ảnh hưởng của khu liên hợp xử lý chất thải rắn nam sơn đến lao động - việc làm trên địa bàn huyện sóc sơn, thành phố hà nội - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA KHU LIÊN HỢP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
NAM SƠN ĐẾN LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên : Nguyễn Thị Tươi
Lớp : Kinh tế và quản lý môi trường
Khóa : 53
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Ngô Thanh Mai
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung đề tài nghiên cứu là do tôi thực hiện, không sao
chép, cắt ghép các đề tài nghiên cứu hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi
xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường.
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Ký tên
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI CẢM ƠN

KCN Khu công nghiệp
BĐKH Biến đổi khí hậu
GTSX Giá trị sản xuất
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
Về xã hội, giải quyết việc làm tạo ra những điều kiện KT-XH, làm ổn định đời sống, giảm các tệ nạn
xã hội, góp phần phát triển xã hội lành mạnh, văn minh. Kích thích người lao động sáng tạo và
mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ, đảm bảo công bằng xã hội 19
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
CNH – HĐH được coi là con đường phát triển tất yếu của các quốc gia đang
phát triển trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (tháng 12 – 1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự
thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ
trương công nghiệp hóa thời kì 1960 – 1985.
1
Đây là một sự kiện đánh dấu bước
ngoặt lớn trong lịch sử nước ta cả về kinh tế, văn hóa, xã hội. Công cuộc CNH –
HĐH đất nước trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cơ sở
vật chất - kĩ thuật của đất nước tăng lên đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng CNH – HĐH đã đạt được những kết quả nhất định, nền kinh tế đạt tốc độ

1986, nhà máy sản xuất phân bón Cầu Diễn được thành lập sử dụng công nghệ ủ
hiếm khí để sản xuất phân bón nhưng gặp vấn đề trong việc tiêu thụ phân. Năm
1993, bãi rác Mễ Trì được đưa vào vận hành, tuy nhiên, vẫn không thể đáp ứng nhu
cầu xử lý rác của cả
Thành phố. Việc xây dựng một khu xử lý tập trung có thể thu gom, xử lý
lượng rác thải gia tăng nhanh chóng là một yêu cầu tất yếu. Do vậy, năm 1995, Khu
liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn được khởi công xây dựng nhằm giải quyết vấn
đề cấp bách của Thành phố về xử lý chất thải.
Khu xử lý chất thải đã đem lại nguồn thu cho ngân sách huyện Sóc Sơn, nhiều
kilomet đường liên xã được tu sửa, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi về giao thông,
lưu thông hàng hóa. Bên cạnh đó, Khu xử lý cũng làm xuất hiện việc làm mới cho
người dân, từ đó ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập, xây dựng kiên cố nhà cửa.
Hơn nữa, việc xuất hiện khu xử lý trong huyện đã giải quyết 90% lượng rác của
Thành phố, thu gom và xử lý một khối lượng lớn rác vứt bừa bãi trong khu vực. Từ
đó, nhận thức của người dân về rác thải, những ảnh hưởng của rác thải, cũng như sự
cần thiết của xử lý rác được nâng cao.
Tuy nhiên, Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn cũng đem lại không ít
những ảnh hưởng tiêu cực cho địa bàn huyện Sóc Sơn. Về mặt kinh tế, khu xử lý
với tổng diện tích 83.3ha, lấy chủ yếu từ đất hoạt động nông nghiệp đã làm giảm
diện tích đất nông nghiệp, giảm diện tích cây lương thực, là nguồn thực phẩm chủ
yếu của người dân. Ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của người dân chỉ biết “chân
lấm tay bùn”, không được tiếp xúc với khoa học, công nghệ, kĩ thuât đã xảy ra vấn
đề thất nghiệp và không đủ việc làm. Hơn nữa, giá trị những mảnh đất của một
huyện nghèo của Thành phố trước đã thấp nay lại ngày càng thấp hơn do những ảnh
hưởng tiêu cực từ “bãi rác”. Về mặt xã hội, nhiều hộ gia đình sau khi nhận tiền bồi
thường từ việc di dời để nhường đất cho “bãi rác” cùng với việc mất đi kế sinh nhai,
không thể chuyển đổi việc làm. Số tiền đền bù tương đối lớn đã phát sinh nhiều tệ
nạn xã hội, tác động xấu đến an ninh trật tự của khu vực. Các xe vận chuyển rác đã
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
2

