nghiên cứu chửa ở ống cổ tử cung tại bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chửa ngoài tử cung (CNTC) là một cấp cứu sản khoa không chỉ đe dọa
đến tính mạng bệnh nhân gây nguy cơ tử vong cao do mất máu mà còn ảnh
hưởng sâu sắc đến sức khỏe trong tương lai và hạnh phúc gia đình của người
phụ nữ. CNTC đang tăng cả trong và ngoài nước, đặc biệt là CNTC đang có
xu hướng “trẻ hoá” với hơn 60,0% bệnh nhân bị CNTC có tuổi dưới 30, trong
đó có rất nhiều người chưa có con, vì vậy CNTC không chỉ đơn thuần là một
vấn đề lớn về sức khỏe cho ngành y tế mà còn là một vấn đề quan trọng tại
cộng đồng cho xã hội kinh tế, sinh sản và chất lượng dân số [1].
Mặc dù đã được tăng cường về giáo dục, truyền thông và tư vấn về
nguyên nhân, các triệu chứng lâm sàng cũng như xét nghiệm để phát hiện
cũng như dự phòng để hạn chế sự tăng tần suất nhưng số lượng CNTC ngày
vẫn tăng một cách đáng báo động.
Theo Trung tâm phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, tần suất CNTC
tính theo thai nghén năm 1970 là 4,5/1.000 đã tăng lên 19,7/1.000 thai nghén
vào năm 1995. Do có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị vì vậy mặc dù tần
suất CNTC tăng, nhưng tỷ lệ tử vong do CNTC giảm rất đáng kể. Theo De
Cherney và Meyer, tần suất tử vong do CNTC đã từ 3,5/1.000 thai nghén đã
giảm xuống 0,4/1.000 thai nghén [2]. Berg và cộng sự đã đưa tỷ lệ tử vong mẹ
do CNTC chiếm 10% tử vong liên quan đến thai sản.
Nghiên cứu của Vương Tiến Hòa [3], chỉ trong 4 năm (1992-1995),
CNTC tại Bệnh viện Phụ sản (BVPS) Hải Phòng tăng 87%, BVPS Thanh
Hóa 156%, còn Viện Bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh (nay là BVPS Trung ương)
là 100%.
CNTC đang tăng và sẽ tăng rất nhanh trong những năm tới. Theo thống
kê của Phòng kế hoạch Tổng hợp của một số Bệnh viện phụ sản trong năm
1
2
2011 như sau: Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ trong năm 2011 là 3.559, Bệnh viện
Hùng Vương là 2.669, BVPSTW là 2.326 và BVPS Hà Nội là 2258.

Eo tử cung
Ổ bụng
Buồng trứng
Loa VTC
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa, cấu tạo giải phẫu và mô học CTC [6], [11], [12], [13],
[14], [15], [16], [17]
* Định nghĩa:
Chửa ngoài tử cung là trường hợp noãn sau khi được thụ tinh không
làm tổ và phát triển trong buồng tử cung mà phát triển bên ngoài buồng tử
cung. Noãn thường được thụ tinh ở 1/3 ngoài vòi tử cung, rồi di chuyển về
buồng tử cung. Nếu trứng không di chuyển hoặc di chuyển về hướng tử cung rồi
dừng lại giữa đường, hoặc bị đẩy ra ngoài vòi tử cung để làm tổ tại buồng trứng
hay trong ổ bụng hoặc ở cổ tử cung, sẽ gây ra chửa ngoài tử cung.
Như vậy bất kỳ một một hình thái nào mà phôi thai không nằm trong
buồng tử cung như chửa tại sẹo mổ tử cung ngay cả khi một phần túi thai nằm
trong buồng tử cung hoặc là phôi thai làm tổ ở ống CTC thì vẫn là CNTC. CNTC
có nhiều hình thái và vị trí làm tổ khác nhau, tuy nhiên chửa tại vòi tử cung chiếm
tỷ lệ cao nhất.
3
4
Chửa ở ống cổ tử cung là khối thai nằm trong ống cổ tử cung. Chẩn
đoán và điều trị chửa ở ống cổ tử cung đã tiến bộ rất nhiều trong 15 năm qua.
Trước năm 1990, chửa ở ống CTC chỉ được chẩn đoán khi nong CTC và nạo
phá thai bởi vì những triệu chứng rất giống như sảy thai vì vậy khi tiến hành
nạo phá thai, chảy máu nhiều mới chẩn đoán là chửa ở ống CTC. Nguy cơ
chảy máu trong khi nong và nạo CTC rất cao vì vậy phần lớn là cắt tử cung
hoàn toàn để cầm máu, cứu sống tính mạng người phụ nữ. Chẩn đoán chửa ở

