A. PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại CNH - HĐH đất nước mỗi chúng ta phải luôn luôn đổi mới
công việc của mình. Việc dạy học là cả một quá trình nghệ thuật, kết quả của
quá trình này tốt hay xấu, không chỉ xác định trong một thời gian ngắn mà nó
phải trải qua một quá trình lâu dài đó là vốn hiểu biết đã được tích luỹ, sự tìm tòi
sáng tạo của người giáo viên trong quá trình giảng dạy.
Bậc THCS thuộc bậc trung học đóng vai trò cầu nối giữa THPT và bậc
tiểu học, phải đảm bảo tính lưu thông với hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tuy
nhiên cũng có vị trí độc lập tương đối. Ưu điểm lớn của lứa tuổi này là sự sẵn
sàng của nó đối với mọi hoạt động học tập làm cho nó trở thành người lớn
trong con mắt của mình. Học sinh THCS bị cuốn hút vào các hình thức hoạt
động nhận thức của mình trong những giới hạn của nhà trường. Nhưng sự
nghèo nàn của lứa tuổi này là ở chỗ: Các em chưa biết cách thực hiện sự sẵn
sàng đó, chưa nắm được các phương thức thực hiện các hình thức học tập
mới. Dạy các phương thức đó mà không làm giảm sút hứng thú học tập của
các em là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của giáo viên.
Trong quá trình lĩnh hội tri thức học sinh luôn chờ đợi những hình thức tìm
hiểu mới đối với từng bài, đó là tính tích cực, tính động não của tư duy và tính
tự lập của các em được thực hiện, các khả năng trí tuệ được khêu gợi, yêu cầu tự
suy nghĩ và tự khái quát các khái niệm được đề cao. Thái độ tự nghiên cứu đã
trở thành một đặc trưng cho học sinh.
Các bài Sinh THCS lại có những đặc trưng riêng của nó và có thể có nhiều
cách học khác nhau. Trong quá trình dạy môn Sinh học người giáo viên phải kết
hợp một cách linh hoạt, hợp lý nhiều phương pháp và hình thức tổ chức "Học
một bài Sinh như thế nào?". Như vậy mới làm cho các em nghĩ nhiều hơn thảo
luận nhiều hơn góp phần tạo cơ sở quan trọng cho việc đổi mới thực sự phương
pháp dạy học mà Nhà nước ta đã và đang thực hiện. Quá trình này tuân theo
định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh trên cơ sở tự giác, tự do, tự
khám phá dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Từ đó xây dựng phương
pháp tự học theo hướng tích cực.
-P) M2>#0M3L:!FG
B$7Q)# M2:1>
/QH
R$/0:?=#DSB!Q
TUV+WWUVSXYZ[\X]^_V_V+WWU:`:$
a
b
-c.%%2)2))FG345
67#0)78#Q5FG)*?>963
:;<FG2)?1A53=>?@A
($?B2C3B1#)D#*#)
E>#(FGH&
Rd8dQe/#666(
)QdD($&
f$%>/#6/Q*
$#*D%2"#
EFG%%2)2)))=>d
D?1A2)g5)?@A($?B
hQ?(2C3*#)
*#)E(&'#.FH?B3FG#J)
?#)>)>()? ij0)2
8:B)A2L#K&]/(FG)
FG#Mj&REA2k2))
5l?@(?)&F
8hgQ>&Oh*-
gB):/%:1MFG28 -&
X82>/#6\Fg12>Qg
c
Y]B?B)/)6mFG2>(6
)E)dKm4567:)
15/#6d8hg#$
%d&
II. Cơ sở thực tiễn
f0Gh#J>8
%$&f$%#0E8Ep
qMh)8:B*B6)
N0:)N2&&&Fd88)1%
5>52)K*2C0:
&&&X;N%h$$$
NQN&Gdg1n) :n8:B>
#BNQ)gN&&&X85#$
%GGMQ#B
!K5&\()h8:B*G)N
GJ1d*EME?
P?B):B !E
(89dh45
9Q5&XdK*gM##E&]
*D# :#Q?%K**.X/#6
#0N]FRGS1Fr]]
FdH6#$%g1#s:67gk0l
bg1#:6q>B?t#N8:#0G
?0J#:#0.7H*J:Q6
%74d&
III. Thực trạng dạy và học tại trường THCS Quảng Hưng - TP Thanh
Hóa
]?0;*
R`(KB?t#)JJ6);
4?0d7Bd?0i$5&OhA#g
M#74-5:/#;4K%N#Q
i$8/#6kd8i$7?0:Bi
I>K*1BK*14562
Q5&X7Mn1NMn1b1
!Q5)##K2?1N)B?t
mB$B*&
I6Q5-dj(gB?B
6.(#6H.#H&X78#d#
dj2()>6mAN
>vE>Q5h?B-`6
#Q?B-`hB6d&
I%$cw6m>#?1g6m
c
YOhg#$6?
>#?17?&
Y[M70#h?>#h
%&
Y]d#pK&
2.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng cách thay đổi phương
pháp trình bày nội dung trong một bài giảng
]0N1N:D
#$E2`?)7$
(CM1##)>/
:v1##6)M2Ej&
Bài 7: Cấu tạo tế bào thực vật (Sinh học 6)
Mục 2: trọng tâm tìm hiểu cấu tạo tế bào thực vật thường thì giáo viên
sẽ hướng dẫn học sinh lần lượt như sau:
+ Đọc, nghiên cứu thông tin.
+ Kết hợp quan sát hình 7.4 hoặc tranh: Cấu tạo tế bào thực vật.
