công tác kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chi cục kiểm tra sau thông quan cục hải quan thanh hóa - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới, Chính Phủ Việt Nam đã
thực hiện nhiều biện pháp cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý hành
chính trong khu vực công, thể hiện đúng cam kết trong quá trình đàm phám
và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007, trong đó có việc
quản lý Hải quan
Những năm gần đây, khi tình hình hoạt động thương mại – đầu tư vào
Việt Nam tăng nhanh với tốc độ tăng trung bình hơn 20% hàng năm (giai
đoạn 2003-2009), nhất là những năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO (năm
2007 kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 23,2%, lượng doanh nghiệp xuất nhập
khẩu tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2006), đòi hỏi ngành Hải quan phải
nhanh chóng cải thiện cơ chế quản lý sao cho phù hợp với các quy định của
WTO. Đồng thời, ngành Hải quan phải góp phần tạo thuận lợi cho đầu tư,
thương mại nhằm tận dụng các cơ hội hỗ trợ phát triển nền kinh tế, nhưng vẫn
đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích công cộng. Với nguồn lực hạn hẹp và áp
lực cân đối giữa “tạo thuận lợi thương mại” và “kiểm soát Hải quan hiệu quả”
đồng nghĩa với việc Hải quan Việt Nam phải thực hiện sự chuyển đổi từ
phương thức quản lý truyền thống “tiền kiểm” (Gate - keeper) sang “hậu
kiểm” (Post Clearance Audit) cho phép Hải quan kiểm tra chính thức ở giai
đoạn sau, đảm bảo tính tuân thủ của cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thực tế thì hoạt động “hậu kiểm” (kiểm tra sau thông quan)
của Hải quan chưa thật sự hiệu quả và chưa hỗ trợ hữu hiệu cho hệ thống
quản lý rủi ro trong khâu “tiền kiểm”. Dưới áp lực hội nhập nền kinh tế thế
giới, áp lực tăng trưởng hơn 20% kim ngạch xuất nhập khẩu mỗi năm, ngành
Hải quan đã nhanh chóng cải cách thủ tục hành chính, giảm đáng kể tỷ lệ
kiểm tra thực tế trung bình từ 63% của tổng số tờ khai xuất nhập khẩu năm
2003 xuống còn 15,72% năm 2010, giảm thời gian thông quan tại cửa khẩu từ
8 giờ (tối đa với hàng nhập khẩu) năm 2003 xuống còn 2,5 giờ năm 2008, cho
thấy khâu “tiền kiểm” đã tương đối thông thoáng. Việc tạo thông thoáng trong
khâu “tiền kiểm” càng làm tăng vai trò, áp lực công việc trong khâu “hậu

“Công tác kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Kiểm tra sau thông quan Cục Hải quan Thanh
Hóa” làm luận văn cuối khóa.
1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của kiểm tra sau thông quan về phân loại và
áp mã hàng hóa, các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý sau
thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa.
2
- Phân tích và đánh giá thực trạng của hoạt động kiểm tra sau thông
quan về phân loại và áp mã đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục
Kiểm tra sau thông quan Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông
quan tại Chi cục Kiểm tra sau thông quan Cục Hải quan Thanh Hóa.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra sau thông quan về phân
loại và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra sau thông quan về phân loại
và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Thanh
Hóa từ khi thành lập tới nay (2003-2012).
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử kết hợp với tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm giải
quyết vấn đề đặt ra một cách có hệ thống.
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu chính từ báo cáo tổng kết của Chi cục
Kiểm tra sau thông quan Thanh Hóa, thông tin mạng Internet…
4. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, , luận văn được kết
cấu làm 3 chương gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản của kiểm tra sau thông quan
về phân loại và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

