trong nước bọt và trong dịch tụy
lợn con từ lúc mới đẻ, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do đó khả năng
tiêu hoá tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hoá được 50 % lượng tinh bột ăn
vào. Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém. Sau 3 tuần tuổi, amylase và
maltase mới có hoạt tính mạnh, nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt
hơn.
- Saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi saccarase hoạt tính còn thấp,
nếu cho lợn con ăn đường sucrose thì rất dễ bị ỉa chảy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
- Enzyme trypsin: Là enzyme tiêu hoá protein của thức ăn, ở thai lợn lúc 2
tháng tuổi, trong chất tiết đã có enzyme trypsin, thai càng lớn, họat tính của
enzyme trypsin càng cao. Khi lợn con mới đẻ ra, enzyme trypsin của dịch tuỵ là
rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của enzyme pepsin dạ dày.
- Enzyme catepsin: Là enzyme tiêu hoá protein trong sữa. Đối với lợn con
ở 3 tuần tuổi đầu, enzyme catepsin có hoạt tính mạnh, sau đó hoạt tính giảm
dần.
- Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa. Enzyme này có

spp. trong dạ dày và đường tiêu hóa phát triển mạnh. Vi khuẩn này sử dụng một
số đường lactose của sữa để sản sinh ra axit lactic làm giảm độ pH trong dạ dày,
sự tăng độ axit này sẽ làm cho quá trình tiêu hóa tốt hơn và ngăn cản sự phát
triển của các vi khuẩn khác, một vài loại vi khuẩn trong số đó bất lợi cho tiêu
hóa của lợn con.
Sau 1 tháng tuổi, quá trình tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng tiến hành
chủ yếu ở dạ dày, ruột non trong 1 ngày đêm phân giải 45% glucid, 50% protein,
20 - 25% đường. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật ở manh
tràng phân giải (Từ Quang Hiển, 2003) [4].
Như vậy, để tăng tỷ lệ tiêu hoá và làm giảm tiêu chảy ở lợn con cũng như
để phù hợp với khả năng tiêu hoá của lợn, thì trong sản xuất thức ăn cho lợn con
giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hoá
như: Bột sữa, đường lactose, thức ăn cần được rang chín và nghiền nhỏ đồng
thời bổ sung thêm một số axit vô cơ như: axit lactic,
1.1.1.3. Lợn cai sữa
Sau khi bú sữa đầu, hệ thống tiêu hoá còn phát triển trong thời gian bú
sữa. Nếu cai sữa càng chậm thì hệ tiêu hoá càng phát triển. Sau khi cai sữa, ruột
phát triển tốt thì lợn con sẽ chuyển hoá dễ dàng chất dinh dưỡng từ cám.
* Cai sữa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Cai sữa lúc 3 - 4 tuần tuổi thì gặp khó khăn sau đây:
-Thứ nhất: Lợn con bị chuyển thức ăn từ sữa sang cám, lợn sẽ giảm lượng
cám ăn vào. Lợn con mất một số thời gian để duy trì đà tăng trưởng (5 ngày).
- Thứ hai: Khi tiến hành cai sữa, ruột sẽ thay đổi chức năng hoàn toàn vì
nguồn cung cấp dinh dưỡng bị thay đổi đột ngột. Vì vây, cần xác định trước thời

Sau cai sữa, hình thái của ruột bị ảnh hưởng rất nhiều.Tỷ lệ độ sâu của khe
nhung mao và độ cao của nhung mao (V:C) sau khi cai sữa 24 tiếng trở nên rõ
ràng và 3 - 5 ngày càng trở nên khác biệt. Sự gia tăng của khe nhung mao và độ
sâu của nó không thể quan sát rõ cho đến khi cai sữa được 5 ngày. Sau thời gian
này, tỷ lệ V:C ổn định ở mức 1,5 - 2,0. Sau thời gian này, tỷ lệ V:C giảm xuống
do độ cao nhung mao giảm.
Độ sâu khe nhung mao sau cai sữa 6 ngày hầu như không thay đổi.Sau
thời gian này nó gia tăng rất nhanh, gấp 2 lần so với ngày đầu tiên (P<0.01). Qúa
trình phát triển độ sâu của khe nhung mao liên tục phát triển sau cai sữa, không
bị ảnh hưởng bởi ngày tuổi cai sữa (14, 21, 28, và 35).
Độ cao từ đáy khe nhung mao tới đỉnh nhung mao không bị biến đổi theo
lứa tuổi, nhưng sau cai sữa 5 ngày đoạn đường đường bị rút ngắn (P<0.1).
Độ cao từ đáy khe nhung mao tới đỉnh nhung mao sau khi cai sữa sẽ được
định hình, chủ yếu thông qua sự khéo dài của khe nhung mao. Lợn con cai sữa
lúc 21 ngày tuổi, chuyển sang ăn cám tập ăn không bị ảnh hưởng bởi độ cao của
nhung mao, độ sâu khe nhung mao, số lượng tế bào ruột.
1.1.2. Sinh trƣởng của lợn cai sữa
Lợn con sau khi cai sữa có lớn nhanh hay không phụ thuộc vào tiềm năng
tăng trọng có được phát huy. Tiềm năng này phụ thuộc vào các điều kiện khi lợn
con cai sữa như trọng lượng, dinh dưỡng, tỷ lệ tăng trưởng, sinh lý học, môi
trường nuôi, lượng cám ăn vào.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Khi cai sữa ngày tuổi khác nhau thì trọng lượng có thể chênh lệch 2 đến 3
lần.
Các quốc gia trên thế giới cho lợn con cai sữa vào khoảng 3 - 4 tuần tuổi

