BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
MAI THỊ THANH NGA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA MÁU
TRONG THỜI KỲ LÃO HÓA Ở KHỈ MACACA MULATTA NUÔI
TẠI ðẢO RỀU - QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : THÚ Y
Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè ñồng nghiệp và người thân ñã tạo ñiều
kiện, ñộng viên, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện
ñề tài.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Mai Thị Thanh Nga
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
iiiMỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
1 MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục ñích của ñề tài 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Một số tư liệu về khỉ vàng 4
2.2 Các giả thuyết về quá trình lão hóa 14
2.3 Khái quát chung về quá trình lão hóa 21
2.4 Một số khái quát về huyết học 23
Macaca mulatta 75
4.4.1 Các biểu hiện bên ngoài của sự lão hóa ở khỉ theo tính biệt 75
4.4.2 Thân nhiệt, tần số mạch, tần số hô hấp của khỉ trong giai ñoạn
lão hóa theo tính biệt 76
4.4.3 Số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối huyết cầu,
nồng ñộ huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố bình quân hồng cầu
theo giới tính ở khỉ lão hóa 77
4.4.4 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở khỉ lão hóa 78
4.4.5 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu ở khỉ lão hóa 79
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 81
5.1 Kết luận 81
5.2 ðề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Hb Hemoglobin
LHSTbq Lượng hemoglobin bình quân
NðHSTbq Nồng ñộ huyết sắc tố bình quân
sGOT Serum - glutamate - oxaloaxetat -transminaza
sGPT Serum - glutamat - pyruvat - transminaza
SKTT Sức kháng tối thiểu
SKTð Sức kháng tối ña
TKHC Tỷ khối huyết cầu
V
h/c
ñường huyết ở khỉ Macaca mulatta trong thời kỳ lão hóa 65
4.9 Các tiểu phần protein huyết thanh và tỷ số A/G của khỉ khi lão hóa 71
4.10 Hàm lượng Natri, Kali của khỉ khi lão hóa 74
4.11 Một số biểu hiện ngoài của sự lão hóa theo giới tính ở khỉ
Macaca mulatta nuôi tại ñảo Rều- Quảng Ninh 75
4.12 Thân nhiệt, tần số mạch, tần số hô hấp theo giới tính ở khỉ
trong thời kỳ lão hóa 76
4.13 Số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối huyết cầu,
nồng ñộ huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố bình quân hồng cầu ở
khỉ lão hóa 77
4.14 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu của khỉ ở khỉ lão hóa 78
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vii4.15 Hàm lượng protein tổng số và các tiểu phần protein huyết thanh ở
khỉ lão hóa 79
4.16 ðộ dự trữ kiềm, hoạt ñộ men, hàm lượng ñường huyết ở khỉ lão hóa 80
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
2Khỉ là loài ñộng vật có giá trị lớn về nhiều mặt, là nguồn dược liệu
quan trọng trong ðông và Tây y. Và là loài ñộng vật bậc cao rất gần gũi với
con người về nguồn gốc và giải phẫu nên ñã ñược dùng làm ñối tượng nghiên
cứu về hệ thần kinh, sự vận ñộng, khả năng sinh sản theo lứa tuổi, các bệnh ở
hệ tim mạch, bệnh ñái ñường.
Ở nước ta khỉ vàng ñược nuôi theo hình thức bán tự nhiên ở ñảo Rều -
Quảng Ninh và nuôi nhốt kết hợp với việc bổ sung thêm hoa quả, mía, cơm,. .