suất thuế nhập khẩu (xuất khẩu), thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng
hóa đó. Đối với kiểm tra sau thông quan đây là một nghiệp vụ nhằm kiểm tra
sự chuẩn xác trong việc khai báo mã và thuế suất hàng hóa của chủ hàng.
Hiện nay, việc phân loại và áp mã hàng hoa xuất khẩu, nhập khẩu được
xác định theo Nghị định số 06/2003/NĐ-CP của Chính Phủ này 22/01/2003
quy định về việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư số
49/2010/TT-BTC quy định về hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Như vậy, trong lĩnh vực hải quan, phân loại hàng hóa được hiểu là một
nghiệp vụ thực hiện bằng cách đối chiếu lời khai, hồ sơ hàng hóa với thực tế
hàng hóa để sắp xếp một mặt hàng vào đúng Nhóm và Phân nhóm của Danh
4
mục biểu thuế theo các quy tắc của Công ước HS và theo các quy định hiện
hành của Việt Nam.
1.1.2. Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa
Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa là bản danh mục hàng hóa
do Tổ chức Hải quan thế giới ban hành, bao gồm danh sách các nhóm hàng,
phân nhóm hàng cùng mã số tương ứng của các nhóm, phân nhóm hàng đó.
Hệ thống còn bao gồm cả các chú giải phần, chương, nhóm, phân nhóm và
các quy tắc giải thích cho hệ thống, được ban hành kèm Công ước Quốc tế về
Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá (International Convention on the
Harmonized Commodity Description anh Coding System) (Công ước HS)
Theo thông cáo báo chí của WCO, danh mục phân loại hàng hoá HS
2012 đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Danh mục HS 2012 đưa
ra các chuẩn mực phân loại 98% mặt hàng của thương mại quốc tế.
Hiện tại có hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như các tổ chức quốc
tế như Phòng Thống kê Liên hợp quốc và Tổ chức thương mại thế giới sử
dụng Danh mục HS. Cho đến nay, Hiệp định HS được coi là một công cụ
thành công nhất của WCO với 141 bên ký kết tham gia. Danh mục HS 2012
là phiên bản sửa đổi lần thứ 5 kể từ khi Danh mục HS được Hội đồng WCO

Việt Nam thỏa mãn các tiêu chuẩn của AHTN, trở thành danh mục thuế quan
của một nước thành viên; là phương tiện thu thuế và phân tích số liệu thống
kê thương mại Quốc tế; đàm phán thương mại; kiểm tra giám sát Hải
quan.Hội thảo đã đưa ra một chương trình công tác, sự phối hợp tích cực của
các Bộ ngành, cơ quan chức năng của chính phủ trong quá trình chuẩn bị,
nghiên cứu xây dựng chính sách, đảm bảo các yếu tố cơ bản, cần thiết cho quá
trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt nam.
Theo đó, nhóm chuyên viên kỹ thuật hàng hóa của các Tổng công
ty/Công ty có trình độ chuyên môn về hàng hóa và nhóm chuyên viên về
Danh mục Biểu thuế (chuyên viên Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan,
Tổng cục Thuế) đã phối hợp, hiệu đính bản dịch AHTN.
Ngày 13/6/2003, Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ban hành Danh mục hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam kèm theo Quyết định 82/2003/QĐ-BTC,
dựa trên cơ sở HS 2002 và hoàn toàn thống nhất với AHTN ; làm cơ sở xây
dựng danh mục mặt hàng trong Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu;
thống kê Nhà nước về xuất nhập khẩu và thực hiện chính sách quản lý Nhà
nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hiện nay, ở Việt Nam, Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được
xác định theo Thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 quy định về
việc ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
6
1.1.3.2. Cấu trúc danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu.
Danh mục gồm 2 phần tiếng Việt và tiếng Anh, với nội dung gồm 6
quy tắc tổng quát; các chủ giải phần, chương, chú giải nhóm, phân nhóm ; 21
phần, 97 chương (trong đó có 1244 nhóm hàng, 5225 phân nhóm hàng cấp độ
6 số, 10.681 phân nhóm 8 số).
Trong mỗi chương, ở phần đầu sẽ có chú giải phần, chương; chú giải
này xác định phạm vi của từng phần, chương và nhóm hàng. Các chú giải này
bao gồm 4 loại: Chú giải loại trừ (loại trừ hàng hóa không thuộc vào phần,
chương, nhóm và phân nhóm); chú giải định nghĩa (nêu lên khái niệm phạm

