CHỮ VIẾT TẮT
BiPAP Bilevel Positive Airway Pressure
(Hai mức áp lực dương đường thở)
BN Bệnh nhân
CPAP Continuous Positive Airway Pressure
(Áp lực đường thở dương liên tục)
CO2 Khí Các bo níc
SHH Suy hô hấp
HATB Huyết áp trung bình
SpO2 Độ bão hòa oxy
PaO2 Phân áp oxy
PaCO2 Phân áp CO2
FiO2 Nồng độ phần trăm oxy khí thở vào
HCO3 Bicacbonat
NKQ Ống nội khí quản
MTQ Mask thanh quản
TKNTKXN Thông khí nhân tạo không xâm nhập
TKNTXN Thông khí nhân tạo xâm nhập
PaO2/FiO2 Tỷ lệ oxy hóa máu động mạch
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học
Trường Đại học Y Hà Nội, các thầy cô trong bộ môn Gây mê hồi sức đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này.
1
Với tất cả lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư
Nguyễn Thụ, nguyên chủ tịch Hội gây mê hồi sức Việt Nam, nguyên chủ
nhiệm bộ môn Gây mê hồi sức Đại Học Y Hà Nội, người thầy đã tận tình dạy
dỗ tôi trong suốt quá trình học tập và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi
hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Công Quyết
Thắng, chủ tịch Hội gây mê hồi sức Việt Nam, người thầy đã trực tiếp hướng
trong quá trình tích tuổi và các bệnh kèm theo lại là những yếu tố nguy cơ có
thể gây tử vong ở những bệnh nhân này, đặc biệt nguy cơ suy hô hấp sau mổ là
một biến chứng thường xảy ra hơn cả ở đối tượng này. Vấn đề xử trí suy hô
hấp có thể cứu được bệnh nhân qua cơn nguy kịch, nhưng cũng có thể để lại
nhiều nguy cơ như: đặt lại ống, thở máy, thêm thuốc Điều này gây tốn kém
cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng làm tăng stress cho người thầy thuốc.
Vấn đề đặt ra là làm sao phòng ngừa, ngăn chặn trước không để biến
chứng suy hô hấp xảy ra, và vấn đề này đã được thế giới tìm hiểu và nghiên
cứu từ lâu. Trong đó, thở CPAP là một phương pháp điều trị cho bệnh nhân
suy hô hấp mức độ nhẹ và trung bình, đem lại kết quả cao. Năm 1989, một
bác sỹ người Pháp tên là Boussignac đã tìm ra phương pháp thở mới CPAP
Boussignac, đơn giản hơn, ít tốn kém hơn CPAP máy thở nhưng đem lại hiệu
quả rất tốt. Phương pháp này dựa vào nguyên lý Bernoulli, nghĩa là dòng khí
đi từ chỗ rộng qua chỗ hẹp sẽ gia tăng tốc độ, khi thoát khỏi chỗ hẹp sẽ tạo ra
dòng xoáy, chuyển tốc độ cao thành áp lực [3], [50], [66], [69]. CPAP
3
Boussignac là một hệ thống mở, tạo CPAP bằng dòng khí, không cần máy
thở, có nhiều ưu điểm hơn so với CPAP kinh điển. Đây là dạng TKKXN, là
hệ thống mở qua đó ta có thể hút, soi phế quản, bệnh nhân có thể ho khạc, ăn
uống và giao tiếp …
CPAP Boussignac đã được thế giới sử dụng nhiều cho bệnh nhân:
COPD, OAP, cai thở máy, … Ở Việt Nam cũng đã áp dụng CPAP Boussignac
để điều trị suy hô hấp thiếu ô xy máu cấp tính sau mổ tim hở và đạt kết quả tốt.
Tuy nhiên ứng dụng phương pháp này để phòng ngừa suy hô hấp ở bệnh nhân
cao tuổi giai đoạn sau mổ vẫn chưa có nhiều nghiên cứu được tiến hành. Vì
vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu hiệu quả thở áp lực dương liên
tục ( CPAP Boussignac ) giai đoạn sau mổ bụng trên ở người cao tuổi “ với
hai mục tiêu sau:
1. Đánh giá hiệu quả của phương pháp thở CPAP Boussignac trên
nhịp tim, HATB, nhịp thở, SpO2 và khí máu động mạch ở người cao tuổi
mình. Họ cảm thấy cô đơn, vô dụng và có suy nghĩ sống chẳng còn bao lâu.
