một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của công ty tnhh bất động sản fpt - Pdf 23

-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

ĐỖ THỊ GIANG
Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao chÊt lîng c«ng t¸c
qu¶n lý dù ¸n ®Çu t x©y dùng cña
C«ng ty TNHH BÊt ®éng s¶n FPT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hµ Néi – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-2-
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

ĐỖ THỊ GIANG
Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao chÊt lîng c«ng t¸c
qu¶n lý dù ¸n ®Çu t x©y dùng cña
C«ng ty TNHH BÊt ®éng s¶n FPT
Ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Chuyên ngành: Kinh tế xây dựng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Cán bộ hướng dẫn: TS. NGUYỄN PHẠM QUANG TÚ
Hµ Néi - 2013
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-3-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đầu tư các dự án xây dựng không phải một trào lưu nhất thời, đó là
hướng đầu tư đánh dấu sự trưởng thành cả về chất và về lượng của doanh
nghiệp. Sau thời gian không ngừng lớn mạnh, phát triển đa ngành nghề và đạt

FLand nói chung.
2. Mục đích của đề tài
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về dự án đầu tư xây dựng công
trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Trên cơ sở đó vận dụng để
đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án các dự án đầu tư xây dựng tại
Công ty TNHH Bất động sản FPT hiện nay rút ra những tồn tại hạn chế và
nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó. Đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công ty.
3.Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Công ty TNHH Bất động sản FPT.
Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý dự án trong các giai đoạn đầu tư
xây dựng các công trình tại Công ty TNHH Bất động sản FPT.
Luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, chuyên gia,
các phương pháp thống kê kết hợp với khảo sát thực tế,
Phương pháp phỏng vấn để tập hợp các thông tin sơ cấp và kiểm định
các kết quả nghiên cứu, các nhận định và đánh giá của tác giả. Các số liệu thứ
cấp bao gồm các tài liệu thống kê, báo cáo đã được công bố của Công ty và
Hồ sơ của các Dự án đã và đang thực hiện.
Vận dụng các chính sách, văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước,
Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch - Đầu tư về quản lý đầu tư xây dựng công trình
vào thực tiễn nghiên cứu đề tài.
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-5-
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Làm phong phú thêm nguồn cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây
dựng
công trình .
Giải quyết một số vấn đề về nâng cao chất lượng quản lý dự án tại

nguồn lực.
Theo Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 [13], dự án đầu tư là tập hợp
các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành hoạt động đầu tư trên địa bàn
cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Chọn [7]: “Dự án đầu tư là tập hợp các
đề xuất có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý về mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ
chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội làm cơ sở cho việc quyết định bỏ
vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp và hiệu quả kinh
tế xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội lớn nhất có thể được.”
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-7-
Theo Luật xây dựng số 16/2003 ngày 26/11/2003 : “Dự án đầu tư xây
dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây
dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích
phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng của công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ
trong một thời gian nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm
phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”
1.1.2.Vai trò của dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng thường có giá trị lớn và ảnh hưởng tới nhiều
mặt của đời sống xã hội. Đầu tư xây dựng cũng như tất cả các hoạt động đầu
tư khác là cốt lõi là động lực cho sự tăng truởng và phát triển nền kinh tế.
Việc ngừng trệ đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến các dự án đầu tư xây dựng
mà còn ảnh hưởng đến rất nhiều nghành kinh tế, dịch vụ liên quan khác.
Đối với tổng cầu: Đầu tư xây dựng là một yếu tố quan trọng cấu thành
tổng cầu. Bởi vì, đầu tư một mặt tạo ra các công trình xây dựng cho nền kinh
tế mặt khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn nguyên vật liệu và
dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu tư.
Đối với tổng cung: đầu tư xây dựng đòi hỏi một nguồn lực, một khối
lượng vốn, thời gian khá dài mới có thể phát huy tác dụng. Do vậy, khi các
thành quả này phát huy tác dụng làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng lên.