được đưa ra chỉ nhằm mục đích tra cứu. Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân
loại hàng hóa phải được theo nội dung của từng nhóm và bất cứ chú giải nào
của các phân, chương liên quan và theo các qui tắc dưới đây nếu các nhóm
hoặc các chú giải đó không có yêu cầu nào khác
- Quy tắc 2:
+ Một mặt hàng được phân loại vào một nhóm hàng thì mặt hàng đó ở
dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện cũng thuộc nhóm đó, nếu đã có
đặc tính cơ bản của hàng hóa đó khi đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện. Cũng
phân loại như vậy đối với hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện hoặc đã
có đặc tính cơ bản của hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện (hoặc được
phân loại vào dạng hàng hóa đã hoàn chỉnh hay hoàn thiện theo nội dung Qui
tắc này), nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời.
+ Một nguyên liệu, một chất được phân loại trong một nhóm nào đó thì
hỗn hợp hay hợp chất của nguyên liệu hoặc chất đó với những nguyên liệu
hoặc chất khác cũng thuộc nhóm đó. Hàng hóa làm toàn bộ bằng một loại
nguyên liệu hay một chất, hoặc làm một phần bằng nguyên liệu hay chất đó
được phân loại trong cùng nhóm. Việc phân loại những hàng hóa làm bằng
hai loại nguyên liệu hay hai chất trở lên phải tuân theo Qui tắc 3.
- Quy tắc 3: Khi áp dụng Qui tắc 2(b) hoặc vì bất cứ một lý do nào
khác, hàng hóa thoạt nhìn có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì sẽ phân
loại như sau:
+ Những nhóm có mô tả cụ thể nhất sẽ được ưu tiên hơn các nhóm có
mô tả khái quát khi thực hiện việc phân loại hàng hóa. Tuy nhiên, khi hai hay
nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần của nguyên liệu hoặc
chất chứa trong hàng hóa là hỗn hợp hay hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một
phần của hàng hóa trong trường hợp hàng hóa đó ở dạng bộ được đóng gói để
bán lẻ, thì những nhóm này được coi như thể hiện đặc trưng ngang nhau về
8
những hàng hóa nói trên, ngay cả khi một trong số các nhóm đó có mô tả đầy
đủ hơn hoặc chính xác hơn về những hàng hóa đó.

phân nhóm có những yêu cầu khác.
9
1.2. KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI VÀ ÁP
MÃ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU.
1.2.1. Một số nhận thức cơ bản kiểm tra sau thông quan về hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan :
Hiện nay, mỗi quốc gia trên thế giới khái niệm kiểm tra sau thông quan
còn có sự khác biệt nhưng chung quy lại chúng đều có những điểm chung là:
- Kiểm tra sau thông quan là một nghiệp vụ của cơ quan hải quan, cụ
thể do công chức hải quan thực hiện.
- Mục đích của kiểm tra sau thông quan là thẩm định lại tính trung thực
và độ chính xác của việc khai hải quan của người khai hải quan.
- Kiểm tra sau thông quan là phương pháp kiểm tra ngược thời gian,
diễn ra sau quá trình thông quan.
Tại Việt Nam theo luật Hải quan, kiểm tra sau thông quan được hiểu:
“Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải Quan nhằm
thẩm định lại tính chính xác và mức độ trung thực của nội dung các chứng từ
mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải Quan đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan”.
Từ những nhận xét nêu trên chúng ta có thể hiểu kiểm tra sau thông
quan về phân loại và áp mã hàng hòa xuất khẩu, nhập khẩu như sau: “Kiểm
tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hòa xuất khẩu, nhập khẩu là
hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định lại tính chính xác
và mức độ trung thực về việc phân loại và áp mã hàng hóa trong nội dung
các chứng từ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan
Hải Quan đối với hàng hóa nhập khẩu đã được thông quan”.
1.2.1.2. Nguyên tắc, mục đích và phạm vi kiểm tra sau thông quan
Về nguyên tắc, Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu áp dụng phương pháp quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra hoặc

nghiệp trong một giai đoạn;
- Kiểm tra một hoặc nhiều loại hình nhập khẩu của một doanh nghiệp
trong một giai đoạn.
1.2.1.3. Đối tượng kiểm tra sau thông quan
Đối tượng chịu kiểm tra sau thông quan là người nhập khẩu; người
được ủy thác nhập khẩu; đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh; người được chủ hàng ủy
quyền làm thủ tục hải quan.
Đối tượng kiểm tra của kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã
hàng hòa xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm:
11
- Hồ sơ Hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị Hải quan làm
thủ tục cho hàng hóa nhập khẩu liên quan.
- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện.
- Chứng từ, tài liệu liên quan tới hàng hóa nhập khẩu đã được thông
quan như sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu, dữ liệu
liên quan, do doanh nghiệp lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữ liệu điện tử.
1.2.2. Phương pháp kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã
hàng hóa xuất nhập khẩu
Việc kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa được
thực hiện thành 2 khâu: Kiểm tra tại cơ quan hải quan và kiểm tra tại doanh
nghiệp
- Kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan
Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan là hoạt động
thường xuyên của cơ quan Hải quan nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật
về thuế và pháp luật Hải quan của doạnh nghiệp. Khi kiểm tra sau thông quan
tại trụ sở cơ quan Hải quan, cơ quan Hải quan không phải ban hành quyết
định kiểm tra.
Tại trụ sở cơ quan Hải quan, cán bộ kiểm tra sau thông quan cần tiến
hành:

hàng hóa
Đối với kiểm tra sau thông quan nói chung, nội dung kiểm tra bao gồm:
kiểm tra tính đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan; kiểm tra tính chính xác
của các căn cứ tính thuế, tính chính xác của việc khai các khoản thuế phải
nộp, được miễn, không thu, được hoàn; kiểm tra việc thực hiện các quy đinh
khác của pháp luật về thuế; kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan.
Theo đó, kiểm tra sau thông quan về phân loại, áp mã hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất là kiểm tra xem việc khai báo tên hàng đã đúng với thực tế
hàng hóa chưa?
Thứ hai là kiểm tra mã số khai báo có đúng với thực tế hàng hóa, đúng
với tên hàng không, có tuân theo 6 quy tắc chung của WCO và tuân thủ quy
định hiện hành về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu luật không? Để
kiểm tra được điều này, cần đối chiếu với các thông tin đã có được trong các
giai đoạn trước, danh mục Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu (Biểu
thuế nhập khẩu ưu đãi và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt); so sánh với
các quy định hiện hành của Việt Nam về phân loại hàng hóa.
Thứ ba là kiểm tra xuất xứ hàng hóa, có thuộc quốc gia/ vùng lãnh thổ
đã kí kết Hiệp định/ thỏa thuận ưu đãi với Việt Nam hay không?
Thứ tư là mặt hàng có thuộc danh mục quy định riêng của các Bộ quản
lý chuyên ngành hay không?
13
Thứ năm là doanh nghiệp có thuộc diện được hưởng các chính sách ưu
đãi về thuế không?
Thứ sáu là với mã số và các nội dung như trên thì thuế suất thuế nhập
khẩu/ xuất khẩu, thuế VAT hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) đối với hàng
hóa khai báo có chính xác không?
Để thực hiện được các nội dung trên, kiểm tra sau thông quan phải
kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra các chứng từ sổ sách kế toán. Cụ thể:
(1) Kiểm tra hồ sơ Hải quan:

tín dụng, hóa đơn thương mại, khai báo của chủ hàng trên tờ khai về tên hàng
hóa đều phải căn cứ vào hợp đồng thương mại.
Nội dung kiểm tra hợp đồng thương mại: kiểm tra tên hàng và mã số
hàng hóa trên hợp đồng có khớp với tên hàng và mã số ở khai báo hải quan
không,kiểm tra tính xác thực của hợp đồng: hợp đồng có đúng của lô hàng
khai báo không? Khi đó tên trên hợp đồng có đúng với thực tế hàng hóa
không, kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng mua bán hàng hóa và các chứng
từ kèm theo; kiểm tra các điều khoản trên hợp đồng mua bán hàng hóa như:
tên hàng hóa, số lượng, quy cách sản phẩm, đơn giá, trị giá, điều khoản giao
hàng, phương thức thanh toán, hiệu lực của hợp đồng thương mại,
+ Kiểm tra vận tải đơn: số vận đơn, tên người giao nhận hàng, cảng bốc
giỡ, kí mã hiệu lô hàng, miêu tả hàng hóa, kiểm tra ngày ký phát vận đơn có
phù hợp với các chứng từ khác hay không, …
+ Kiểm tra hóa đơn thương mại: Kiểm tra việc miêu tả hàng hóa trên
hóa đơn thương mại có phù hợp với miêu tả hàng hóa trong thư tín dụng
không,Kiểm tra ngày lập hóa đơn;kiểm tra tên, địa chỉ người lập hóa đơn;
kiểm tra các nội dung liên quan đến vận chuyển, giao hàng; kiểm tra việc mô
tả hàng hóa trên hóa đơn có rõ ràng hay không, thông tin về hàng hóa có bị
thiếu hay không, nhiều mặt hàng có bị gộp vào cùng một loại với nhau hay
không…
+ Kiểm tra giấy chứng nhận phẩm chất: kiểm tra việc khai báo chất
lượng hàng hóa có đúng không, tránh trường hợp khai sai chất lượng hàng
hóa để áp dụng mức thuế suất thấp hơn,….Trong công tác KTSTQ, giấy
chứng nhận phẩm chất là căn cứ để các bộ hải quan xác định xem chủ hàng có
miêu tả sai tên hàng hóa hay không?
+ Kiểm tra bảng kê chi tiết: Đây không phải là chứng từ bắt buộc
nhưng tờ kê đóng gói lại ghi nhận những thông tin cơ bản nhất, đầy đủ nhất
về tên hàng, mã số, chủng loại hàng hóa, số lượng vì vậy có thể coi thông tin
về hàng hóa trên tờ kê đóng gói là những thông tin chính thức làm chuẩn để
so sánh, đối chiếu với các thông tin hàng hóa ghi trên các chứng từ khác. Do