Lớp cơ ở thân và ở cổ khác nhau: Ở cổ có lớp thớ vòng ở giữa hai lớp
mỏng có thớ dọc. Ở thân có ba lớp cơ: lớp ngoài gồm có lớp nông thớ dọc và
lớp sâu thớ vòng. Lớp giữa tạo nên bởi các thớ cơ đan chéo với nhau nên gọi
là lớp cơ đan (lớp cơ rối). Mạch máu đi vào giữa lớp cơ đan nên sau đẻ khi cơ
đan co chặt lại, máu tự cầm lại được. Lớp trong cùng là lớp thớ cơ vòng. Cơ
tử cung có đặc tính vừa đàn hồi, vừa co giãn.
Buồng tử cung hình tam giác, có niêm mạc che phủ, chịu các thay đổi
theo chu kỳ.
* Hình thể ngoài:
Dài 6 - 7 cm, rộng 4 cm ở phụ nữ chưa sinh đẻ và dài 7 - 8 cm, rộng 5 cm ở
phụ nữ đã sinh đẻ. Được chia làm ba đoạn: thân tử cung, eo tử cung và cổ tử cung.
+ Thân tử cung: Dài 4 cm, rộng 4,5 cm lúc chưa đẻ. Là đoạn 3/4 trên phình
to ra, có phần trên tương ứng với đáy tử cung, giới hạn bởi hai bên là sừng tử
cung, ở đây có dây chằng tròn và dây chằng tử cung buồng trứng dính vào.
+ Eo tử cung: Dài 0,5 cm, là chỗ thắt chen vào giữa thân và cổ tử cung.
+ Cổ tử cung: Là đoạn 1/4 dưới, hẹp, đi từ eo tử cung đến lỗ ngoài tử cung.
5
6
* Hướng: 2/3 số trường hợp có tử cung ngả trước hay gập trước. Thân
tử cung hợp với cổ tử cung thành một góc 120
0
, thân tử cung ngả ra trước đối
với âm đạo theo một góc 90
0
.
Ngoài ra, thân tử cung còn thay đổi theo hướng tuỳ theo từng cá nhân,
tuỳ theo bàng quang, trực tràng đầy hay vơi.
1.1.1.2.Cổ tử cung
CTC là 1/4 dưới của tử cung, là một đoạn đặc biệt của tử cung, dài
2,5cm được giới hạn phía trong (cực trên), nơi tiếp giáp với eo tử cung là lỗ

yếu là tổ chức liên kết với thành phần chủ yếu là các sợi keo (collagene) được
tạo ra từ các phân tử proteoglycan và các sợi chun (elastin), đặc tính là có thể
bị kéo căng ra trong một thời gian rồi nhanh chóng trở lại hình dạng và kích
thước ban đầu. Cấu trúc này làm cho cổ tử cung có đặc tính ưu việt là rất dễ
xoá, mở trong chuyển dạ. Sự thay đổi cấu trúc giữa thân và CTC có một đoạn
chuyển tiếp là eo tử cung dài 10mm.
- Niêm mạc CTC được chia làm hai loại: phía bên ngoài CTC (phần
nằm trong âm đạo: niêm mạc ngoài) và phần trong CTC (buồng CTC: niêm
mạc trong).
- Buồng CTC được lợp bằng lớp liên bào trụ (biểu mô trụ). Từ lỗ ngoài
CTC liên tiếp với âm đạo được bao phủ bằng lớp liên bào lát tầng (biểu mô vẩy). Hình 1.2. CTC và ống CTC [16]
7
8
1.1.2. Động mạch tử cung
Động mạch của tử cung là một nhánh của động mạch hạ vị. Dài 13 - 15
cm, cong queo, lúc đầu động mạch chạy ở thành bên chậu hông, rồi chạy
ngang tới eo tử cung, sau cùng lật lên trên chạy dọc theo bờ ngoài tử cung để
lật ngang dưới vòi tử cung tiếp nối với động mạch buồng trứng.
1.1.3. Vòi tử cung
Vòi tử cung là một ống dẫn có nhiệm vụ đưa noãn và trứng về buồng tử
cung, bắt đầu mỗi bên từ sừng tử cung tới sát thành chậu hông, một đầu mở
vào ổ bụng, một đầu thông với buồng tử cung.
Vòi tử cung dài từ 10 – 12 cm .Lỗ thông với tử cung nhỏ 3 mm, lỗ
thông với ổ phúc mạc toả rộng như một cái loa, kích thước 7 – 8 mm.
Vòi tử cung được chia làm 4 đoạn:
- Đoạn kẽ: nằm trong thành tử cung, chạy chếch lên trên và ra ngoài
khoảng 1 cm, khẩu kính rất hẹp dưới 1 mm.