Mỗi năm, viện Vệ sinh dịch tễ thường dùng một số lượng lớn khỉ làm ñộng
vật thí nghiệm ñể sản xuất vaccine Sabin phòng bại liệt cho trẻ em và các
loại vaccine chống dịch sởi, viêm gan A, B, C gần ñây nhất, năm 2005 nước
ta ñã sản xuất ñược vaccine chống virrut H5N1 thử nghiệm thành công trên
ñộng vật và ñang xin phép thử nghiệm trên người. Như vậy, ñể ñảm bảo
cho việc sản xuất vaccine thì khỉ ñược dùng làm ñộng vật phải hoàn toàn
khỏe mạnh và có chứng nhận kiểm dịch của ngành thú y. Tuy nhiên, không
phải ở lứa tuổi nào khỉ cũng ñược dùng ñể sản xuất vaccine nhất là những
khỉ có ñộ tuổi cao. Bởi vì trong thời kỳ lão hóa, con người cũng như con
vật thường giảm sút về thể lực, cơ thể kém chịu ñựng và kém thích nghi
trước hoàn cảnh không thuận lợi của môi trường sống, vì vậy có thể dễ mắc
bệnh và dễ tử vong. Cho nên, việc nghiên cứu, lựa chọn khỉ ở ñộ tuổi nào
phù hợp cho việc sản xuất vaccine là vấn ñề quan trọng và ñặc biệt nghiên
cứu về sự biến ñổi sinh lý bình thường khi cơ thể ở thời kỳ lão hóa là rất
cần thiết cho việc chẩn ñoán lâm sàng và ñiều trị bệnh cho những con già
ñể ổn ñịnh số lượng và chất lượng khỉ nuôi tại ñảo, mặt khác khỉ có thể sử
dụng làm mô hình ñể nghiên cứu quá trình lão hóa ở người. Từ những lí do
trên chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh
lý, sinh hóa máu trong thời kỳ lão hóa ở khỉ Macaca Mulatta nuôi tại ñảo
2.1 Một số tư liệu về khỉ vàng
Tên latinh của khỉ vàng là Macaca mulatta, thuộc họ Cercopi thecideae,
nó còn ñược gọi với nhiều tên khác nhau tùy theo dân tộc như:
Dân tộc Kinh gọi là: khỉ ñỏ ñít, khỉ ñàn, bú dù, khỉ nước.
Dân tộc Thái gọi là: tô lình, lình ñeng, lình lệnh, lình lạnh.
Dân tộc Dao gọi là: tào lình vèng, tào lình vàng, tào bình giàng.
Dân tộc Mường gọi là: khỉ ñỏ.
Khỉ vàng có bộ lông mỏng về mùa hè và dày về mùa ñông, lông ngắn
và mịn. ðầu màu vàng xám, ñỉnh có khoáy. Gáy, vai, phần lưng trên có màu
nâu, nâu vàng hay nâu xỉn, phần lưng dưới màu nâu nhạt. Mông và hai ñùi
hoe ñỏ rực rỡ. Mỗi lông ở vùng này có phần gốc trắng xám, nửa ngoài màu da
cam (ñặc ñiểm ñặc trưng). Cổ màu nâu nhạt. Bụng trắng vàng hoặc trắng màu
ñất thổ. Mu bàn chân vàng nâu, háng màu ñỏ. ðuôi dài (nhưng không vượt
quá nửa chiều dài thân), rậm lông, mặt trên nâu thẫm, mặt dưới vàng nâu.
Trên mặt có ít lông, da ở má, trán màu sáng. Ở con cái ñám da này trở nên ñỏ
khi có kinh nguyệt. Mắt màu nâu nhạt.
Khỉ vàng là loài sống thành ñàn ñiển hình, do vậy việc xác ñịnh số
lượng ñàn khỉ có ý nghĩa quan trọng. Số lượng con trong ñàn, nhóm tuổi, tỉ lệ
giới tính của các ñàn khác nhau. Ở ðảo khỉ có 5 bầy số lượng khỉ ở mỗi bầy
khác nhau. Nhiều nhất là 195 con ở bầy sân nhà cao và ít nhất là 104 con ở
bầy sân nhà bếp, Nguyễn Bá Hiên và cộng sự, 1995[12].
Tổ chức ñàn khỉ vàng khá chặt chẽ và thể hiện tính ñẳng cấp rõ. Mỗi
ñàn có một con ñực khoẻ dẫn ñầu (con ñầu ñàn). Khi di chuyển, con ñầu ñàn
ñi trước ñàn 4 - 6m. Khi kiếm ăn, con ñầu ñàn thường ngồi riêng ở một cây
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
5cao ñể quan sát. Vai trò của con ñầu ñàn ñược các tác giả Lê Hiền Hảo,
1973[9], ðặng Huy Huỳnh, 1997[13] ñề cập ñến. Theo các tác giả này, ngoài
ñộng vật Bắc Trường Sơn có sự hiện diện của rất nhiều các loài thú khác nhau
trong ñó có khỉ vàng. Lê Hiền Hảo, 1973[9], còn cho biết khỉ vàng sống và
phát triển tốt ở những hòn ñảo rất nghèo thực vật (Hòn Mê Thanh Hoá, các
ñảo ñá ở vịnh Bái Tử Long,…). Trên ñất liền sinh cảnh của khỉ vàng ña dạng
hơn. Chúng sống trong những khu rừng tái sinh sau nương rẫy, rừng nghèo,
rừng giàu, trên ñịa hình núi ñất hay núi ñá. Sinh cảnh thích hợp nhất ñối với
khỉ vàng là rừng hỗn giao trên núi ñá tiếp giáp với sông suối, hồ hay biển.