Trong quá trình kiểm tra, công chức hải quan cần làm rõ những đặc trưng cơ
bản của hàng hóa có ảnh hưởng đến việc phân loại và áp mã hàng hóa nhưng
chưa được thể hiện trên hồ sơ, khai báo của người nhập khẩu.
1.3. QUY TRÌNH KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VỀ PHÂN
LOẠI VÀ ÁP MÃ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
1.3.1. Cơ sở pháp lý của kiểm tra sau thông quan về phân loại và
áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu
Cơ sở pháp lý của việc thu thập và xử lý thông tin phục vụ công tác
kiểm sau thông quan là hệ thống pháp luật mà công chức hải quan căn cứ vào
16
đó để tiến hành thu thập và xử lý thông tin, từ đó ra các quyết định liên quan
tới kiểm tra sau thông quan. Hiện nay cơ sở pháp lý của công tác kiểm tra sau
thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu bao gồm:
Nguồn luật quốc tế: Trên bình diện quốc tế kiểm tra sau thông quan về
phân loại và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu mà hiện nay hầu hết các nước
đều áp dụng nhằm xác định mức độ ưu tiên trong quản lý hàng hóa nhập khẩu
và chống thất thu thuế cho nhà nước, đối với Việt Nam kiểm tra sau thông
quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu cũng không nằm ngoài
mục đích đó và hoạt động này được điều chỉnh bởi những thỏa thuận, hợp
tác, các tổ chức mà chúng ta tham gia như: WCO, công ước HS, công ước
Kyoto năm 1974 và được sửa đổi năm 1999,…
Pháp luật quốc gia: Ở Việt Nam kiểm tra sau thông quan về phân loại
và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý như:
- Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 6
năm 2005
- Thông tư số 194/2010/TT-BTC Hướng dẫn về thủ tục Hải quan, kiểm
tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Thông tư số49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 Hướng dẫn việc phân

quan sửa đổi, bổ sung quy trình kiểm tra sau thông quan theo quyết định
1383/QĐ-TCHQ.
Quy trình này gồm 3 quy trình đó là:
- Quy trình 1: Quy trình thu thập, xử lý thông tin trong nghiệp vụ kiểm
tra sau thông quan
- Quy trình 2: Kiểm tra sau thông quan
- Quy trình 3: Lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong
nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
1.4. SỰ CẦN THIẾT CỦA KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VỀ
PHÂN LOẠI VÀ ÁP MÃ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
- Sự phát triển của nền kinh tế thế giới:
Sự phát triển của thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế khiến cho lưu
lượng hàng hóa được trao đổi buôn bán giữa các quốc gia ngày càng tăng, áp
lực trong cạnh tranh của các doạnh nghiệp theo đó cũng càng lớn. Nó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới trong kinh doanh, trong chiến
lược hoạch định chính sách của mình. Nhiều doanh nghiệp vì mong muốn tối
đa hóa lợi nhuận mà không ngại sử dụng nhiều cách thức nhằm trốn thuế,
trong đó hình thức gian lận qua việc phân loại và áp mã hàng hóa chiếm đa
phần và đang ngày càng tinh vi, đa dạng hơn. Những gian lận này thường rất
18
tinh vi và khó phát hiện. Đối với gian lận trong lĩnh vực mã số và thuế suất
thường có một số thủ đoạn chủ yếu như :
+ Khai sai xuất xứ hàng hóa, để được hưởng ưu đãi về thuế
+ Khai sai công dụng, cấu tạo, chất lượng hàng hóa để được áp thuế
suất thấp
+ Khai sai mục đích sử dụng để được hưởng chính sách miễn thuế
+ Lợi dụng sơ hở hạn chế trong chính sách chế độ về thuế XK, NK
+ Lợi dụng những hạn chế trong hoạt động quản lý, giám sát, kiểm tra
hải quan
+ Lợi dụng quá trình cải tiến, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm tỉ lệ