BVPSTW năm 2008, tỷ lệ chưa nạo hút thai là 25,8% và 74,2 % là đã có ít
nhất một lần nạo hút thai [9]. Nghiên cứu 36 trường hợp chửa ở ống CTC
và chửa tại sẹo mổ lấy thai ở BVPSTW năm 2011, Nguyễn Thị Hương Nga
thấy tỷ lệ nạo hút thai là 75% [10].
- Viêm nội mạc tử cung từ việc sử dụng dụng cụ tử cung và viêm vùng
chậu có thể giải thích sự gia tăng rõ ràng tỷ lệ thai ngoài tử cung ở những
bệnh nhân với các yếu tố nguy cơ [21].
- Do thụ tinh trong ống nghiệm: Sự gia tăng về tỷ lệ thụ tinh trong ống
nghiệm dường như cũng góp phần tăng chửa ở ống CTC vì khi được chuyển
9
10
vào buồng tử cung, phôi không thể bám ngay vào niêm mạc buồng tử cung,
hoặc là ở những người chưa có kinh nghiệm đã để phôi dính ở đầu catheter
khi chuyển phôi hoặc là phôi có thể từ buồng tử cung rơi xuống và gây chửa ở
ống CTC.Thai làm tổ ở ống cổ tử cung, trong ổ bụng cũng được ghi nhận sau
khi thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (Brenner 1993, Brinsden
1993).Một số báo cáo trường hợp gần đây cũng đã ghi nhận có sự gia tăng tỷ lệ
có thai ở ống cổ tử cung ở phụ nữ thụ tinh trong ống nghiệm, Weyerman PC,
Verhoeven ATM, Alberda AT [22] Trong thực tế lâm sàng các nghiên cứu
nhận thấy chửa ở ống CTC tăng có thể liên quan phụ nữ có tiền sử nạo tử cung
và việc sử dụng các phương pháp điều trị can thiệp vô sinh.
- Ngoài ra, tỷ lệ chửa ở ống CTC dường như được tăng lên do việc
chẩn đoán sớm được phát hiện qua siêu âm đường âm đạo hoặc là một số
trong đó thai tự thoái triển một cách tự nhiên. Làm rõ vai trò của các yếu tố
nguy cơ khác nhau sẽ đòi hỏi một nghiên cứu hồi cứu lớn với kiểm soát số
lần xuất hiện thích hợp.
1.3. Triệu chứng chửa ở ống CTC
1.3.1. Những triệu chứng lâm sàng cổ điển của chửa ở ống CTC [1]
- Thường là chậm kinh bởi vì từ khi phôi di chuyển từ vòi tử cung xuống
đến CTC và làm tổ tại ống CTC cũng là một thời gian dài.

cho chẩn đoán về lâm sàng. Rubin [7] và một số tác giả mô tả CTC phình to
tạo thành với thân tử cung như một chiếc đồng hồ cát do eo tử cung phân cách
với khối thai tại CTC.
11
12

Hình 1.3. Chửa tại ống CTC [1]
Nguồn:Vương Tiến Hòa – Chẩn đoán và xử trí CNTC - 2012
- Thân tử cung hoàn toàn bình thường hoặc là hơi to hơn bình thường
do phản ứng màng rụng khi có thai cách biệt với CTC to hơn và mềm hơn
một cách không bình thường qua eo tử cung.
- Hai phần phụ mềm mại, không có khối và cùng đồ sau không đầy,
không đau.
Năm 1983, Rubin [7] đưa ra tiêu chuẩn về lâm sàng để chẩn đoán chửa
ở ống CTC như sau:
- Ra máu âm đạo không kèm theo đau bụng.
- CTC căng phồng nhưng thành CTC mỏng.
- Lỗ ngoài CTC hé mở.
- Thân tử cung bình thường hay hơi to hơn bình thường nằm phía trên CTC.
Trước khi có siêu âm thì chẩn đoán lâm sàng có thai ở cổ tử cung rất khó
khăn. Thường chẩn đoán nhầm là thai sắp sảy, hoặc đang sảy thai, hoặc chorio
sau nạo thai, hoặc u xơ tử cung.
12
13
1.3.3. Các xét nghiệm và thăm dò
1.3.3.1. Xét nghiệm hCG [25]
- hCG (human chorionic gonadotropin) là hormone hướng sinh dục rau
thai được chế tiết từ những tế bào lá nuôi của bánh rau. Có mặt trong máu
hoặc trong nước tiểu ở thời kỳ thai nghén.
Về cấu tạo: hCG là một glycoprotein, phân tử hCG được tạo ra từ hai