Mỗi ñàn khỉ vàng sống trong một khu vực, ñó là vùng sống của chúng.
Vùng sống của khỉ vàng thường ổn ñịnh qua nhiều năm, ngay cả khi nguồn
thức ăn ñó có mùa là khó khăn. Theo một nghiên cứu nhiều năm tại Cát Bà
cho thấy: ở Ao Ếch có 5 con (năm 1981), năm 1982 có 6 con và năm 1989 là
14 con. Trường hợp tương tự cũng ñược gặp tại thung Rếch (Kim Bôi) và núi
ñá ðen (Lạc Thuỷ) Hoà Bình, các ñàn khỉ ở các khu vực này cư trú ñã lâu
mặc dù ven chân núi ñều bị phát ñể làm nương (ðặng Huy Huỳnh và cộng sự,
1997[13].
ðộ lớn vùng sống của khỉ vàng thay ñổi và việc xác ñịnh ñộ lớn trên
thực ñịa chỉ là tương ñối.
Diện tích vùng sống của khỉ vàng có thể ñược mở rộng khi số con trong
ñàn lớn, không bị hạn chế bởi yếu tố ñịa lý hay các yếu tố khác. Tuy nhiên
phạm vi vùng sống còn liên quan ñến chỗ ngủ.
Mỗi ñàn khỉ vàng có một vùng sống riêng và chúng luôn bảo vệ vùng
sống của mình. Hiện tượng các ñàn khỉ ñánh nhau là do nguyên nhân xâm
phạm vùng sống của nhau. Phạm Nhật, 1993[21] ñã quan sát ñược hai ñàn khỉ
vàng gặp ở Cổng Nứa ñã ñánh nhau 2 lần/14 ngày.
Khỉ vàng là loài thú linh hoạt và nhanh nhẹn không những trên cây mà
cả trên mặt ñất và dưới nước. Chúng có thể trèo lên những cây to, cao, bò ra
những cành nhỏ ñể hái quả hoặc lá non. Bình thường từ trên cây, khỉ vàng tụt
xuống theo chiều thuận (ñầu ở trên). Khi bị săn bắn, tính mạng bị ñe doạ, khỉ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
7
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
8kiếm ăn của khỉ vàng. Cường ñộ kiếm ăn của khỉ vàng mạnh vào ñầu buổi
sáng, giảm dần lúc 9-10 giờ, buổi chiều mạnh vào lúc 15-16 giờ. Ngoài 16 giờ
hầu như việc kiếm ăn của khỉ vàng giảm, chúng nhởn nhơ, vừa ñi vừa nhặt
quả lá ñể ñến nơi ngủ. Nghỉ trưa là các ñặc ñiểm của hầu hết các loài linh
trưởng nói chung cũng như của khỉ vàng nói riêng.
Ở ñảo Rều trong các tập tính hoạt ñộng, chúng tôi ñặc biệt chú ý ñến
tập tính ngủ và trú ẩn của khỉ. Kết quả theo dõi cho thấy:
Mùa hè: Hoạt ñộng của khỉ có hai pha rõ rệt: hoạt ñộng leo trèo trên
cây và ngủ, nghỉ vào buổi trưa và ban ñêm. Thời gian nghỉ trưa kéo dài
khoảng 60 - 90 phút.
Mùa ñông: Pha ngủ trưa ngắn và không rõ ràng. Nhưng bù lại khỉ dậy
muộn và ñi ngủ sớm.
ða số lần quan sát thấy khỉ vàng có tập tính ngủ ngồi. Các con ñực
thường ngồi một mình. Các con cái có con non dựa vào chạc cây, một tay ôm
con, một tay bám cành nhỏ ñể ngủ. Con non ngồi trong lòng mẹ hai tay túm
chặt lông bụng, miệng ngậm vú. Các con nhỏ (1-2 tuổi) thường ngồi tựa vào
nhau cúi ñầu ngủ. Trong ñiều kiện nuôi nhốt, nhiều con ngủ ngồi nhưng cũng
nhiều con nằm sấp, mặt nghiêng ngay trên nền chuồng.