án.
- Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý: dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi khả
năng và chi phí quản lý cao hơn so với các dự án thông thường khác. Việc đầu tư
xây dựng các dự án này rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian dài. Do đó, các dự án
đầu tư xây dựng đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng.
- Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội: các dự án đầu tư
xây dựng chịu sự chi phối của các yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội.
- Chịu tác động rất lớn của sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế
và những biến động về tài chính, tiền tệ, khủng hoảng kinh tế… Những thay
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-9-
đổi của nền kinh tế có tác đến nhiều mặt của dự án: Có thể nói tình hình sức
khoẻ của nền kinh tế nói chung luôn phản ảnh trực tiếp và khách quan lên
quyết định đầu tư xây dựng. Sự phát triển hay suy giảm của nền kinh tế trực
tiếp ảnh hưởng tới giá các nguyên vật liệu đầu vào dự án, tới tiến độ thực hiện
dự án do không có nguồn vốn thực hiện dự án hay thậm chí có thể dẫn tới dự
án có thể bi dừng đầu tư.
- Chịu tác động của yếu tố thời cơ: Thời điểm đưa dự án vào kinh
doanh có thể quyết định phần lớn tới hiệu quả dự án đạt được: Trong tình
hình nền kinh tế biến động phức tạp, việc nghiên cứu, nắm bắt cơ hội đầu tư
dự án cũng như đưa dự án vào kinh doanh nếu thực hiện tốt sẽ mang lại hiệu
quả to lớn thậm chí vượt hơn cả những chỉ tiêu kế hoạch đặt ra. Ngược lại, dự
án không mang lại hiệu quả, thậm chí lỗ dẫn tới tình trạng tài chính bi đát của
chủ đầu tư: bán dự án cắt lỗ, phá sản, giải thể
- Thiệt hại ứ đọng vốn, thiệt hại về kinh tế rất lớn có thể xảy ra nếu dự
án chậm về tiến độ … Do vậy yêu cầu thực hiện nhanh dự án có vai trò quan
trọng đối với việc đầu tư dự án.
- Chế độ chính sách của nhà nước chi phối lớn tới dự án đầu tư xây
dựng, đối với các chính sách khuyến khích phát triển thì đó là động lực thúc
đẩy sự phát triển không ngừng của xây dựng cơ bản, ngược lại sẽ hạn chế

lập quy hoạch trình Chủ đầu tư thẩm định trước khi sở Quy hoạch kiến trúc
thẩm định lần 2 xin UBND thành phố hoặc quận huyện phê duyệt nhiệm vụ
quy hoạch;
- Đồ án quy hoạch tỷ lệ 1/2000, 1/500 được lập bởi đơn vị thuê lập quy
hoạch trình Chủ đầu tư thẩm định lần 1 trước khi Sở Quy hoạch Kiến trúc thẩm
định lần 2 xin UBND thành phố hoặc quận huyện phê duyệt đồ án quy hoạch;
- Lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trình cơ quan có thẩm
quyền thẩm định trước khi được UBND thành phố hoặc quận huyện phê
duyệt phương án, ra quyết định thu hồi đất;
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-11-
- Đánh giá tác động môi trường;
- Xin công văn thỏa thuận các chuyên ngành: Sở tài nguyên môi trường (thỏa
thuận về môi trường và thoát nước), cấp điện, cấp nước, phòng cháy chữa cháy;
- Khảo sát địa chất phục vụ thiết kế cơ sở;
- Lập thiết kế cơ sở dự án đầu tư (báo cáo kinh tế kỹ thuật) được đơn vị
lập trình Chủ đầu tư thẩm định trước khi ra quyết định phê duyệt thiết kế cơ
sở và dự án đầu tư;
- Đăng ký dự án (đăng ký đầu tư) với cơ quan thẩm quyền;
- Thực hiện các thủ tục xin giao đất/ thuê đất trình Sở Tài nguyên và
Môi trường, UBND thành phố, quận huyện ra quyết định giao đất/ thuê đất;
- Các công tác chuẩn bị đầu tư khác…
b) Giai đoạn thực hiện đầu tư
- Thực hiện cắm mốc, bàn giao ranh giới đất ngoài thực địa;
- Giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người dân có
tài sản trong ranh giới khu đất dự án;
- Nộp tiền sử dụng đất sau khi hoàn thiện các thủ tục kê khai nộp tiền,
xác định mức thu tiền sử dụng đất;
- Xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất dự án;
- Thiết kế các bước tiếp theo: Thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi

Quản lý dự án là nhiệm vụ cơ bản của chủ đầu tư, là trung tâm của các
mối quan hệ tác động. Thực chất quản lý dự án của chủ đầu tư là những hoạt
động quản lý của chủ đầu tư hoặc một tổ chức được chủ đầu tư uỷ quyền (ban
quản lý dự án hay đơn vị tư vấn quản lý dự án) nhằm đạt mục tiêu của dự án.
Khái niệm về quản lý dự án hiện nay có khá nhiều quan điểm khác
nhau, có thể kể đến những quan điểm sau:
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-13-
Theo quan điểm của Viện quản lý dự án quốc tế (PMI – 2000) “ quản
lý dự án là việc áp dụng kiến thức, các kỹ năng, các công cụ và các kỹ thuật
vào các hoạt động dự án nhằm đáp ứng các yêu cầu của dự án”.
Theo TS. Mai Văn Bưu [2], quản lý dự án được hiểu một cách chung
nhất là: “ Quản lý dự án là tổng thể những tác động có hướng đích của chủ
thể quản lý tới quá trình hình thành, thực hiện và hoạt động của dự án nhằm
đạt tới mục tiêu dự án trong những điều kiện và môi trường biến động. Một
cách cụ thể hơn, quản lý dự án là quá trình chủ thể quản lý thực hiện các
chức năng lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra dự án nhằm đảm bảo
các phương diện thời hạn, nguồn lực (chi phí) và độ hoàn thiện (chất lượng)
của dự án”.
Theo PGS.TS. Từ Quang Phương [10], “quản lý dự án là quá trình lập
kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình triển khai của
dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi
ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất
lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”.
Theo lý thuyết hệ thống thì: “Quản lý dự án là điều khiển một quá trình
hoạt động của hệ thống một quỹ đạo mong muốn, nhằm đạt được mục đích
cuối cùng là tạo ra các sản phẩm như mục tiêu đề ra”. Như vậy, theo cách này
quản lý dự án là điều khiển một hệ thống đã có trước, với một loạt các điều
kiện ràng buộc, các nguyên tắc, các phát sinh xảy ra trong quá trình sản xuất.
Theo TS.Ben Obinero Uwakweh ( trường Đại học Cincinati-Mỹ):

Môi trường làm việc của dự án mang tính đa phương, dễ xảy ra xung đột
quyền lợi giữa các chủ thể.
- Công tác QLDA Dự án đầu tư xây dựng phụ thuộc vào quy mô, tính
chất của công trình. Quy mô tính chất công trình càng lớn càng đòi hỏi trình
độ quản lý nghiêm ngặt và chặt chẽ.
- Công tác QLDA Dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi nhân lực có trình độ
cao và năng lực quản lý tốt đồng thời có kiến thức về xây dựng công trình.
1.2.3. Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng. Gồm có các nội dung chính sau:
1. Quản lý dự án theo phạm vi công việc
Quản lý dự án đầu tư của chủ đầu tư theo phạm vi công việc từ giai
đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc đầu tư và khai thác, vận hành dự
án bao gồm những nội dung quản lý chủ yếu được thể hiện như sau:
Hình 1.2. Sơ đồ quản lý dự án theo phạm vi công việc
2. Quản lý dự án về thời gian
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-16-
Quản lý thời gian dự án là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến
độ nhằm đảm bảo thời gian hoàn thành dự án đúng kế hoạch. Nó chỉ rõ mỗi
công việc kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào hoàn thành, khi nào kết
thúc và toàn bộ dự án thực hiện bao lâu phải hoàn thành khi nào?
Quản lý thời gian dự án bao hàm việc đưa ra một lịch trình cụ thể phải
làm và điều khiển các công việc nhằm đảm bảo rằng lịch trình đó phải được
thực hiện. Kế hoạch tiến độ dự án được phê duyệt là cơ sở kiểm soát danh mục
và khối lượng công việc phải hoàn thành là cơ sở phân phối nguồn lực, nhất là
vốn đầu tư của dự án.
Một số hoạt động quản lý thời gian:
- Xác định công việc cần thực hiện của dự án
- Xác định danh mục và khối lượng công việc
- Thiết lập tiến độ thực hiện dự án, tiến độ thực hiện dự án được lập