bình thường, hoặc là theo dõi một CNTC còn tồn tại sau phẫu thuật bảo tồn
vòi tử cung và sau điều trị nội khoa.
- Xét nghiệm nhanh hCG bằng Quick Stick hoặc định lượng βhCG cho
kết quả khẳng định sự có thai. Nếu được chẩn đoán sớm, nồng độ βhCG cao
do phôi thai làm tổ ở ống CTC nên hợp bào nuôi phát triển tốt hơn. Nếu phôi
thai đã chết hoặc đã nạo phá thai thì có những trường hợp nồng độ βhCG rất
thấp, thậm chí như không có thai.
1.3.3.2. Siêu âm [27], [28]
Trong những thập kỷ qua, sử dụng rộng rãi của siêu âm đường âm đạo
đã giúp ích rất nhiều và cũng gần như quyết định cho chẩn đoán xác định
chửa ở ống CTC, đặc biệt là chẩn đoán phân biệt giữa một sảy thai hoặc phá
thai dở dang với chửa ở ống CTC.
* Raskin [27] chẩn đoán thai ở ống cổ tử cung bằng siêu âm đầu tiên
trên thế giới năm 1978. Độ chính xác của siêu âm là 81% so với chẩn đoán
lâm sàng là 21%.
Tiêu chuẩn chẩn đoán siêu âm của Raskin.
1. Thân tử cung trống và nội mạc thân tử cung mỏng.
14
15
2. Cổ tử cung căng phồng lên làm tử cung có dạng “ đồng hồ cát”.
3. Thai, rau nằm trọn ở cổ tử cung.
4. Đa số tim thai dương tính, còn chửa ở vòi tử cung chỉ có 5 - 10% có
tim thai dương tính mà thôi.
5. Rau phải xâm lấn vào mô cổ tử cung.
6. Nếu dùng Doppler màu thì có thể phát hiện dòng chảy động mạch
quanh rau ở đoạn cổ tử cung, còn thân tử cung thì không thấy có dòng chảy.
Năm 1993, Timor-Tritsch và cộng sự [28] đưa ra hai hình ảnh siêu âm có
giá trị hơn trong chửa ở ống CTC là các tiêu chí nghiêm ngặt hơn:
+ Rau thai và túi thai phải nằm dưới lỗ trong CTC.
+ Hình ảnh CTC dãn rộng như hình ảnh một chiếc thùng chứa rượu.

nề, mềm mỏng.
- Vi thể: Tổ chức gai rau bình thường ở ống cổ tử cung, hình ảnh phản
ứng màng rụng ở nội mạc tử cung.
Tiêu chuẩn chẩn đoán có thai ở ống cổ tử cung theo Rubin [7] dựa vào
giải phẫu bệnh:
1. Sự hiện diện của tuyến cổ tử cung đối diện ở chỗ rau bám.
2. Rau phải dính chặt vào cổ tử cung.
16
17
3. Rau thai phải nằm dưới chỗ đi vào của động mạch tử cung và nếp
gấp phúc mạc bàng quang trước sau.
4. Không có phần thai nằm ở thân tử cung.
1.4. Chẩn đoán phân biệt [1]
- Dễ gặp nhất cần chẩn đoán phân biệt chửa ở ống CTC với sảy thai.
Với một sảy thai thường có đầy đủ các dấu hiệu có thai, ra huyết và đau bụng,
Tuy nhiên trên lâm sàng hay nhầm lẫn với sảy thai dở dang, cho rằng phôi
thai đang sảy và nằm lại CTC nên cũng có hình ảnh đồng hồ cát do CTC to,
căng phồng và ra huyết. Năm 1996, Jukovic và cộng sự [31] đưa hai tiêu
chuẩn về siêu âm đường âm đạo để chẩn đoán phân biệt sảy thai với chửa ở
ống CTC đó là dấu hiệu trượt của khối thai:
+ Khi người siêu âm đẩy đầu dò mạnh vào CTC thì khối thai trượt vào
lòng TC nếu là sảy thai, còn chửa ở ống CTC thì không có dấu hiệu này.
+ Doppler màu thì dấu hiệu tăng sinh mạch máu và dòng chảy quanh
rau thai chỉ gặp ở chửa ở ống CTC mà không có trong sảy thai.
- Những túi thai sẩy vào CTC được Timo-Tritsch [28] mô tả như hình
“chiếc mũ tai bèo”, còn những thai làm tổ trong buồng CTC luôn có dạng
hình tròn hoặc hình oval.
- Một trường hợp tuy ít gặp hơn đó là ung thư biểu mô tuyến ở CTC vì
CTC cũng to và mềm, ra huyết ít một, nhưng tuổi người bệnh thường nhiều
hơn và không có những dấu hiệu của thai nghén.