Khỉ vàng bắt ñầu ngủ khi trời tối hẳn. Giấc ngủ khỉ vàng không say và
không sâu, ñêm thường có sự thay ñổi tư thế. Khỉ vàng khá tỉnh trong khi
ngủ, chỉ một tiếng ñộng nhỏ cũng làm chúng tỉnh giấc và những lúc ñó chúng
thường phát ra tiếng kêu: “khoọc, khoọc”. Càng gần sáng khỉ vàng càng thay
ñổi tư thế nhiều hơn. Lê Hiền Hảo, 1973[9] có nhận xét khỉ vàng tỏ ra khó
ngủ vào những ñêm trăng sáng.
Hầu hết các ñàn khỉ vàng mà Phạm Nhật quan sát ñược có một ñặc
ñiểm giống nhau là chúng không ngồi tập chung hay tụ tập lại và ngủ theo ñàn
bị các “ñàn anh ñàn chị” làm ô nhiễm nên vẫn còn có con bị ñói.
Nghiên cứu quá trình sinh sản, sinh trưởng, phát triển của khỉ vàng (và
các loài linh trưởng khác) ngoài tự nhiên là việc làm khó và không thể xác
ñịnh mùa sinh, ñỉnh cao mùa sinh cũng như một số nhận xét về sinh trưởng và
phát triển trong ñiều kiện nuôi nhốt hay ngoài tự nhiên khi có thể.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
10Theo dõi quá trình sinh sản của khỉ vàng ở ñảo Rều cho thấy: mùa
sinh sản của khỉ vàng kéo dài từ tháng 3 ñến tháng 10 trong năm. Song tỷ
lệ khỉ sinh sản tập trung cao nhất vào tháng 5 (chiếm tỷ lệ 30,56%), và
tháng 6 (chiếm tỷ lệ 25%) Nguyễn Bá Hiên và các cộng sự[12].
Như vậy, mùa sinh sản tập trung của khỉ vàng trùng với mùa rộ hoa,
nhiều quả của nhiều loại cây rừng ở nước ta, là kết quả của quá trình ñấu
tranh ñể thích nghi với ñiều kiện sống. Về mặt lí thuyết, nhu cầu năng
lượng của khỉ mẹ trong thời gian nuôi con là lớn và chính sự phong phú
nguồn quả của cây rừng trong những tháng này ñã ñáp ứng ñược nhu cầu ñó.
Trong quan hệ sinh dục, một khỉ ñực thường giao phối với nhiều con cái và
ngược lại một con cái quan hệ với nhiều con ñực. Giống các loài thú linh
trưởng khác, khỉ vàng có chu kì rụng trứng hàng tháng. Kết quả theo dõi
trong ñiều kiện nuôi nhốt của Lê Hiền Hảo, 1973[9], của ðặng Huy Huỳnh,
1997[13] và của Phạm Nhật,1993[21], cho thấy chu kì kinh nguyệt của khỉ
vàng ngắn nhất là 25 ngày, dài nhất là 39 ngày và trung bình là 31 ngày,
thời gian hành kinh kéo dài 2 - 2,5 ngày. Theo dõi của Lê Hiền Hảo,
1973[9] cho biết những con cái thường xuyên bị kích thích hay bị bắt trói
làm thí nghiệm thì chu kì kinh nguyệt bị rối loạn, có con chỉ còn 13 ngày.
Những con cái trong thời kì nuôi con nhỏ, kinh nguyệt bị ñình trễ 5-6 tháng
do chuyển ñổi lượng hormon sinh dục.
Ở ñảo Rều khỉ có chu kì sinh dục ngắn nhất là 28 ngày, dài nhất là 37
Thái ñộ lo âu rõ nét ở con ñẻ lần ñầu. Khỉ ngồi xổm, vừa rặn ñẻ vừa dùng hai
tay ñỡ con non. Sau khi ñẻ, khỉ mẹ liếm sạch các chất nhầy, máu trên lông
con hay vương vãi trên ñất và ăn nhau của mình Lê Hiền Hảo,1973 [9]; ðặng
Huy Huỳnh và cộng sự,1997 [13].