Có một số người sẽ phản ứng với cuộc mổ, không hợp tác, không chấp nhận
chăm sóc trước mổ cũng như sau mổ. Người bác sĩ gây mê cần nhận biết
5
được nét đặc thù của người cao tuổi, phân tích cá tính của từng người. Chúng
ta nên tôn trọng, chân thành, lắng nghe ý kiến để tạo sự tin tưởng và hợp tác
của bệnh nhân.
1.1.2. Giải phẫu người cao tuổi liên quan tới gây mê hồi sức
Người cao tuổi có da khô, mỏng, nhăn nheo, thịt nhão dễ tạo vết bầm
tím khi tiêm truyền hay một chấn thương nhẹ. Mô dưới da mất tính đàn hồi và
các mạch máu dễ vỡ, vì vậy ở người già cần lưu ý săn sóc hậu phẫu để tránh
loét do nằm lâu
Răng rụng, lung lay, má hóp, khó cầm mát và đặt nội khí quản. Trương
lực cơ của đường thở trên (như cơ cằm lưỡi ) giảm đi trên bệnh nhân được
gây mê làm lưỡi và nắp thanh môn rơi xuống thành sau của hầu làm tắc
đường thở, không thông khí được cho bệnh nhân khi úp mát và bóp bóng.
Những phản xạ bảo vệ đường thở giảm làm tăng nguy cơ hít phải dịch dạ dày
vào phổi (hội chứng Mendelson).
Hệ cơ xương: Tất cả các loại bệnh một thoái hoá đều có thể xảy ra ở
người già và hầu hết đều bị viêm khớp. Xương mất dần chất vôi nên dễ gãy,
Khớp viêm cứng nên làm hạn chế cử động. Lồng ngực bị cứng do vôi hoá các
sụn sườn làm thở bụng nhiều hơn thở ngực. Cột sống có nhiều biến dạng như:
cong vẹo, xẹp lún, vôi hoá cột sống và các dây chằng.
1.1.3. Sinh lý người cao tuổi liên quan đến gây mê hồi sức
1.1.3.1. Hệ hô hấp
Ở người cao tuổi, gần 30% tế bào của thành phế nang bị mất đi giữa
những tuổi từ 20 đến 80, làm giới hạn tính đàn hồi và lực kéo của nhu mô
phổi để giữ đường thở được ổn định. Do đó, những dung lượng phổi: tổng
dung tích phổi (TLC), dung lượng sống cố gắng (FVC), thể tích thở ra cố
gắng trong một giây (FEV
quả, xấu hơn nếu bệnh nhân nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào, nó làm gia tăng
nguy cơ xảy ra biến chứng. Vận động sớm, vật lý trị liệu và giảm đau tốt sau
mổ giúp giảm được biến chứng xẹp phổi.
1.1.3.2. Hệ tim mạch
Trong quá trình tích tuổi, có những biến đổi cấu trúc của hệ tim mạch:
vách thất trái và động mạch chủ dầy lên cùng tăng về kích thước. Ở người già,
những tế bào cơ tim to lên và giảm số lượng do cơ chế lão hoá của tế bào dù
họ không có biểu hiện bệnh tim mạch. Thành phần chất tạo keo (collagen) và
elastin của cơ tim cũng tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở hệ dẫn truyền mà hậu
quả là số tế bào tạo nhịp ở nút nhĩ giảm đi. Rung nhĩ thường thấy ở nhóm
7
người cao tuổi, có thể là do sự mất dần những tế bào tạo nhịp và dẫn truyền ở
nhĩ trong quá trình tích tuổi. Đáp ứng này bị giảm đi ở những bệnh nhân cao
tuổi, do đáp ứng của thụ thể β bị suy giảm và kết quả là sức co bóp bị giảm đi.
Hiệu suất tim tối đa và từ đó dự trữ chức năng của tim giảm đi với tích tuổi.
Nhịp tim chậm, nhưng tim ở người nhiều tuổi kém linh hoạt, kém thích ứng
với tăng gánh, nhịp tim bù trừ bị hạn chế và không kịp thời. Hút thuốc,
cholesterol – máu tăng, huyết áp cao, bệnh đái tháo đường typ II và xơ vữa
động mạch. Xơ vữa động mạch gây rối loạn chức năng nghiêm trọng do thiểu
năng động mạch vành, động mạch não và động mạch thận. Những bệnh tim
mạch như: bệnh mạch vành, suy tim ứ huyết và huyết áp cao là những nguyên
nhân hàng đầu trong tai biến và tử vong ở người già. Cao huyết áp không phải
là chống chỉ định với gây mê và phẫu thuật, nhưng người gây mê phải thận
trọng ngăn ngừa tình trạng huyết áp cao dao động quá nhiều và tránh ưu thán
làm tăng huyết áp gây tai biến mạch máu não. Trên thực tế cần coi những
bệnh nhân trên như những người thiểu năng động mạch vành và có tình trạng
thiếu oxy cơ tim tiềm tàng. Vì vậy, gây mê trên bệnh nhân cao tuổi cần tránh
tình trạng thiếu oxy và dao động đột ngột huyết áp cùng nhịp tim.
