mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chức năng thông khí của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) được đặc trưng bởi sự tắc
nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này
thường tiến triển từ từ và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và
khí độc hại. Quá trình viêm, mất cân bằng của hệ thống proteinase, anti -
proteinase, sự tấn công của các gốc oxy tự do, làm phá hủy cấu trúc đường
thở và nhu mô phổi dẫn đến làm suy giảm chức năng hô hấp [1], [3], [4], [5].
BPTNMT trước và nay vẫn đang là một thách thức lớn về sức khỏe đối
với y học toàn cầu vì tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao
và hậu quả gây tàn phế. Theo TCYTTG (World Health Organization –
WHO) tỷ lệ tử vong do BPTNMT gia tăng theo thời gian, năm 1990 trên thế
giới có khoảng 2,2 triệu người chết vì BPTNMT chiếm 8% tổng số người chết
do bệnh tật, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 6. Năm 2000 có 2,7
triệu người chết vì BPTNMT [2]. Hiện nay BPTNMT đang là nguyên nhân
gây tử vong đứng hàng thứ tư. WHO dự đoán số người mắc bệnh sẽ tăng 3 - 4
lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và đến năm 2020
BPTNMT sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 [7], [8]. Với tính
chất tiến triển trầm trọng như vậy BPTNMT đang trở thành mối lo ngại về
sức khỏe và là mục tiêu quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới.
Năm 1997, trong một nỗ lực để mang lại sự chú ý nhiều hơn đến căn
bệnh này WHO phối hợp với viện Tim Phổi và Huyết học Hoa Kỳ (National
Heart, Lung and Blood Institute - NHLBI) đã hình thành Sáng kiến toàn cầu
về BPTNMT (Global initiative for Chronic Obstructive Lung Disease -
GOLD). Từ năm 2001, GOLD đã đưa ra khuyến cáo về quản lý và điều trị
BPTNMT. Khuyến cáo đã giúp các nhân viên y tế, các cơ quan chăm sóc sức
2
khỏe hiểu biết về cơ chế bệnh sinh, mối liên quan đến hút thuốc lá và các
khuyến nghị cụ thể về việc quản lý và chiến lược phòng chống căn bệnh này.
Hướng dẫn GOLD chỉ ra rằng đo thông khí phổi là xét nghiệm quan
trọng nhất trong việc chẩn đoán BPTNMT. Các bản hướng dẫn trước của

VPQMT hoặc khí phế thũng gây ra [9], [10], [11] trong đó:
- VPQMT được định nghĩa là tình trạng ho khạc đờm kéo dài liên tục ít
nhất là 3 tháng trong một năm và ít nhất 2 năm liên tục mà sự ho khạc này
không do một bệnh tim hay bệnh phổi nào khác gây ra (WHO 1983), đây là
một định nghĩa có tính chất lâm sàng.
- Khí phế thũng là tình trạng căng giãn bất thường và vĩnh viễn của các
khoảng chứa khí tận cùng của các tiểu phế quản tận kèm theo sự phá hủy các
vách mà không gây xơ hóa, đây là một định nghĩa về mặt giải phẫu bệnh lý.
Trong báo cáo năm 2001, GOLD đă đề cập đến các yếu tố nguy cơ gây
bệnh trong định nghĩa về BPTNMT đó là sự tiếp xúc với các chất khí độc hại
và BPTNMT đã được định nghĩa như sau: BPTNMT là một t́ình trạng bệnh lý
đặc trưng bởi sự giảm lưu lượng thở không hồi phục. Sự giảm lưu lượng này
thường tiến triển và đi kèm đáp ứng viêm bất thường của phổi với các chất và
khí độc hại [10]. Trong báo cáo GOLD 2011, định nghĩa BPTNMT không
thay đổi đáng kể nhưng được viết lại cho rõ ràng hơn: “BPTNMT là một bệnh
có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi sự giới hạn luồng khí thở ra
dai dẳng và thường tiến triển, là hậu quả của phản ứng viêm mạn tính trong
đường dẫn khí của phổi đối với hạt và khí độc. Các cơn kịch phát và bệnh
đồng mắc góp phần làm bệnh nặng ở mỗi bệnh nhân” [12].
4
1.1.2. Cơ chế sinh bệnh học
Cơ chế bệnh sinh của BPTNMT khá phức tạp và ngày càng có những hiểu
biết mới, nhất là với những thành tựu của sinh học phân tử [2], [13], [14], [15], [16],
[17]. Có 4 vấn đề trong cơ chế bệnh sinh của BPTNMT là:
• Tăng đáp ứng viêm của đường thở.
• Mất cân bằng giữa protease và kháng protease.
• Mất cân bằng giữa hệ thống oxy hóa và kháng oxy hóa.
• Sự biến đổi của các chất trung gian hóa học.
Tăng đáp ứng viêm của đường thở
Đặc điểm nổi bật của BPTNMT là tình trạng viêm nhiễm thường xuyên,