- Kiểm soát việc xác định dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình
thông qua việc kiểm tra đầy đủ và tính hợp lý của các dự toán bộ phận công
trình, hạng mục công trình và kiểm tra sự phù hợp giữa dự toán bộ phận, hạng
mục công trình với giá trị tương ứng trong kế hoạch chi phí sơ bộ; lập kế
hoạch chi phí trên cơ sở dự toán để phê duyệt và xác định dự toán gói thầu
trước khi đấu thầu.
- Kiểm soát chi phí trong việc đấu thầu và lựa chọn nhà thầu: kiểm soát
giá gói thầu, hình thức hợp đồng, phương thức thanh toán và các điều khoản
khác có liên quan tới chi phí trong hợp đồng phù hợp cho các gói thầu của
công trình.
- Kiểm soát việc thực hiện, thanh quyết toán các hợp đồng xây dựng và
các công việc không có trong hợp đồng xây dựng.
- Kiểm soát chi phí vận hành, bảo trì, sửa chữa, chi phí quản lý và giái
trị thanh lý công trình.
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-18-
4. Quản lý dự án về chất lượng:
Quản lý chất lượng dự án là quá trình triển khai giám sát các tiêu chuẩn
chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng của các dự án phải
đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư được cụ thể hóa trong quy chuẩn xây
dựng, tiêu chuẩn xây dựng áp dụng cho dự án và yêu cầu của hồ sơ thiết kế xây
dựng công trình.
Quản lý chất lượng bao gồm cả việc lên kế hoạch nhằm đạt được các yêu
cầu về chất lượng và quản lý chất lượng bằng cách tiến hành các bước để xác
định xem các kết quả đạt được có phù hợp với yêu cầu chất lượng hay không?
• Một số hoạt động quản lý chất lượng dự án:
- Hoạt động quản lý chất lượng trong giai đoạn lập dự án đầu tư.
+ Kiểm tra điều kiện năng lực hoạt động của tổ chức và năng lực hành
nghề của cá nhân tham gia lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với
quy mô và tính chất của dự án đang xét;

trình.
+ Kiểm tra và giám sát chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào
công trình do nhà thầu thi công xây dựng công trình cung cấp theo yêu cầu của
thiết kế.
+ Tổ chức nghiệm thu công trình theo quy định. Nghiệm thu công trình
xây dựng được thực hiện theo cấp độ: Nghiệm thu từng công việc xây dựng;
nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng; nghiệm
thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng để đưa vào sử dụng.
+ Tập hợp và kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu công việc xây dựng,
bộ phận công trình, giai đoạn thi công xây dựng, nghiệm thu thiết bị, nghiệm
thu hoàn thành từng hạng mục công trình xây dựng và hoàn thành công trình
xây dựng.
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-20-
+ Phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế để điều chỉnh hoặc yêu cầu
nhà thầu thiết kế điều chỉnh.
+ Tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công
trình và công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng.
+ Hoạt động quản lý chất lượng trong giai đoạn bảo hành.
+ Tiến hành kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng để yêu
cầu nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung ứng, lắp đặt thiết bị công trình
sửa chữa, thay thế.
+ Giám sát và nghiệm thu việc khắc phục, sửa chữa của nhà thầu khi
thực hiện nghĩa vụ bảo hành.
5. Quản lý dự án về an toàn lao động và vệ sinh môi trường:
Quản lý an toàn lao động và vệ sinh môi trường là quá trình đảm bảo
an toàn lao động và giữ gìn vệ sinh môi trường trong suốt thời gian thực hiện
và khai thác dự án.
Hoạt động xây dựng, nhất là trong công tác khảo sát thi công xây
dựng, lắp đặt thiết bị dễ bị mất an toàn lao động và gây ô nhiễm môi trường.