1.1.3.3. Hệ thần kinh
Hệ thần kinh là cơ quan đích cho hầu hết những dược chất gây mê,
tích tuổi.
1.2. Dược lý học một số thuốc sử dụng trong gây mê [12],[13]
1.2.1. Fentanyl
Fentanyl là một trong các dẫn xuất của họ morphin có tác dụng giảm đau
trung ương.
9
- Fentanyl dễ dàng hấp thu bằng nhiều đường khác nhau như uống, tiêm tĩnh
mạch, tiêm bắp, tiêm dưới da, tủy sống, NMC .
- Fentanyl hấp thu nhanh ở khu vực có nhiều tuần hoàn như: não, thận, tim,
phổi, lách và giảm dần ở các khu vực ít tuần hoàn hơn.
- Thuốc có thời gian bán đào thải (T
1/2β
) khoảng 3.7 giờ ở người lớn, trẻ em
khoảng 2 giờ. Có sự tương phản giữa tác dụng rất ngắn và đào thải chậm của
thuốc do tính rất tan trong mỡ của thuốc nên qua hàng rào máu não nhanh, vì
vậy thuốc có tác dụng nhanh và ngắn .
- Thuốc chuyển hóa ở gan 70 - 80% nhờ hệ thống monoxygenase bằng các
phản ứng N-desalkylation oxydative và phản ứng thủy phân để tạo ra các chất
không hoạt động nor fentanyl, despropionyl-Fentanyl.
- Thuốc đào thải qua nước tiểu 90% dưới dạng chuyển hóa không hoạt động
và 6% dưới dạng không thay đổi, một phần qua mật.
- Vài nét về dược lực học.
Trên TKTW: Khi tiêm TM thuốc có tác dụng giảm đau sau 30 giây, tác dụng
tối đa sau 3 phút và kéo dài khoảng 20 - 30 phút ở liều nhẹ và duy nhất.
Thuốc có tác dụng giảm đau mạnh hơn morphin 50 - 100 lần, có tác dụng làm
an thần nhẹ. Không gây ngủ gà, nhưng Fentanyl làm tăng tác dụng gây ngủ
của các loại thuốc mê khác, ở liều cao thuốc có thể gây tình trạng quên nhưng
không thường xuyên.
Trên tim mạch: Fentanyl có tác dụng rất kín đáo lên huyết động ngay cả khi
dùng liều cao (75 mcg/kg). Thuốc không làm mất sự ổn định về trương lực
tương hoặc nước tiểu sau khi tiêm Esmeron.
1.2.2.2. Chỉ định
Esmeron được chỉ định như một dược phẩm hỗ trợ gây mê toàn thân để
đặt nội khí quản dễ dàng, để tạo giãn cơ trong phẫu thuật.
1.2.2.3. Chống chỉ định
Esmeron không được dùng cho bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với
rocuronium hay ion bromure.
Vì Esmeron làm liệt các cơ hô hấp cho nên cần hỗ trợ thông khí cho
11
những bệnh nhân được dùng thuốc này cho đến khi bệnh nhân có thể tự thở
lại đầy đủ.
Vì Esmeron luôn luôn được dùng chung với các thuốc khác và vì có thể
xảy ra sốt cao ác tính trong khi gây mê, cho nên dù không có những chất đã
được biết rõ có thể là nguyên nhân của sốt cao ác tính, trước khi bắt đầu cuộc
gây mê nào, thầy thuốc lâm sàng cũng cần phải biết các triệu chứng báo hiệu
sớm, biết cách xác định và biết điều trị bệnh sốt cao ác tính. Trong những
nghiên cứu trên loài vật, Esmeron đã được chứng minh không phải là một yếu
tố gây nên sốt cao ác tính.
1.2.2.5. Tương tác thuốc
Gia tăng tác dụng :
- Thuốc mê : Propofol, isofluran, servofluran,…
- Những thuốc giãn cơ không khử cực khác.