nâng cao hiệu quả hoạt động khâu “hậu kiểm”, góp phần bảo vệ nguồn thu
ngân sách, tạo môi trường bình đẳng và công bằng trong cộng đồng doanh
nghiêp.
Đó là những đòi hỏi thúc bách từ thực tế mà kiểm tra về phân loại và áp
mã đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình thông quan không
đáp ứng được. Do vậy, kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu là thực sự cần thiết nhằm tạo điều kiện cho phép áp
dụng đơn giản hóa, tự động hóa thủ tục Hải quan; luật Hải quan và pháp luật
có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu được thực hiện nghiêm chỉnh; nâng
cao năng lực quản lý của cơ quan Hải quan, thực hiện chống gian lận thương
mại qua mã số và thuế suất có hiệu quả; tác động tích cực trở lại với hệ thống
quản lý của cơ quan Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro
tiềm ẩn.
Một số lý luận cơ bản của kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp
mã hàng hóa XNK giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát về nghiệp vụ này,
từ đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu thực trạng công tác kiểm tra sau thông quan về
phân loại và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu, tại Chi cục KTSTQ- Cục Hải
quan Thanh Hóa tại chương 2.
20
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
VỀ PHÂN LOẠI VÀ ÁP MÃ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
TẠI CHI CỤC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN – CỤC HẢI QUAN
THANH HÓA
2.1. GIỚI THIỆU VỀ CHI CỤC KTSTQ – CỤC HẢI QUAN
THANH HÓA
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 01/01/2002 Luật Hải quan chính thức bắt đầu có hiệu lực thi
hành,Bộ Trưởng Bộ Tài Chính quyết định thành lập ba phòng kiểm tra sau
thông quan thuộc cục Hải Quan Thành phố Hà Nội, Hải quan Thành phố Hải

xuất nhập khẩu, đồng thời thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tạo
môi trường lành mạnh trong hoạt động thương mại.
Xác định công tác kiểm tra sau thông quan là lĩnh vực mới, còn rất
nhiều khó khăn về mọi mặt, cùng với đặc điểm đòi hỏi trình độ chuyên môn
cao, phải có kiến thức đa dạng, tổng hợp trên nhiều lĩnh vực, tập thể cán bộ,
công chức đơn vị có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng,
năng động, tâm huyết và có trách nhiệm cao đối với công việc được giao,
không ngừng tự học hỏi, nghiên cứu văn bản cũng như trau dồi nâng cao kiến
thức nghiệp vụ, tham gia nhiều khóa đào tạo về công tác kiểm tra sau thông
quan, đoàn kết, làm việc hết sức mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hiện nay chi cục kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Thanh Hóa ở
địa chỉ Số 21, Phan Chu Trinh, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh
Thanh Hóa, được bố trí nơi làm việc khá hiện đại, được trang bị thông tin
hiện đại, chính quy, 100% công chức của chi cục được trang bị máy tính,
được nối mạng nội bộ của ngành: Chương trình quản lý nghiệp vụ Hải Quan,
Hệ thống GTT01, Chương trình quản lý thông tin vi phạm pháp luật Hải
Quan, Hệ thống KT559, Hệ thống thông tin quản lý rủi ro, Hệ thống danh bạ
doanh nghiệp.
Bộ máy tổ chức của Chi cục với biên chế 17 cán bộ công chức, bao
gồm 1 chi cục trưởng, 2 phó chi cục trưởng và 14 cán bộ công chức, 100% đã
tốt nghiệp Đại học, trong đó có 01 cán bộ công chức đã tốt nghiệp Cao học,
hoạt động theo mô hình 2 đội công tác chuyên sâu với các chức năng và
nhiệm vụ cụ thể, bao gồm:
- Đội tham mưu tổng hợp
- Đội kiểm tra sau thông quan
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Chi cục kiểm tra sau thông
quan – Cục Hải quan Tỉnh Thanh Hóa
22
Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Chi cục kiểm tra sau thông quan –
Cục Hải quan Thanh Hóa được thực hiện theo Quyết định số 1166/QĐ-TCHQ