đàn hồi phổi. Theo Barnes P.J và cộng sự trong BPTNMT sự cân bằng bị
nghiêng về hướng tăng ly giải protein do tăng các protease.
Cơ chế mất cân bằng giữa các chất oxy hóa và kháng oxy hóa:
Chứng cứ về mất cân bằng này xảy ra trong BPTNMT ngày càng
nhiều. Những dấu ấn kích hoạt oxy hóa được tìm thấy trong dịch trên bề
mặt biểu mô phế quản, trong hơi thở và trong nước tiểu của người hút
thuốc lá và bệnh nhân BPTNMT. Các gốc oxy hóa này có thể trực tiếp gây
tổn thương tổ chức hoặc ức chế α1- PI. Kích hoạt oxy hóa không những
làm tổn thương tổ chức phổi mà còn tham gia làm mất cân bằng protease -
kháng protease. Các chất oxy hóa còn hỗ trợ cho quá trình viêm và đóng
góp vào việc làm tắc nghẽn đường thở.
Các chất trung gian gây viêm liên quan đến BPTNMT:
Hóa chất trung gian Lipid: Leukotriene (LB4) hấp dẫn BC đa nhân và lympho
T. Các chemokine: Interleukin8 (IL8) hấp dẫn BC đa nhân và BC mono.
Các cytokine tiền viêm: Yếu tố hoại tử u (TNF - α), IL - 1β và IL - 6 khuếch
đại quá trình viêm góp phần gây ảnh hưởng toàn thân của BPTNMT.
6
Hướng dẫn GOLD năm 2001 đã tóm tắt cơ chế sinh bệnh học của
BPTNMT theo sơ đồ:
Sơ đồ sinh bệnh học của BPTNMT (GOLD 2001) [10]
Đáp ứng viêm, tu
bổ đường hô hấp
Bệnh lý BPTNMT
Protease
Oxy hóa
Kháng proteaseKháng oxy hóa
Viêm ở phổi
Các yếu tố cơ địa
khói thuốc và khí độc
đđđộc

lao động còn thấp đó chính là những yếu tố nguy cơ cao gây BPTNMT [23].
Không chỉ là bệnh thường gặp, tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân số hiện nay
đang gia tăng nhanh chóng, theo dự đoán năm 2012 căn bệnh này sẽ gây tử
vong rất cao và chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thư và tai biến mạch não.
Hiện nay BPTNMT đang đứng hàng thứ 6 trong 10 bệnh thường gặp.
Theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) nghiên cứu trên 2583
đối tượng tại Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2,0%, trong đó tỷ
lệ mắc ở nam là 3,4% và nữ 0,7% [26]. Từ năm 1996 - 2000 tỷ lệ các bệnh
nhân mắc BPTNMT vào điều trị tại khoa Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai là
25,1%, đứng đầu các bệnh lý về phổi [27]. Nghiên cứu của Lê Thị Vân Anh
(2006) tại thành phố Bắc Giang thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 2,3% trong đó
nam 3,0% và nữ 1,7% [28]. Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu trên 2976
đối tượng dân cư tuổi ≥ 40 thuộc ngoại thành thành phố Hải Phòng. Kết quả
cho thấy, tỷ lệ mắc BPTNMT chung cho hai giới là 5,65%; trong đó nam:
7,91% và nữ: 3,63% [29].
Theo Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự trong điều tra dịch tễ BPTNMT toàn
quốc năm 2006 cho biết trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên có khoảng
1,4 triệu người mắc BPTNMT, tỷ lệ mắc BPTNMT là 2,2%; nam: 3,5%; nữ:
1,1%. Bệnh có xu hướng tăng theo tuổi, liên quan đến hút thuốc lá và sử dụng
nhiên liệu đốt hữu cơ [30]
Theo thống kê của dự án phòng chống BPTNMT quốc gia (2013) cho
thấy tỷ BPTNMT trong cộng đồng dân cư trên toàn quốc từ 40 tuổi trở lên có
tỷ lệ mắc BPTNMT là 4,2%, trong đó nam là: 7,1% và nữ là: 1,9%. Chia theo
khu vực thì nông thôn là: 4,7%, thành thị là: 3,3% và miền núi là: 3,6%.
9
1.1.4.1. Khúi thuc lỏ, thuc lo
õy c coi la yờu tụ nguy c hang õu cua BPTNMT. Ngi hut
thuục co nguy c bõt thng chc nng phụi nhiờu hn. Theo thụng kờ cua
Hiờp hụi Lụng ngc My, 15% sụ nhng ngi hut thuục co triờu chng lõm
sang cua BPTNMT va 80 - 90 % bờnh nhõn BPTNMT ờu co hut thuục.Theo

bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng
chống đỡ của phổi. Nhiễm vi khuẩn tái diễn nhiều lần, các di chứng của bệnh
lao phổi cũng là các yếu tố nguy cơ phát triển của BPTNMT [16], [36].
1.1.4.4. Yếu tố cơ địa di truyền
Cơ địa dị ứng và tăng tính phản ứng của phế quản là yếu tố nguy cơ làm phát
triển BPTNMT. Sự thiếu hụt alpha1 - antitrypsin là yếu tố di truyền được xác định
chắc chắn gây BPTNMT. Tuy nhiên chỉ có < 1% dân số Bắc Âu bị khí phế thũng
có thiếu hụt yếu tố này.
1.1.5. Chẩn đoán BPTNMT
1.1.5.1. Chẩn đoán xác định
Cần xem xét chẩn đoán BPTNMT ở bất kỳ bệnh nhân nào có ho, khạc
đờm, hoặc khó thở và/hoặc có tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ của
BPTNMT (hút thuốc, tiếp xúc với bụi và hoá chất, khói do nấu bếp và sưởi
ấm, ô nhiễm không khí). Khẳng định chẩn đoán dựa vào sự rối loạn thông khí
tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn thấy được bằng đo thông khí phổi với
nghiệm pháp giãn phế quản [37].
Thăm dò CNTK có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán xác định,
trong phân chia giai đoạn, theo dõi điều trị và tiên lượng bệnh [38].
11
Xét nghiệm thông khí phổi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán BPTNMT. Tuy
nhiên không có CNTK không có nghĩa là không chẩn đoán được BPTNMT
Tiêu chuẩn chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2006 [37]:
 Tiền sử: Tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
 Lâm sàng: Ho, khạc đờm mãn tính kéo dài nhiều năm, tiến triển từ từ
khó thở dai dẳng, lúc đầu là khi gắng sức, sau khó thở cả khi nghỉ ngơi
 Kết quả đo thông khí phổi có biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn
không hồi phục hoàn toàn:
Chỉ số Tiffneau (FEV1/VC) < 70% và/hoặc chỉ số Gaensler (FEV1/
FVC) < 70 % sau test HPPQ.
1.1.5.2. Chẩn đoán đợt cấp