- Suxamethonium được dùng trước đó.
1.2.2.6. Liều lượng và cách dùng
Liều lượng :
Cũng như các thuốc giãn cơ khác, liều lượng của Esmeron nên thích ứng với
mỗi người bệnh. Khi xác định liều dùng cần lưu ý đến phương pháp gây mê,
thời lượng dự kiến của cuộc mổ, khả năng tương tác với những thuốc được
dùng trước đó và/hoặc trong khi gây mê, cũng như tình trạng của bệnh nhân.
Nên sử dụng kỹ thuật kiểm báo giãn cơ thích hợp để đánh giá sự phong bế
gây mê bằng Sevofluran. Thông thường, nồng độ đỉnh của fluorid vô cơ đạt
được trong vòng 2 giờ sau khi kết thúc gây mê và sẽ trở về mức trước khi
phẫu thuật trong vòng 48 giờ.
1.2.3.2. Chỉ định
Dùng dẫn mê và duy trì mê cho các phẫu thuật nội trú và ngoại trú ở cả người
lớn và trẻ em.
1.2.3.3. Chống chỉ định
ở người đã biết hoặc nghi ngờ có nhạy cảm do di truyền với chứng sốt cao ác
tính.
13
1.2.3.4. Tương tác thuốc
Hiệu lực của các thuốc dãn cơ không khử cực tăng lên rõ rệt khi phối hợp với
Sevofluran, vì vậy khi phối hợp, cần điều chỉnh liều lượng thuốc dãn cơ.
Tính làm tăng nhạy cảm của cơ tim đối với adrenaline ngoại sinh của
Sevofluran giống như isofluran.
Cũng như những thuốc khác, có thể dùng nồng độ Sevofluran thấp hơn sau
khi dùng một thuốc mê đường tĩnh mạch chẳng hạn như propofol.
1.2.3.5. Liều lượng và cách dùng
Nên dùng những bình bốc hơi được chuẩn hóa đặc biệt cho Sevofluran để
nồng độ thuốc được kiểm tra chính xác. Giá trị MAC của Sevofluran giảm
theo tuổi và giảm nếu thêm N
2
O.
1.3. Thông khí nhân tạo không xâm nhập áp lực dương [5], [6], [9], [10],
[13], [52]
1.3.1. Lịch sử
Năm 1938 Avan Barach lần đầu tiên áp dụng phương pháp thông khí
nhân tạo không dùng ống NKQ cho bệnh nhân hen tim. Từ năm 1980 trở lại
đây, TKNTKXN mới được sử dụng rộng rãi để điều trị SHH do các nguyên
nhân như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), AHRF, phù phổi cấp huyết
hoặc bệnh nhân không có khả năng tự bảo vệ đường thở.
Khả năng hỗ trợ hô hấp còn hạn chế.
Chướng hơi dạ dày, nguy cơ sặc dịch dạ dày gây viêm phổi hít.
Kích ứng kết mạc, biến chứng này thường do hiện tượng rò khí.
Kích ứng da tại chỗ úp mát, có thể gây loét gốc mũi.
Có thể gây tụt huyết áp khi dùng mức áp lực cao.
15
1.3.4. Chỉ định, chống chỉ định của thông khí không xâm nhập [9], [10], [13]
* Chỉ định:
- Phòng ngừa SHH sau mổ (xẹp phổi sau mổ)
- Suy hô hấp cấp do các nguyên nhân khác nhau.
- Đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Cai thở máy.
* Chống chỉ định:
- Ngừng thở hoặc ngừng tim.
- Bệnh lý não nặng.
- Điểm đánh giá mức độ mê glasgow (GCS) < 10 điểm.
- Chảy máu tiêu hóa cao nặng.
- Huyết động không ổn định hoặc rối loạn nhịp tim với tình trạng lâm
sàng không ổn định.
- Phẫu thuật, chấn thương, biến dạng mặt.
- Tắc nghẽn đường hô hấp trên.
- Không hợp tác, mất khả năng bảo vệ đường thở.
- Mất khả năng ho khạc đờm.
- Nguy cơ cao hít vào phổi.
- Tràn khí màng phổi chưa được dẫn lưu.
1.3.5. Các phương thức thông khí không xâm nhập thông dụng: Thông khí
không xâm nhập thường được sử dụng hai phương thức thông khí CPAP và
BiPAP.
∗ Phương thức thở BiPAP
Naughton và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cho thấy CPAP làm tăng áp lực
lồng ngực, làm giảm hậu gánh và tiền gánh thất trái mà không gây tụt huyết áp.