Qua nghiên cứu về tập tính làm mẹ của khỉ vàng cho thấy tất cả các
khỉ mẹ sau khi sinh con luôn luôn ôm con từ khi lọt lòng tới khi cai sữa và
thực tế ñiều tra cho thấy tại cơ sở chăn nuôi khỉ vàng ở ñảo Rều tỷ lệ chết của
khỉ sơ sinh rất ít, trên cơ sở ñó người ta ñã dựa vào tỷ lệ khỉ cái ôm con ñể
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
12ñánh giá tỷ lệ sinh sản của ñàn khỉ. Khỉ con ñẻ ra nặng 200 ñến 300 gram, bộ
lông thưa, mềm, màu xám nhạt, tình trạng cơ thể yếu nhưng tay ñã có khả
năng bám chặt vào bụng mẹ, miệng ngậm vú suốt ngày. Mười năm ngày ñầu
khỉ con gần như giữ nguyên tư thế trước ngực mẹ, sang tuần lễ thứ ba, sức
khoẻ có khá hơn, chúng bắt ñầu có thể ôm mẹ, ở tuần lễ thứ tư khỉ con có khả
năng rời cơ thể mẹ khi mẹ chúng ngồi nghỉ. Bộ lông một tháng tuổi dày và ñã
chuyển màu ở một số chỗ: ñỉnh ñầu, gáy, mặt sau cổ, dọc lưng xám nâu. Hai
bên ñầu màu xám, hung nhạt. Bụng xám trắng. Ngoài hai chi trước màu tro.
Mông và hai ñùi sau màu vàng phớt hoặc hung nhạt. ðuôi cùng màu với màu
lưng nhưng nhạt hơn. Ba tháng tuổi, bộ lông dày màu vàng nâu nhạt, phần
mông và ñùi ñã phớt hoe ñỏ, bụng trắng nhạt. Trọng lượng cơ thể 500-600
gram. Sáu tháng tuổi bộ lông ñã gần giống con trưởng thành, trọng lượng cơ
thể 700-900 gram. Vào tuổi này con vật ñã hoạt ñộng nhanh nhẹn. Bộ răng
mọc ñủ và chúng có khả năng ăn lá và một số quả mềm. Nhiều con ñã ít bú
mẹ, một số thôi bú hẳn. Một năm tuổi khỉ con ñạt trọng lượng 1000 - 1500gr,
bộ lông như bộ lông con trưởng thành, hoạt ñộng hoàn toàn ñộc lập.
Khỉ cái có thể sinh sản sau 1,5 - 2,0 năm tuổi. Cũng có ý kiến cho rằng
con ñực sau một năm tuổi có thể giao phối. ðiều này có thể có vì khỉ vàng cái
Thịt khỉ chưng cất cách thủy với hoàng kỳ, hoài sơn ăn ñộ dăm lần có
thể chữa khỏi bệnh trĩ.
Rượu thịt khỉ còn dùng bổ thận tráng dương cho nam giới và ñiều trị
chứng lạnh tử cung không sinh ñược con ở phụ nữ. Chữa lưng ñau, gối mỏi,
liên tục mắc tiểu.
Bộ phận sinh dục khỉ ñực ngâm rượu làm thuốc bổ thận tráng dương.
Trong dân gian cũng lưu truyền một số kinh nghiệm sau ñây ñể chữa
cam tích trẻ em:
- Dùng nước miếng khỉ chữa cam tích trẻ em bằng cách ñưa cho khỉ
trái cây khi khỉ ñang ăn dở thì lấy cho trẻ bị bệnh ăn tiếp.
- Dùng gan, dạ dày, ruột khỉ làm thức ăn với cơm hoặc nấu cháo
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
142.2 Các giả thuyết về quá trình lão hóa
Trong sinh học, lão hóa (tiếng anh là Senescence, xuất phát từ senex
trong tiếng Latin có nghĩa là “Người già”, “tuổi già”) là trạng thái hay quá
trình tạo nên tuổi tác già nua.
Lão hóa tế bào là một hiện tượng khi các tế bào phân lập trở nên hạn
chế khả năng phân chia trong môi trường nuôi cấy. Lão hóa cơ thể ñề cập ñến
quá trình trưởng thành và già nua của sinh vật. Những quá trình này không
liên quan ñến cơ chế apoptosis (chết tế bào theo chương trình).