đặc biệt là vấn đề cai thuốc lá. Ở mức độ quốc gia và quốc tế nên tập trung cố
gắng để giảm tình trạng ô nhiễm không khí, xây dựng các văn bản quy phạm
pháp luật và triển khai áp dụng các văn bản đó để bảo vệ môi trường [10].
Bản hướng dẫn GOLD được cập nhất mỗi năm một lần và có những sửa
đổi căn bản 5 năm một lần (2001, 2006, 2011). GOLD đã mang lại cho các
nhà lâm sàng một cái nhìn toàn diện về bệnh, hướng dẫn chẩn đoán sớm dựa
trên cơ sở các hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được phát hiện.
13
1.2.2. Phân loại giai đoạn BPTNMT qua các thời kỳ
1.2.2.1. Phân loại theo GOLD 2001- 2010
GOLD 2001
Tháng 4/2001 GOLD đưa ra hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng
bệnh, nhấn mạnh việc cải thiện triệu chứng và tình trạng sức khỏe là mục tiêu
điều trị. Phân loại BPTNMT được chia thành 4 giai đoạn bằng cách sử dụng kết
quả đo thông khí phổi, với sự nhấn mạnh đặc biệt về FEV1 và FEV1/FVC [10].
 Giai đoạn nguy cơ (0): Bệnh nhân chỉ có triệu chứng ho khạc kéo dài, các
chỉ số thông khí phổi bình thường.
 Giai đoạn nhẹ (I): Ho khạc kéo dài
- Chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%
- Chỉ số FEV1≥ 80% SLT
 Giai đoạn trung bình (II) : Chia làm 2 mức độ:
 II A: Ho khạc đờm kéo dài, lâm sàng có khó thở hoặc không khó thở
- Chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%
- 50% ≤ FEV1< 80% SLT
 II B: Các triệu chứng lâm sàng như mức độ II A
- Chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%
- 30% ≤ FEV1 < 50% SLT
 Giai đoạn nặng (III)
- Lâm sàng có suy hô hấp hoặc suy tim phải.
- Chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%

 Giai đoạn IV (rất nặng): FEV1/FVC < 70%, FEV1 < 30% SLT.
hoặc: 30% < FEV1 < 50% SLT, kèm theo các triệu chứng của suy hô hấp
mạn tính.
Không còn giai đoạn 0 vì giai đoạn này chưa phải là bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính, nhưng ý nghĩa dự phòng của nó với cộng đồng vẫn còn
nguyên giá trị, một số các trường hợp sẽ chuyển thành bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính.
15
1.2.3. Điều trị BPTNMT theo 4 giai đoạn (GOLD 2006) [37]
Giai đoạn I:
BPTNMT nhẹ
Giai đoạn II:
BPTNMT trung bình
Giai đoạn III:
BPTNMT nặng
Giai đoạn IV:
BPTNMT rất nặng
- FEV1/FVC < 70%,
- FEV1 ≥ 80% SLT.
- Có hoặc không có
triệu chứng ho, khạc
đờm mạn tính
- FEV1/FVC < 70%
- 50% ≤ FEV1 < 80%
SLT.
- Có hoặc không có triệu
chứng mạn tính (ho,
khạc đờm, khó thở)
- FEV1/FVC < 70%
- 30% ≤ FEV1 <

Mức độ khó thở, tần suất đợt cấp, chất lượng cuộc sống.
Năm 2011, GOLD cho ra đời bản chỉnh sửa mới. Bản chỉnh sửa này dựa
trên nền tảng từ những luận điểm ban đầu kết hợp với những kiến thức mới.
Nền tảng thứ nhất đó là mục tiêu điều trị được chia thành 2 nhóm qua nhiều
lần phân tích nghiên cứu. Nhóm 1 là mục tiêu chủ yếu hướng đến việc giảm
bớt và giảm thiểu ngay tức thì các tác động của triệu chứng bệnh, nhóm 2 là
các mục tiêu giảm thiểu nguy cơ của các tác nhân gây hại cho sức khỏe có thể
ảnh hưởng đến bệnh nhân trong tương lai. Nền tảng thứ hai đó là hệ thống
đơn giản và trực quan để phân loại mức độ nghiêm trọng của BPTNMT [12].
Theo GOLD 2011 BPTNMT thường đi kèm với các bệnh lý khác mà có
thể ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng bệnh. Các bệnh tim mạch là những
bệnh đi kèm chủ yếu và có lẽ cũng là bệnh lý nguy hiểm và thường thấy nhất.
Ngoài ra các bệnh lý đi kèm khác hay gặp là đái tháo đường, loãng xương, hội
chứng trầm cảm thường không được chẩn đoán đúng mức. Nguy cơ ung thư
phổi cũng hay gặp ở bệnh nhân BPTNMT, nhiều nghiên cứu cho thấy đây là
nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở những bệnh nhân BPTNMT nhẹ [12].
Ở những tài liệu trước đây những gợi ý về kiểm soát BPTNMT chỉ dựa
vào kết quả đo CNTK. Tuy nhiên có một minh chứng rõ ràng rằng mức độ
FEV1 chỉ là một mô tả nghèo nàn về tình trạng bệnh và vì vậy việc kiểm soát
BPTNMT dựa trên cả những tác động của bệnh (gánh nặng triệu chứng và
17
mức độ hạn chế hoạt động) kèm những rủi ro trong tương lai của tiến triển
bệnh (đặc biệt là những đợt cấp) được gợi ý.
Hệ thống được xây dựng dựa trên FEV1 được gọi là hệ thống xếp giai
đoạn tại một thời điểm. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều bệnh nhân chức năng
hô hấp chỉ tương đương bệnh mức độ nhẹ, nhưng triệu chứng lâm sàng rất
nặng, rầm rộ, chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nhiều, điểm CAT cao hơn
cả những trường hợp có chức năng hô hấp kém. Theo GOLD 2011, liên quan
giữa chức năng hô hấp với điểm CAT, mMRC và tần xuất đợt bùng phát là
liên kết yếu, điều đó cho thấy không thể chỉ dựa đơn thuần vào chức năng