+ Ảnh hưởng của Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn đến sức khỏe của
người lao động.
+ Ảnh hưởng của Khu liên hơp xử lý chất thải rắn Nam Sơn đến thu nhập của
người lao động.
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
3
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
 Đề xuất một số gợi ý chính sách cho vấn đề lao động – việc làm tại Khu
liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn, Thành phố Hà Nội
3. Phạm vi nghiên cứu
 Phạm vi không gian: Tác giả tiến hành nghiên cứu tại ba xã Nam Sơn, Bắc
Sơn, Hồng Kỳ do Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn nằm trên địa phận của
3 xã, người “bới rác” chủ yếu nằm trong ba xã này nên ảnh hưởng của khu liên hợp
xử lý rác thải cũng chỉ tác động trong phạm vi này là chủ yếu.
 Phạm vi thời gian: Tác giả lựa chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến
năm 2013 vì đây là thời điểm nghề “bới rác” bắt đầu được phát triển mạnh trong
vùng. Khoảng thời gian này cũng đủ dài để có thể thấy được tác động đến sức khỏe
của người lao động cũng như môi trường tự nhiên của khu vực. Vì vậy, số liệu thứ
cấp được sử dụng để phân tích và đánh giá được thu thấp trong giai đoạn 2000 –
2013. Để phân tích những ảnh hưởng của Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn
đến lao động - việc làm, số liệu sơ cấp được thu thập vào thời điểm tháng 3 năm
2014.
 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu trên những người dân lao động có việc
làm mới sau khi Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn hình thành và đi vào
hoạt động. Đây là những lao động làm việc trực tiếp trên những “cánh đồng rác”,
trực tiếp thu gom, chọn lọc rác trong khu xử lý chất thải.
4. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp điều tra, thực địa
Để tiến hành thu thập thông tin số liệu sơ cấp, tác giả đã tiến hành một cuộc

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT THẢI RẮN VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA KHU XỬ LÝ CHẤT THẢI ĐẾN LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM
1.1. Cơ sở lý luận chung về chất thải rắn
1.1.1. Khái niệm chất thải rắn
“Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.”
4

4
Luật Bảo vệ môi trường 2005
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
5
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
Nghị định số 59/2007/NĐ - CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất
thải rắn quy định chất thải rắn là “chất thải ở thể rắn, được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.”
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6696:2009, CTR là “các chất thải dạng rắn
phát sinh từ các hoạt động của con người hoặc các khu công nghiệp, bao gồm: chất
thải từ các khu dân cư, đường phố, các hoạt động thương mại, dịch vụ, văn phòng,
xây dựng, sản xuất và các chất thải không độc hại từ các khu vực y tế.”
Giáo trình Công nghệ môi trường có viết: “Tất cả phần vật chất dạng rắn bị
loại trong hoạt động kinh tế xã hội, đời sống sản xuất và tiêu dùng.” Theo định
nghĩa về chất thải của Giáo trình Kinh tế chất thải: “chất thải là mọi thứ mà con
người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi
trường”
“CTR bao gồm các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con
người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi chúng không
còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa, bao gồm tất cả các chất
rắn hỗn hợp thải ra từ cộng đồng dân cư đô thị cũng như các CTR đặc thù từ các

Công ty môi trường Tầm nhìn xanh
1.1.2. Phân loại chất thải rắn
Hiện nay, các nhà kinh tế xã hội phân chia CTR nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình thu gom, quản lý, xử lý. Có nhiều cách phân loại CTR như theo thành
phần hóa học, theo khả năng cháy nổ, theo trạng thái… nhưng cách phân loại phổ
biến nhất là theo nguồn gốc và theo tính chất.
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn gốc hình thành
Theo nguồn gốc, CTR được chia thành các nhóm sau:
CTR sinh hoạt là CTR được thải ra từ quá trình sinh hoạt của con người ở các
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
7
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
khu dân cư, khu thương mại và dịch vụ, khu cơ quan và trường học, khu vui chơi
giải trí, khu ăn uống của bệnh viện, khu ăn uống của cơ sở công nghiệp và tự hoạt
động vệ sinh đường phố như thức ăn thừa, rau, củ, quả, chai, lọ, than, giấy, túi
nilon… Hầu hết CTR sinh hoạt chứa phần lớn các chất hữu cơ, ít chất thải nguy hại.
CTR công nghiệp là CTR được thải ra trong quá trình sản xuất của các cơ sở
sản xuất kinh doanh, xí nghiệp, nhà máy, KCN. CTR công nghiệp bao gồm CTR
phát sinh từ các dây chuyền sản xuất (nguyên, nhiên liệu, sản phẩm/bán sản phẩm
phế thải), từ hệ thống xử lý chất thải (CTR, bùn). Các CTR công nghiệp có thể được
thu gom đem xử lý riêng hoặc được đổ chung vào bãi thải của đô thị. CTR công
nghiệp có thành phần rất phức tạp và độc hại.
CTR nông nghiệp là CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao
gồm bao bì, phân bón, thuốc BVTV, phân gia súc gia cầm, tro, trấu, rơm…
CTR y tế là những CTR phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở
y tế, phòng khám, bệnh viện…như kim, bông băng…CTR y tế được coi là CTR
nguy hại vì có chứa các loại vi khuẩn, vi sinh vật có hại có thể lây lan mầm bệnh.
1.1.2.2. Phân loại theo tính chất
Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải tới môi trường xung quanh, CTR