+ CPAP còn có lợi về mặt huyết động cho bệnh nhân suy tim xung huyết
do có tác dụng làm giảm tiền gánh trên những bệnh nhân này. Mặt khác,
CPAP còn có tác dụng làm giảm áp lực xuyên thành thất trái, giảm hậu gánh,
làm tăng lưu lượng tim. Rahman A và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh với
suy tim xung huyết thì CPAP làm tăng áp lực lồng ngực, giảm hậu gánh thất
trái cải thiện lưu lượng tim. Khái niệm này được Bradley mở rộng, dựa trên
quan sát mức CPAP từ 5 - 10 cmH
2
O, lưu lượng tim tăng khi dùng cho bệnh
nhân suy tim xung huyết có tăng áp lực mao mạch phổi bít.
Tóm lại, CPAP làm giảm tiền gánh và hậu gánh, tăng lưu lượng tim,
tăng phân số tống máu thất trái, cải thiện triệu chứng của suy tim có suy hô
hấp thiếu oxy máu cấp tính .
Tác dụng trên hô hấp
CPAP có tác dụng làm mở các phế nang ngập dịch bằng cách giảm áp
lực mở phế nang, chống xẹp phế nang, tăng dung tích cặn chức năng, giảm
shunt trong phổi, cải thiện oxy hóa máu, giảm sức căng đường thở và giảm
công hô hấp. Nghiên cứu của Bersten thấy rằng CPAP tăng nhanh oxy hóa
18
Mức CPAP
cài đặt
Áp lực
Thời gian
Thở ra
Hít vào
0
máu và giảm CO
2
- Van Boussignac.
- Dây dẫn khí nén và/hoặc oxy vào van Boussignac.
- Lưu lượng kế (flowmeter) đo dòng khí với lưu lượng đến 30 lít/phút.
- Đồng hồ đo mức CPAP, FiO
2
.
Cấu tạo van Boussignac:
- Ống kép hai nòng lồng vào nhau, mở hai đầu. Giữa nòng ngoài và
nòng trong là hệ thống các khe siêu nhỏ nối với dòng khí hoặc dòng
oxy cung cấp.
- Cổng nhận dòng khí nén hoặc có thể là dòng oxy để tạo áp lực.
- Cổng để gắn đồng hồ đo CPAP hoặc gắn với nguồn cung cấp O
2
.
Hình 1.1. Cấu tạo van Boussignac.
1.4.2. Nguyên lý hoạt động của CPAP Boussignac
Dựa vào nguyên lý Bernoulli: dòng khí được đưa vào cổng nhận, khi
qua các khe rất nhỏ giữa nòng ngoài và nòng trong sẽ được gia tăng tốc độ và
khi thoát ra khỏi chỗ hẹp vào trong lòng ống sẽ tạo thành một dòng khí xoáy
tốc độ cao.
Dòng khí xoáy này có tác dụng như một van ảo, tạo ra áp lực dương
trong lòng ống (CPAP) về phía bệnh nhân và tạo ra sự giảm áp về phía đầu
ngoài ống. Như vậy, đường thở bệnh nhân hoàn toàn thông với không khí bên
ngoài, do đó đây là hệ thống tạo CPAP mở.
20
Đầu mở
ra ngoài
Đường nối với khí nén hoặc O
2
1.4.4. Chống chỉ định của CPAP Boussignac
- Tràn khí màng phổi chưa dẫn lưu.
- Giảm thể tích tuần hoàn.
- Tăng áp lực nội sọ.
- Giãn phế nang phổi.
- Suy hô hấp nguy kịch, ngừng thở.
1.4.5. Ưu điểm của thở CPAP Boussignac qua mát
- Trang bị rất đơn giản.
- Dễ sử dụng.
- Không cần máy móc đắt tiền.
- Không cần dòng oxy lưu lượng cao.
21
- Không cần có nguồn điện.
- Là hệ thống mở nên có nhiều ưu điểm như:
+ Thuận lợi cho ho khạc, hút đờm.
+ Bệnh nhân có thể uống nước, uống sữa khi đang thở CPAP.
+ Thuận lợi cho nội soi phế quản.
+ Giao tiếp với bệnh nhân bằng lời dễ dàng làm cho bệnh nhân đỡ lo lắng do đó
dung nạp tốt hơn.
+ Nếu dòng thở bệnh nhân lớn hơn dòng khí vào thì bệnh nhân sẽ hít thêm khí
trời tránh được tình trạng đói dòng.