1.4. ĐIỀU TRỊ BPTNMT DỰA VÀO PHÂN LOẠI THEO GOLD 2011 [12]
Bảng 1.1: Hướng dẫn điều trị BPTNMT theo GOLD 2011
Nhóm Lựa chọn đầu Lựa chọn thay thế Lựa chọn khác
A
SAMA hoặc
SABA (khi cần)
LAMA
hoặc LABA
hoặc SAMA + SABA
Theophylline
B
LAMA
hoặc LABA
LAMA + LABA
Theophylline, SABA
và/hoặc SAMA
C
ICS + LAMA
hoặc LABA
LAMA + LABA
Theophylline, SABA
và/hoặc SAMA
Cân nhắc PDE4.inh
D
ICS + LAMA
hoặc LABA
ICS + LAMA + LABA
hoặc ICS+LABA + PDE4.inh
hoặc LAMA + PDE4. inh
hoặc ICS + LAMA

Casaburi và cộng sự (2005) nghiên cứu điều trị tiotropium ở bệnh nhân
BPTNMT thấy chỉ số SGRQ cao hơn so với nhóm chứng (49% so với 30%),
tỉ lệ đợt cấp giảm 22% - 44%, khó thở cải thiện (31% so với 18%). Kết hợp
giữa LABA và LAMA có hiệu quả lâm sàng tốt hơn dùng đơn thuần [44].
Van Noord và cộng sự cho thấy điều trị kết hợp salmeterol và ipratropium
bromide có hiệu quả vượt trội so với điều trị salmeterol đơn thuần [45].
Cazzola và cộng sự nghiên cứu sử dụng formoterol kết hợp với
tiotropium thấy khởi phát tác dụng nhanh hơn so với dùng tiotropium đơn
thuần và giảm rõ rệt nhu cầu sử dụng các thuốc giãn phế quản, cải thiện
chức năng phổi tốt hơn khi dùng kết hợp LABA và ICS ở bệnh nhân
BPTNMT [46].
Nghiên cứu UPLIFT: Một phân tích dưới nhóm đặc hiệu của thử nghiệm có
đối chứng ngẫu nhiên. Tiotropium (n = 2986), Control (n = 3006) cho thấy:
21
SGRQ là tốt hơn mọi thời điểm trên nhóm dùng tiotropium so với nhóm
đối chứng. Thời gian đến đợt cấp đầu tiên và thời gian đến đợt cấp phải nhập
viện cũng dài hơn ở nhóm dùng tiotropium so với nhóm chứng [47], [48].
Sự kết hợp giữa LABA, LAMA và ICS là liệu pháp điều trị mới trong
điều trị BPTNMT. Sự kết hợp này cho thấy có hiệu quả cải thiện chức năng
phổi, chất lượng cuộc sống tốt hơn và giảm tỉ lệ nhập viện.
Shawn D. Aaron và cộng sự cho thấy sau một năm điều trị kết hợp
salmeterol/fluticasone cộng tiotropium cải thiện chức năng phổi, chất lượng
cuộc sống và giảm tỉ lệ nhập viện rõ rệt so với dùng tiotropium đơn thuần ở
những bệnh nhân BPTNMT trung bình và nặng [49].
GOLD 2011 khuyến cáo mỗi chế độ điều trị dược lý cần được riêng biệt hóa
cho từng bệnh nhân theo mức độ trầm trọng của các triệu chứng, nguy cơ đợt cấp,
các bệnh lý đi kèm, mức độ sẵn có của thuốc và phản ứng của người bệnh.
1.5. TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ ĐO LƯỜNG TÌNH TRẠNG
SỨC KHỎE Ở BỆNH NHÂN BPTNMT
1.5.1. Bộ câu hỏi CAT