KHẨU TẠI CHI CỤC KTSTQ – CỤC HẢI QUAN THANH HÓA
23
2.2.1. Đặc điểm tình hình Cục Hải quan Thanh Hóa
- Địa bàn hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan Thanh
Hóa “hoạt động theo vùng” bao gồm 04 Tỉnh: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam
Định, Hà Nam; trải dài từ miền núi Thanh Hóa (cửa khẩu Na Mèo, giáp Lào,
cách trung tâm thành phố trên 200km) đến tuyến biển (Nghi Sơn, cảng biển,
cách trung tâm thành phố Thanh Hóa trên 80km; Cảng Ninh Phúc – Ninh
Bình, Cảng Hải Thịnh – Nam Định cách thành phố Nam Định 70km);
- Hiện nay Cục Hải quan Thanh Hóa có 13 đơn vị thuộc và trực thuộc
Cục, trong đó có 7 phòng ban và tương đương, 6 Chi cục hải quan trực thuộc
Cục Hải quan Thanh Hóa (Chi cục kiểm tra sau thông quan, Chi cục Hải quan
của khẩu Cảng Thanh Hóa, Chi cục Hải quan cửa khẩu Na Mèo, Chi cục Hải
quan cửa khẩu Nam Định, Chi cục Hải quan cửa khẩu Ninh Bình, Chi cục Hải
quan cửa khẩu quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam)
- Triển khai hải quan điện tử: 5/5 chi cục triển khai hải quan điện tử đạt
riêng Chi cục kiểm tra sau thông quan chỉ tham mưu (Chi cục Hải quan của
khẩu Cảng Thanh Hóa bắt đầu áp dụng vào ngày 18/1/2013, Chi cục Hải quan
cửa khẩu Na Mèo áp dụng HQĐT vào ngày 25/1/2013, Chi cục Hải quan cửa
khẩu Nam Định áp dụng vào ngày 1/4/2013 , Chi cục Hải quan cửa khẩu Ninh
Bình 15/3/2013, Chi cục Hải quan cửa khẩu quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Hà Nam áp dụng vào ngày 1/4/2013). Hiện nay các chi cục mới sử dụng phần
mềm HQĐT 3.1.8.1.1, 100%, kim ngạch XNK điện tử đạt 100%, số lượng tờ
khai điện tử đạt 100%.
- Hoạt động XNK trên địa bàn nhiều loại hình, đa dạng, phức tạp, nhiều
loại hình, nhiều dự án đầu tư, liên doanh khách sạn; gia công SXXK; khu
công nghiệp, kho ngoại quan…
- Số lượng doanh nghiệp XNK trên địa bàn 4 tỉnh lớn, bình quân hàng
năm có đến 550 doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu.
2.2.2. Tình hình công tác kiểm tra sau thông quan tại Chi cục kiểm

Qua kiểm tra sau thông quan đã đánh giá được sự tuân thủ pháp luật
của các doanh nghiệp, nhờ đó, doanh nghiệp tuân thủ pháp luật tốt hơn, tạo
môi trường bình đẳng, lành mạnh trong hoạt động thương mại. Đồng thời
nâng cao tính tuân thủ pháp luật khâu thông quan; cung cấp thông tin về
doanh nghiệp, mặt hàng, thủ đoạn gian lận để khâu thông quan kiểm tra ngay,
phát hiện sớm không để gian lận tràn lan, khó thu khi phát hiện chậm và đảm
bảo thực hiện quản lý rủi ro.
Công tác chuyên môn của đơn vị:
Trên chặng đường hình thành và phát triển, cán bộ công chức Chi cục
kiểm tra sau thông quan đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nỗ lực phấn
đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, kết quả phúc tập hồ sơ và kiểm tra sau
thông quan năm cao. Cụ thể:
25

Trích đoạn Một số kinh nghiệm rút ra từ công tác kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục QUAN – CỤC HẢI QUAN THANH HÓA. Định hướng nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan về phân loại và áp mã hàng hóa xuất nhập khẩu. Hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho kiểm tra sau thông quan về phân loại, áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status