chảy máu ở CTC sau nạo do tổn thương mạch máu ở CTC.
18
19
Có hai cách cầm máu ở CTC:
- Chèn gạc chặt vào ống CTC.
- Dùng một sonde Foley có một quả bóng 30 ml, bơm phồng khoảng
100ml nước nóng giúp cầm máu tốt hơn.
Cũng có một số tác giả gợi ý bằng khâu hai mũi cát gút ở vị trí 3 và 9
giờ, nơi xuất phát của động mạch CTC- âm đạo hoặc cặp và kéo gập CTC về
phía sau mục đích là gập hẳn CTC để làm giảm cung cấp máu của động mạch
tử cung cho nhánh CTC – âm đạo. Nếu không kết quả phải mổ cấp cứu. Khi
mổ thì tùy thuộc vào kinh nghiệm và khả năng cũng như tình trạng của bệnh
nhân mà quyết định: thắt động mạch tử cung, thắt động mạch hạ vị để bảo tồn tử
cung, hoặc cắt tử cung hoàn toàn. Nguyên tắc là phải đặt sự an toàn, bảo đảm sự
sống cho bệnh nhân lên hàng đầu. Mặt khác khi cắt tử cung hoàn toàn cũng phải
chú ý để tránh thắt vào niệu quản do CTC phình to, làm thay đổi giải phẫu của
niệu quản. Gần đây y văn cũng đề cập đến nút mạch để cầm máu nhưng hiệu
quả cũng không cao.
* Diệt phôi [1], [10], [23], [32]:
Kỹ thuật này được thực hiện qua đường âm đạo, dưới sự hướng dẫn của
siêu âm đầu dò âm đạo. Cần tư vấn cho người bệnh về kỹ thuật đình chỉ phôi
thai và thực hiện khi có cam kết của người bệnh.
Kỹ thuật:
- Siêu âm đầu dò âm đạo để xác định chính xác vị trí túi thai có phôi và
tim thai.
- Dùng kim chọc hút gắn lên cần mang kim chọc qua âm đạo dưới
hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo, vào túi thai đến phôi thai.
19
20
- Sau khi kim vào đến phôi thai, dùng một syringe 10ml gắn vào kim