dịch vụ công cộng (khu vui chơi giải trí, công viên, vệ sinh đường phố…).
Đối với CTR công nghiệp, “CTR phát sinh từ các KCN, khu chế xuất, khu
công nghệ cao (dưới đây gọi chung là khu công nghiệp - KCN) bao gồm CTR sinh
hoạt và CTR công nghiệp. Trong đó, CTR công nghiệp được chia thành CTR thông
thường và CTNH. Lượng CTR phát sinh từ các KCN phụ thuộc vào diện tích cho
thuê, diện tích sử dụng; tính chất và loại hình công nghiệp của KCN.”
7
Một nguồn khác phát sinh CTR công nghiệp là từ hoạt động khai thác khoáng
sản như khai thác than (chủ yếu xuất phát từ hoạt động khai thác, bóc đất mở vỉa,
hoạt động giao thông vận tải và hoạt động chế biến tuyển than); khai thác bô-xít
(chất thải là bùn đỏ do không thể hòa tan, trơ, không biến chất); khai thác dầu khí
(từ quá trình thăm dò, khai thác dầu khí ngoài khơi và chế biến dầu khí ven bờ);
hoạt động của ngành đóng mới, sửa chữa và phá dỡ tàu biển (từ công đoạn làm sạch
bề mặt kim loại sử dụng cát, hạt kim loại, hạt Nix thải); công nghiệp nhiệt điện (từ
quá trình đốt than); công nghiệp rượu, bia, nước giải khát; hoạt động nhập khẩu phế
liệu (nhập lậu pin, ắc-quy, bản mạch … cũ, hỏng).
CTR nông nghiệp thông thường phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông
nghiệp như trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ…), thu hoạch nông sản (rơm,
rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô…), bao bì đựng phân bón, thuốc BVTV, các chất
7
Báo cáo Môi trường Quốc gia 2011 – Chất thải rắn
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
9
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
thải từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thủy sản…CTR nông
nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp như chai lọ đựng
hóa chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng; hoạt động chăm sóc thú y
như chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ, dụng cụ chăm sóc thú y. CTR nông
nghiệp chủ yếu là chất thải có thể phân hủy sinh học như phân gia cầm, gia súc, rơm

nhiễm
nước
ngầm
Ô
nhiễm
thực
phẩm
Ô
nhiễm
nước
mặt
Ô
nhiễm
thực
phẩm
Ô
nhiễm
thực
phẩm
Suy
giảm

hấp
Ô
nhiễm
do tiếp
xúc
Ô
nhiễm
không

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
nhiễm đáng kể do khói, tro, bụi từ quá trình đốt rác. Nếu rác không được đốt hoàn
toàn còn có thể phát sinh các khí rất độc hại đối với sức khỏe như CO, NO
x
… Một
số kim nặng và hợp chất chứa kim loại như thủy ngân, chì có thể bay hơi, bám vào
bụi, phát tán vầ gây ô nhiễm không khí.
Ngoài những phần được thu gom, xử lý, một lượng CTR không được thu gom
do người dân vứt trực tiếp ra khu vực không có xe thu gom rác, các ao, hồ, sông,
ngòi làm tắc nghẽn các cống thoát nước, ô nhiễm nguồn nước. Các chất hữu cơ
phân hủy gián tiếp gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, phần lớn các khu xử lý
hiện nay không đảm bảo các tiêu chuẩn xử lý, do vậy, nước rỉ rác rò rỉ ngấm vào
đất, một mặt gây ô nhiễm nguồn nước mặt ở các khu vực ao, hồ xung quanh, một
mặt gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.
CTR tích lũy trong đất trong thời gian dài cũng là nguy cơ tiềm tàng trực tiếp
gây ÔNMT đất, gián tiếp gây ô nhiễm môi trường nước, không khí. Các loại CTR
xây dựng, chất thải kim loại, CTR nông nghiệp không được thu gom và xử lý kịp
thời tồn tai lâu trong đất sẽ qua chuỗi thức ăn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người. Đặc biệt là các CTNH như các chất tẩy rửa, sơn, kim loại nặng, hóa chất
BVTV, phân bón, pin… Ngày nay, với sự thay đổi thói quen tiêu dùng, với ưu điểm
tiện dụng, túi nilon được dùng ngày càng phổ biến, người ta có thể thấy túi nilon ở
bất cứ nơi nào. Ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, lượng túi nilon
thải ra môi trường ngày càng nhiều mà tác hại lại không thể lường trước được, hoặc
nhiều người biết đến những tác hại đó nhưng cố tình cho qua. Túi nilon là loại chất
khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất từ hàng chục năm cho tới một vài thế
kỉ mới có thể phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên. Sự phân hủy không hoàn toàn của
túi nion sẽ để lại trong đất những mảnh vụn, không có điều kiện cho vi sinh vật phát
triển sẽ làm cho đất nhanh chóng bị bạc màu, mất độ tơi xốp. Sự tồn tại của nó
trong môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đất bởi túi nilon lẫn