Tầm quan trọng của trọng lượng cai sữa là rất quan trọng thông qua việc
nghiên cứu hai vấn đề sau:
- Thứ nhất, trong thời gian bú sữa mẹ nếu lợn được áp dụng các biện pháp
thúc đẩy tăng trưởng thì trọng lượng cai sữa sẽ nặng hơn.
- Thứ hai, sau khi cai sữa trọng lượng lợn con lớn hơn sẽ phát huy được
khả năng tăng trưởng nhiếu hơn.
1.1.3. Thức ăn và dinh dƣỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
1.1.3.1. Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn lai thương phẩm giai đoạn sau cai sữa
Nhu cầu về dinh dưỡng đối với lợn con rất lớn, nó đóng vai trò quan trọng
cho quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, đặc biệt là lợn con. Nhu cầu các
chất dinh dưỡng tăng theo độ lớn của lợn.
* Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng lượng
trao đổi (ME, kcal/kg). Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng nhu cầu duy
trì của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng. Ở giai đoạn bú sữa, mức
năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp
được cho lợn con. Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ
năng lượng từ sữa mẹ. Từ tuần tuổi thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn mới đáp
ứng được nhu cầu ngày càng tăng của lợn con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21
ngày tuổi giảm dần. Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức
ăn cho lợn con khá cao. Theo Tiêu chuẩn Việt Nam, mật độ năng lượng trong 1
kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa cần 3200 kcal/kg
* Nhu cầu về protein và axit amin

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy

15
Lợn có một vài triệu chứng lâm sàng đặc trưng khi thiếu axit amin. Dấu
hiệu rõ ràng nhất là lượng thức ăn ăn vào giảm, thể hiện thức ăn thừa nhiều, lợn
chậm lớn, hiệu quả kinh tế thấp.
Lợn con cũng có thể chịu được lượng protein ăn vào cao, mà ít có biểu
hiện bệnh tật đáng kể, ngoại trừ đôi khi có thể bị ỉa chảy nhẹ. Tuy nhiên, khi cho
lợn ăn lượng protein cao (vượt quá 25% đối với nhu cầu của lợn) là lãng phí gây
ô nhiễm môi trường và kết quả là giảm tăng trọng và giảm hiệu quả sử dụng thức
ăn.
Trong khẩu phần thức ăn gồm chủ yếu là ngô và đậu tương, thường có
chứa một lượng axit amin nhất định, vượt quá nhu cầu cần thiết (như arginine,
leucine, phenylalanine + tyrosine) để đạt được sự sinh trưởng tối ưu, nhưng
lượng vượt này ít ảnh hưởng đến kết quả nuôi dưỡng của lợn. Ngược lại nếu
chúng ta bổ sung quá nhiều axit amin tinh thể như arginine, leucine, methionine
có thể làm giảm lượng thức ăn ăn vào và giảm tốc độ sinh trưởng.
Lợn ăn quá nhiều một lượng axit amin riêng lẻ có thể gây nhiều triệu
chứng xấu, như tính độc, tính đối kháng hay tính mất cân bằng tùy theo bản chất
của ảnh hưởng. Sự đối kháng thường xảy ra giữa các axit amin có quan hệ về
mặt cấu trúc. Ví dụ như: đối kháng lysine – arginine ở gia cầm, khi lượng lysine
trong khẩu phần vượt quá nhu cầu sẽ làm tăng nhu cầu về arginine.
Sự mất cân bằng axit amin cũng có thể xảy ra khi khẩu phần được bổ sung
thêm một hay nhiều axit amin không phải là axit amin tới hạn. Trong các trường
hợp đó, lượng thức ăn ăn vào đều giảm. Nếu chúng ta giảm lượng axit amin vượt
quá khỏi khẩu phần thì lợn sẽ nhanh chóng trở lại bình thường.
Hiện nay, xu hướng sử dụng khẩu phần ăn giảm mức protein tổng số có
bổ sung thêm các axit amin tổng hợp đang được nghiên cứu nhiều trên thế giới.
Để áp dụng vấn đề này, chúng ta cần phải hiểu biết rõ một số nguyên tắc cơ bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status