mô phôi, tuỳ thuộc kích thước túi ối mà hút bớt dịch ối nhiều hay ít để bơm
dung dịch diệt phôi. Bơm 3 đến 5 ml dung dịch 2 mEq/ml Kali clorua vào túi
ối rồi rút kim, dung dịch Kali clorua sẽ diệt nốt phần phôi còn lại).
Việc sử dụng Methotrexate tiêm vào túi ối đòi hỏi kỹ năng và kỹ thuật
tương tự và nó có vẻ là thành công nhất ở tuổi thai dưới hoặc bằng 9 tuần, đặc
biệt là trong trường hợp không có hoạt động của tim thai. Liều thông thường
là 1 đến 1,5 mg/kg trọng lượng cơ thể, và có một số nguy cơ ảnh hưởng xấu
đến hệ thống chẳng hạn như viêm miệng hoặc tăng transaminase gan.
MTX thuộc nhóm kháng chuyển hoá. MTX là một kháng folic, ức chế
tổng hợp tự sinh của Purin và Pirimidin do vậy cản trở sự tổng hợp DNA và
sự nhân lên của tế bào. Hấp thu qua đường tiêu hoá và gắn vào Albumin
huyết tương. Phần lớn MTX thải qua thận, vậy cần giảm liều nếu suy thận.
Theo dõi sau giảm thiểu phôi bằng định lượng nồng độ βhCG sau 48
giờ và sau đó cứ một hoặc hai tuần một lần kết hợp với siêu âm theo dõi hình
ảnh và sự phát triển của phôi, hoạt động của tim thai. Nếu thất bại thì phải
chuyển sang phương pháp khác.
Diệt phôi và sử dụng MTX rất hiệu quả khi tuổi thai dưới 8-9 tuần.
Thành công khi nồng độ βhCG giảm và kích thước khối thai nhỏ rồi mất hẳn
chỉ để lại tổ chức sẹo ở CTC.
- Các chỉ định điều trị nội CNTC bằng thuốc MTX của Tạ Thị
Thanh Thuỷ [21]:
+ CNTC chưa vỡ, hàm lượng βhCG nhỏ hơn 5000 mUL/ml.
21
22
+ Không có tình trạng chảy máu trong ổ bụng hay lượng máu trong ổ
bụng ít hơn 250 ml (ước lượng trên siêu âm).
+ Kích thước túi thai nhỏ hơn 4cm, không có hoạt động tim thai khi
khám siêu âm.
+ Huyết động ổn định, chức năng gan thận bình thường.
* Theo L. Smith chỉ định điều trị nội khoa CNTC 2008 [33]:

- Xét nghiệm βhCG ngày thứ 7.
- Nếu nồng độ βhCG giữa ngày thứ 4 và ngày thứ 7 giảm dưới 15% thì
làm lại xét nghiệm công thức máu và chức năng gan thận. Nếu không có
chống chỉ định thì nhắc lại liều MTX.
- Nếu nồng độ βhCG giữa ngày 4 và ngày 7 giảm trên 15% thì tiếp tục
theo dõi βhCG hàng tuần cho đến khi βhCG xuống dưới 10mUI/ml.
- Nếu nồng độ βhCG vẫn giữ ở mức cao thì làm lại các xét nghiệm và
lặp lại liều MTX.
1.5.2. Vấn đề sinh sản sau chửa ở ống cổ tử cung [1]
Mặc dù thời gian bán hủy trong huyết thanh của Methotrexate liều thấp
chỉ 10 giờ nhưng thuốc có thể được giữ lại trong thận và gan trong nhiều
tháng vì vậy có nghiên cứu chỉ ra rằng Methotrexate có thể gây bất thường
cho thai đặc biệt là ở tuổi thai từ 6 đến 8 tuần vì vậy phải tránh có thai từ 6
đến 12 tháng sau khi kết thúc điều trị để hạn chế tối đa khả năng gây nguy cơ
cho thai. Khi có thai phải siêu âm sớm và theo dõi chặt chẽ kỳ thai tiếp theo
để phát hiện sớm bất thường của thai.
Những can thiệp tại CTC khi điều trị CTC có thể làm tổn thương và
làm hở eo tử cung vì vậy có thể gây sảy thai liên tiếp, hoặc sinh non và đó gần
như là một hệ luỵ sau chửa tại CTC đòi hỏi phải thăm khám và có quyết định
cho đúng và kịp thời, cũng cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh khi có thai, nên
khám khi thai được 12 tuần tuổi.
23
24
1.6. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
Chửa ở CTC đã được y văn thế giới đề cập và nghiên cứu rất nhiều, tuy
nhiên ở Việt Nam chỉ mới được đề cập đến trong hai thập kỷ qua. Lê Hoài
Chương (năm 1995) thông báo 5 trường hợp chửa ở ống CTC, chẩn đoán bị
nhầm lẫn với sảy thai, chảy máu không cầm phải cắt tử cung hoàn toàn [8].
Mãi tới năm 2002, Lê Thị Sáu công bố một trường hợp chửa ở ống CTC tại
Khoa Sản bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng [20]. Năm 2004, Nguyễn Viết Tiến

dựa trên những thông tin có trong hồ sơ bệnh án của những người bệnh bị
chửa ở ống cổ tử cung được điều trị tại BVPSTW.
2.2.2. Cỡ mẫu
Do số lượng người bệnh không nhiều nên chúng tôi chọn cỡ mẫu không
xác xuất, lấy tất cả những bệnh án được chẩn đoán chửa ở ống cổ tử cung được
điều trị tại BVPSTW trong 5 năm (từ 01/01/ 2008 đến 31/12/2012).
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status