xuất kinh doanh và người dân.
1.1.4.3. Tác động của chất thải rắn tới sức khỏe con người
Ngoài những ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, KT-XH, CTR còn gây
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đặc biệt là những người sống gần
những khu vực ô nhiễm như khu xử lý rác, khu làng nghề, KCN… CTR có thể làm
gia tăng sự lan truyền các loại bệnh như tiêu chảy, bệnh da liễu, hô hấp, cúm lỵ,
giun, lao, dạ dày, các vấn đề về đường ruột. Nguy cơ tiềm ẩn truyền nhiễm AIDS.
Gia tăng các bệnh dị ứng, tim mạnh, thần kinh, thậm chí cả ung thư.
Các chất thải khó phân hủy và kim loại nặng được thải ra môi trường, ngấm
vào đất, tích lũy trong các nông sản trồng trên khu vực đó cũng như trong mô tế bào
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
13
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
động vật, qua chuỗi thức ăn đi vào cơ thể con người gây một hệ lụy vô cùng nghiêm
trọng như vô sinh, dị tật ở trẻ nhỏ, bệnh bẩm sinh, ung thư…CTR nông nghiệp (xác
chết động vật, phân động vật…) gây ô nhiễm nguồn nước, làm tăng tỷ lệ nhiễm
trứng giun, sán trong đất, nước, cơ thể con người.
Hình 3: Sơ đồ tác động trực tiếp của rác thải đối với người và động vật
Nguồn: Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bình Định, Dự án Cấp nước và Vệ sinh tỉnh Bình Định,
Việt Nam
1.1.5. Phương pháp xử lý chất thải rắn
Xử lý CTR là một trong những vấn đề được nhiều sự quan tâm trong thời gian
gần đây. Có nhiều cách thức xử lý CTR. Tuy nhiên, điều đầu tiên được nghĩ đến đó
là tái chế. Đây là biện pháp tái sử dụng những CTR còn có giá trị sử dụng. Tái chế
hiệu quả sẽ giảm tiêu thụ năng lượng, bảo tồn các nguyên liệu thiên nhiên, đồng
thời có thể giảm chi phí, tránh các nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm. Các
doanh nghiệp cũng có thể gia tăng uy tín thông qua việc sử dụng tài nguyên hiệu
quả, tạo công ăn việc làm trong ngành công nghiệp tái chế. Tuy nhiên, khi xử lý
CTR cần nắm được nguyên tắc xử lý, đối với những chất thải không còn giá trị sử

Đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 4. Nguyên tắc xử lý chất thải rắn
Nguồn: Bài giảng Công nghệ môi trường, GS. TS Đặng Kim Chi, TS. Đỗ Khắc Uẩn
 Phương pháp chôn lấp là phương pháp truyền thống đơn giản nhất, có chi
phí thấp và được sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển. Với phương pháp
này, rác sau khi được xe chuyên chở đổ xuống, sẽ được xe ủi san bằng, đầm nén
trên bề mặt và đồ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt muỗi, rắc vôi bột…
theo thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích
của bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì
chuyển sang bãi mới. Phương pháp này có ưu điểm là công nghệ đơn giản, rẻ tiền,
phù hợp với nhiều loại rác, chi phí vận hành bãi rác thấp. Tuy nhiên, nhược điểm là
Kinh tế và Quản lý Môi trường K53
15
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề tài nghiên cứu khoa học
chiếm diện tích đất lớn, nguy cơ gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến những khu vực
xung quanh cao, khó có thể xây dựng được nhiều bãi rác.
 Phương pháp thứ hai được sử dụng cũng khá phổ biến là phương pháp đốt
rác. Phương pháp này giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng,
dung tích chất thải rắn giảm nhiều so với ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thu gom và nhu cầu dung tích chứa, đồng thời, dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp
tập trung. Tuy nhiên, phương pháp này gây ô nhiễm không khí cho khu vực xung
quang, mất mỹ quan đô thị, đồng thời chi phí xử lý cũng cao hơn so với phương
pháp chôn lấp, đòi hỏi phải có kỹ thuật công nghệ.
 Phương pháp ủ sinh học (compost). Phương pháp này là quá trình ổn định
sinh hóa các chất hữu cơ để hình thành các chất mùn. Quá trình ủ hữu cơ là một
phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn
hoặc hoạt chất mùn. Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa vi
sinh vật gây bệnh và hạt cỏ. Xử lý chất thải làm phân hữu cơ là biện pháp có hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status