+ Tránh tăng áp lực lồng ngực đột ngột khi bệnh nhân ho.
+ Tạo CPAP bằng dòng khí xoáy:
+ Giảm công hô hấp nhờ van ảo Boussignac.
+ Giảm khoảng chết.
+ Không cần có van tạo CPAP.
+ CPAP luôn được duy trì bằng dòng khí mới.
1.4.6. Nhược điểm của CPAP Boussignac
- Không dùng được cho bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân không có khả
năng tự bảo vệ đường thở.
Tại Việt Nam, CPAP Boussignac đã bắt đầu được áp dụng trong điều
trị SHH trong phù phổi cấp, đợt cấp của COPD, SHH thiếu oxy máu cấp tính
sau mổ tim hở,
1.4.9. FiO
2
trong thở CPAP Boussignac
Trong thở CPAP Boussignac, FiO
2
có thể xác định được bằng đồng hồ
đo FiO
2
hoặc dựa và bảng FiO
2
tương ứng với số lít oxy cung cấp và mức
CPAP sử dụng, do nhà sản xuất Vygon cung cấp.
1.5. SUY HÔ HẤP CẤP [2], [4], [7].
1.5.1. KHÁI NIỆM
23
Suy hô hấp (SHH) là một tình trạng bệnh lý thường gặp, là một hội
chứng có thể do nhiều bệnh lí tại cơ quan hô hấp hoặc tại các cơ quan khác
gây ra.
SHH có thể là cấp tính hoặc mạn tính. Biểu hiện lâm sàng của bệnh
nhân (BN) bị SHH cấp hoặc SHH mạn thường khác nhau hoàn toàn. Trong
khi SHH cấp được đặc trưng bởi những rối loạn về nội môi (khí máu, kiềm
toan ) đe dọa tính mạng, thì SHH mạn thường kín đáo, có vẻ chịu được,
thậm chí có thể không có biểu hiện trên lâm sàng. Sau đây chỉ đề cập đến
SHH cấp, là một trong những cấp cứu thường gặp nhất tại các khoa phòng
trong bệnh viện trong đó có phòng hồi tỉnh sau mổ.
Quá trình hô hấp được chia thành hai giai đoạn. Ở giai đoạn hô hấp
ngoài, oxy sẽ được thông khí đưa vào trong phế nang, rồi khuếch tán qua
BN có bệnh cảnh SHH cấp nặng và có thêm những dấu hiệu đe dọa
sinh mạng như:
• Rối loạn nhịp thở nghiêm trọng: thở > 40 l/p hoặc < 10 l/p.
• Rối loạn huyết động rõ: tụt HA.
• Rối loạn ý thức rõ: vật vã hoặc lơ mơ, thậm chí hôn mê.
Phải can thiệp ngay bằng các thủ thuật, sau đó mới dùng thuốc hoặc
sử dụng song song (đặt ống nội khí quản, bóp bóng, thở máy )
1.5.3. CƠ CHẾ BỆNH SINH
SHH cấp có thể phát sinh từ một bất thường tại bất kì yếu tố cấu thành
nào của hệ thống hô hấp, hoặc có thể từ sự phối hợp của nhiều yếu tố đó.
SHH cấp có thể do nhiều cơ chế gây ra nhưng có thể một cơ chế chung cho
nhiều bệnh có biến chứng SHH cấp.
1.5.3.1. Giảm thông khí phế nang
Giảm thông khí phế nang toàn bộ là cơ chế thường gặp nhất trong SHH
cấp, còn gọi là cơ chế "suy bơm hô hấp" do những bệnh lí ngoài phổi như: tại
hệ thống thần kinh trung ương (ngộ độc thuốc ngủ, tai biến mạch máu não,
chấn thương sọ não ); tại hệ thống thần kinh ngoại vi (chấn thương tủy
sống, viêm tủy cấp, bệnh bại liệt, viêm đa rễ thần kinh ); bệnh thần kinh - cơ
(bệnh nhược cơ, H/C Guillain-Barré, rắn hổ cắn, dùng thuốc giãn cơ, chứng
porphyrie, phẫu thuật vùng bụng cao ); tại khung xương thành ngực (bệnh
gây biến dạng cột sống, gẫy xương sườn gây mảng sườn di động ); tại đường
hô hấp trên (dị vật đường thở, bệnh bạch hầu, co thắt thanh quản ) gây ra
tình trạng suy giảm toàn bộ lượng khí lưu thông, dẫn đến ứ đọng khí CO
2
25