Tuổi già của sinh vật thường kèm theo biểu hiện giảm khả năng chống
chọi với stress, mất dần cân bằng nội môi và tăng nguy cơ mắc bệnh tật. Do
ñó, cái chết là một kết cục cuối cùng của lão hóa. Một số nhà khoa học trong
lĩnh vực biogerontology cho rằng tuổi già bản thân nó là một bệnh và có thể
cứu chữa ñược, mặc dù ñây là một vấn ñề ñang tranh cãi.
Người ta xác ñịnh một số yếu tố di truyền và môi trường tác ñộng ñến
2.2.1 Thuyết di truyền
Thuyết di truyền có lẽ là thuyết khoa học nhất. Theo thuyết này thì con
người có sẵn trong các tế bào của mình một chương trình - mang trong các
“gen”. Các gen hoạt ñộng theo thứ tự, bất di bất dịch: sinh, lão, bệnh, tử.
Các tế bào soma của người bình thường ñều có một thời gian sống có
giới hạn. Thông thường tế bào chết ñi sau 40 - 60 chu kì sao chép. Thời gian
sống của mỗi tế bào ñược quyết ñịnh về di truyền học bởi hai hệ thống ñộc
lập với nhau:
* Hệ thống kiểm soát ñời sống tế bào nhờ quá trình làm hao mòn các
các telomere ở các ñầu tận cùng nhiễm sắc thể:
Ở ñộng vật có vú, các ñầu tận cùng nhiễm sắc thể ñược bảo vệ bằng các
telomere (theo tiếng Hy Lạp, telo có nghĩa là cuối, còn mere là phần), tức là
những cấu trúc ñặc biệt ñược hình thành bởi các chuỗi TTAGGG lặp lại kế
tiếp nhau. Ở người các chuỗi lặp lại của telomere từ 5000 ñến 15000 base.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
16Telomere có nhiệm vụ bảo ñảm sự bền vững của nhiễm sắc thể, chống lại
thoái hóa có hại, chống lại sự tái tổ hợp sai lạc và có vai trò ñiều hòa gen.
Mỗi lần phân chia, các nhiễm sắc thể ñều mất một số lượng nhỏ AND
của telomere, khoảng chừng 50-100 base. Khi các telomere trở nên quá ngắn
thì các nhiễm sắc thể sẽ kém bền vững, chúng không thể bám ñược vào màng
nhân tế bào, bị dính vào nhau và có hình dạng kỳ dị. Hậu quả là các tế bào
không thể phân chia ñược nữa. Các nhà nghiên cứu ñang bắt ñầu ñánh giá
kích thước của telomere như một “thước ño” chuẩn xác tuổi thọ của các tế
bào. Tuy nhiên enzym telomerase hoạt ñộng ở tế bào mầm và tế bào ung thư,
giúp cho tế bào phân chia liên tục bằng cách kéo dài chuỗi AND của
telomere, khiến cho tế bào trở nên “bất tử”
Cấu tạo của telomerase: telomerase của người gồm 2 tiểu ñơn vị là hTR
phối quá trình lão hóa bằng cách giới hạn sự tự làm mới của các tế bào có khả
năng nhân ñôi.
2.2.2 Thuyết gốc tự do
Các phản ứng sinh hóa bên trong tế bào “phóng” ra các gốc tự do
(radical libre, free radical). Thực chất một gốc tự do là một nguyên tử oxy
“không ổn ñịnh”, sẵn sàng bám vào các phân tử quanh nó (ñể trở thành ổn
ñịnh). Thuyết này xuất phát từ ý kiến của BS.Deham Harman (trường ðại học
Nebraska) ñưa ra vào năm 1950: Các gốc tự do là nguyên nhân chính gây nên
xáo trộn hoạt ñộng của các ti lạp thể (mitochondries), bám vào các AND.
Nguyên liệu chính của các mật mã di truyền, gây ñột biến gen trong các tế
bào…Nói một cách khác các gốc tự do là nguyên nhân của sự tự hủy hoại của
sự lão hóa ở cấp tế bào.
Gốc tự do là những tiểu phân hóa học (phân tử, nguyên tử, ion) có một
nguyên tử ñơn ñộc lập ở lớp ngoài cùng. Với áp lực mạnh của ñiện tử ñơn
ñộc, gốc tự do có khả năng tương tác với tất cả các phân tử của những tế bào
bên cạnh nó, phá vỡ hoàn toàn màng tế bào, làm hư hại gen di truyền hoặc
hủy hoại toàn bộ tế bào. Nó làm tế bào già ñi và gây ra các bệnh lý tim,