Dự án đầu tư xây dựng phát triển nhà ở và khu đô thị thường kéo dài
nhiều năm, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. Quản lý rủi ro dự án là việc nhận diện
các nhân tố rủi ro trong dự án, sử dụng các phương pháp định tính, định lượng
để xác định tính chất, mức độ rủi ro để có kế hoạch đối phó cũng như quản lý
từng loại rủi ro. Nó bao gồm việc tối đa hoá khả năng và kết quả của các điều
kiện thuận lợi và tối thiểu hóa khả năng và ảnh hưởng của những biến cố gây
bất lợi cho mục tiêu của dự án.
Quản lý rủi ro của dự án đầu tư xây dựng gồm có 3 bước:
+ Nhận dạng và xác định những rủi ro có thể có của dự án
+ Đánh giá tác hại của từng rủi ro tác động đến dự án.
+ Xác định các bước hay những hành động để ứng phó với những rủi
ro nếu xẩy ra.
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-22-
Để quản lý rủi ro, phải nhận định được rủi ro về cả hai mặt: định tính
và định lượng.
+ Định tính rủi ro: đây là giai đoạn định tính hai thuộc tính chính của
rủi ro: khả năng xuất hiện và tác động. Tác động được chia ra làm 4 mức: có
thể bỏ qua, thấp, trung bình, nghiêm trọng. Khả năng xuất hiện chia ra làm 3
mức: thấp, trung bình và cao.
+ Định lượng rủi ro: để định lượng rủi ro ta thường dùng phương pháp
chấm điểm, dùng ma trận định lượng rủi ro, ngoài ra còn sử dụng các phương
pháp như: EMV (expected monetary value) đây là trường hợp đặc biệt của cây
quyết định dùng để ra quyết định, cây quyết định (decesion tree), phân tích độ
nhạy, mô phỏng, ý kiến chuyên gia.
Để đối phó với rủi ro, người quản lý dự án phải tập trung vào các
mặt:
+ Tập trung quản lý vào những rủi ro có điểm xếp hạng cao hoặc có
khả năng xuất hiện lớn;
+ Đưa ra những giải pháp để ứng phó với những rủi ro trên;

thực hiện dự án.
Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang
-24-
b. Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án để giúp mình
trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, cụ thể như sau:
Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án hiện có để quản lý thêm dự án
mới.
- Trường hợp Ban quản lý dự án hiện có không đủ điều kiện để quản
lý thêm dự án mới thì Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án mới để quản lý
thực hiện dự án.
- Trường hợp áp dụng mô hình 1 thì chủ đầu tư sử dụng pháp nhân
của mình để trực tiếp quản lý thực hiện dự án. Chủ đầu tư phải có quyết định
cử người tham gia quản lý dự án và phân công nhiệm vụ cụ thể, trong đó phải
có người trực tiếp phụ trách công việc quản lý dự án. Những người được cử
tham gia quản lý dự án làm việc theo chế độ kiêm nhiệm hoặc chuyên trách.
- Trường hợp áp dụng mô hình 2 thì phải bảo đảm các nguyên tắc sau
đây:
+ Ban quản lý dự án do chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc chủ
đầu tư. Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án do chủ đầu tư giao.
+ Ban quản lý dự án có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân
của chủ đầu tư để tổ chức quản lý thực hiện dự án.
+ Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án bao gồm Giám đốc (hoặc
Trưởng ban), các phó Giám đốc hoặc (Phó trưởng ban) và lực lượng chuyên
môn, nghiệp vụ. Cơ cấu bộ máy của Ban quản lý dự án phải phù hợp với nhiệm
vụ được giao và đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiết
kiệm chi phí. Các thành viên của Ban quản lý dự án làm việc theo chế độ chuyên
trách hoặc kiêm nhiệm.
+ Một Ban quản lý dự án có thể được giao đồng thời quản lý thực
hiện nhiều dự án nhưng phải đảm bảo từng dự án được theo dõi, ghi chép
riêng và quyết toán kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.

Luận văn thạc sỹ kinh tế Đỗ Thị Giang

Trích đoạn Thực trạng trong giai đoạn thực hiện đầu tư Cụng tỏc thẩm định, thẩm tra, phờ duyệt thiết kế KT-TC, tổng dự toỏn Giải phỏp nõng cao chất lượng QLDA ở giai đoạn thực hiện đầu tư Giải phỏp nõng cao chất lượng QLDA ở giai đoạn kết thỳc đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status