viện Bạch Mai phụ trách dự án này. Với mục tiêu nhằm xây dựng hệ
thống cơ sở, mạng lưới quản lý, nâng cao nhận thức chất lượng chẩn đoán
và điều trị, dự phòng BPTNMT. Gần ba năm qua dự án đã được triển khai
ở 25 địa phương trên toàn quốc. Các địa phương này được cấp máy đo
CNHH, ống nghe, huyết áp và các trang thiết bị y tế cần thiết khác. Dự án
đã tổ chức được nhiều lớp đào tạo tại các tỉnh thực hiện dự án với > 2000
học viên. Nội dung đào tạo: Chẩn đoán, điều trị dự phòng BPTNMT, kiến
thức cơ bản về đo và phân tích kết quả CNTK.
23
Dự án đã tổ chức các buổi khám sàng lọc tại các phường xã của tỉnh
thực hiện dự án, thu hút được 52.056 người đến khám, phát hiện được > 500
bệnh nhân BPTNMT mới.
1.6.2. Sẵn có các công cụ đánh giá
 Hô hấp kế đã được trang bị ở nhiều cơ sở y tế.
 Thang điểm đánh giá BPTNMT đã được dịch ra tiếng Việt và kiểm định
trên dân số Việt Nam: mMRC, CAT.
 Nhân viên y tế đã quan tâm nhiều đến việc khai thác tiền căn đợt cấp
BPTNMT.
1.6.3. Sẵn có các phương tiện can thiệp trong COPD
 Điều trị không dùng thuốc: Cai thuốc lá có tài liệu hướng dẫn, thuốc hỗ
trợ cai thuốc lá.
 Điều trị dùng thuốc: Thuốc sẵn có LAMA (tiotropium), ICS/LABA
(fluticasone/salmeterol, budesonide/formoterol) và được BHYT chi trả.
Đây là những yếu tố thuận lợi để áp dụng phân loại GOLD 2011 trong chẩn
đoán, điều trị, dự phòng BPTNMT tại bệnh viện Bạch mai trong thời gian tới
và áp dụng ở các tuyến y tế cơ sở trong tương lai.
24
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng cỡ mẫu thuận tiện.
2.3.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.3.1. Phỏng vấn theo thang đo mMRC [51] (phụ lục 1) và bộ câu hỏi
CAT [50] (phụ lục 2)
2.3.3.2. Khám lâm sàng
Khai thác tiền sử, bệnh sử, đặc điểm kinh tế xã hội như: Tuổi, giới, nghề
nghiệp, tình trạng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, tiền sử mắc và điều trị các
bệnh phối hợp, số đợt cấp/12 tháng trước, khám lâm sàng toàn diện, đo huyết
áp, chiều cao, cân nặng….
Chỉ tiêu lâm sàng:
 Tuổi, giới, nghề nghiệp.
 Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào: Thời gian hút, tính chỉ số bao – năm =
số bao/ngày x số năm hút.
 Số đợt cấp trong 12 tháng trước: Bệnh nhân được ghi nhận có tiền sử
đợt cấp BPTNMT khi:
 Bệnh nhân phải nhập viện vì các triệu chứng : Khó thở, ho, sốt
 Bệnh nhân có giấy ra viện với chẩn đoán: Đợt cấp BPTNMT.
 Triệu chứng cơ năng: Ho, khó thở
 Khám phổi: Phát hiện lồng ngực hình thùng, các loại ran ở phổi (ran
rít, ran ngáy, ran nổ, ran ẩm), tần số thở

Trích đoạn PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ NẶNG BPTNMT THEO HƯỚNG DẪN ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHểM ĐỐI TƯỢNG NGHIấN CỨU PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ BPTNMT THEO HƯỚNG DẪN GOLD Phõn loại mức độ bệnh nặng theo GOLD2011 Thang đo mMRC (Modified Medical research Coucil
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status