+ Treo tranh câm: yêu cầu học sinh chỉ tranh (và bổ sung lẫn nhau):
nêu từng bộ phận chính và chức năng từng bộ phận của tế bào thực vật. Đây
là con đường chính tìm đến kiến thức của học sinh. Thực sự nếu chú ý quan
- Chất tế bào: là chất keo lỏng, trong chứa các bào quan như lục lạp…,
tại đây diễn ra các hoạt động sống của tế bào.
- Nhân: thường chỉ 1 nhân cấu tạo phức tạp có chức năng điều khiển
mọi hoạt động sống cơ bản của tế bào…
Lúc này học sinh sẽ hết sức tích cực và tập trung chú ý vào thao tác lắp
ráp mô hình và kiểm tra kiến thức vừa thực hiện… Giáo viên dễ dàng nhận
xét kết quả của 2 đội: trước-sau, chính xác và thẩm mỹ… Sau đó tổng kết
từng bộ phận chính và chức năng từng bộ phận của tế bào thực vật. Điều quan
trọng là nếu giáo viên chú ý sẽ thấy rõ sự thỏa mãn và thích thú của tất cả học
sinh bởi vì chính bản thân các em đã tìm ra kiến thức chứ không phải là giáo
viên nhồi nhét… Đây cũng là vấn đề cơ bản trong đổi mới phương pháp nhằm
phát huy tính tích cực tự giác của học sinh….
2.3. Đổi mới phương pháp bằng việc hệ thống lại kiến thức sau
mỗi bài, mỗi chương
I>>Q?BK)Bd8>Q
d?Bkh?B9>Q?B-
l9:9p#hv%7
?d?A>0()0&
I\c
wBExkgyl>
Q?B:";M:B!c
2.4. Đổi mới phương pháp bằng cách thay đổi cách tiếp cận với
học sinh bằng phương pháp nêu tình huống
OQdK*v52J#J##Q51%9
dj# M2:&
I%$c
ZY[D)#-*M0zO\k?
Ul
g#`:)d8::"K*K
*2J#J#Q#8c
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||||
||||||||
||||||||
||||||||
||||||||
||||||||
||||||||
2.6. Đổi mới phương pháp bằng cách cung cấp tài liệu học tập cho
học sinh.
]0N)h?B??0:N
Q6%#0)B>6>#Qg
8d82##?1*gB&XQ6
QK>K>ED#0(Q*gB)
>dd8>%2B1:
7K9;(?11#:1g)
p)% &]>0145&
2.7. Đổi mới phương pháp dạy học bằng cách tăng cường sử dụng
đồ dùng dạy học, tăng cường làm thí nghiệm thực hành.
]2B`N]FRGS1F>);4BK
*)N1.H72#;4&I*
g2)N?0dJ2)?0d
Dùng kéo nhọn tách nhẹ nội quan -> dựa vào hình 16.3A - 16.3B để xác
định các cơ quan.
HS: Các nhóm hoàn thành, chú thích hình 16B và C.
GV: Gọi đại diện nhóm lên chữa trên tranh câm -> nhóm khác bổ sung.
* Kết luận chung:
GV: Gọi đại diện 1-3 nhóm:
+ Trình bày cách quan sát cấu tạo ngoài.
+ Trình bày thao tác mổ và quan sát cấu tạo trong.
+ Nhận xét và vệ sinh.
GV: Cho điểm 1 - 2 nhóm, viết bản thu hoạch.
- Phương pháp này do giáo viên tiến hành hoặc trình bày sẵn (gọi là tư duy
trực tiếp) bằng các câu hỏi và bài tập định hướng, giáo viên kích thích khả năng
tìm tòi độc lập chủ động của học sinh để thu nhận thông tin, nêu giả thuyết, dự
đoán kết quả, tìm ra kết luận về bản chất, tính quy luật, hiện tượng.
2.8. Đổi mới phương pháp dạy học bằng cách thay đổi phương tiện dạy
học.
Với những bài tương đối dài và kiến thức trừu tượng khó hiểu thì việc sử
dụng phương tiện hiện đại trong quá trình truyền thụ kiến thức sẽ mang lại kết
quả nhanh và tốt hơn, làm tăng hiệu quả giảng dạy
Ví dụ: Ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kết bài giảng
]B_}“Cơ quan phân tích thị giác”G6,&Z1;#GD
klc
*Slide 1cG?6>:)#$:)6m
??B9hMnk`:#lh
:1:k`:1#l&G#u#Mn
8Nk~DMnlP1N)
( tM1N);NB
:1#&
]x•]_}cR€S•zOF‚O]ƒRF]F„[x…R
RMnTcfM%
(#NN8t?!l&
Cơ quan
thụ cảm
Bộ phận phân
tích ở trung
ương
*Slide 3: ]2bB?B??h4
#GD&G?6m.G;K#Y
6HMn}kGD‡l&F:K;)6
dj:/)?B(B:1k:1
#l&Gd6m#82?h
B:dB:D#Q>6g?!g
1%#Q>5Mn_MnU&
I6B?B()051);)C
??B#>8)*d-5%%
2))MA2>1BK*
&
*Slide 4,5:“Sự tạo ảnh ở màng lưới”.
FBe>K#QB`#$c
B.G;%>#*2*Bk$l8‰H
`P#%cK
0:)#01%>#?B1%>#8
E?B(&'%.H?0#Q
>vK0BB.H16_U
>#GD&IBNC#*)JB?B
#$&[NŠ?05%%2
)KK?B?p%-##N)
>1>(K&
]9hB)B?B#$c
]B9tv#7Mnd#6BBh
luận các vấn đề giáo viên nêu ra và ghi vào biên bản của nhóm. Sau đó cử đại
diện trình bày kết quả trước lớp.
Tiếp theo giáo viên phát hoa bưởi cho học sinh, các nhóm và thông báo cho
học sinh biết mục đích của việc phân tích hoa thành các bộ phận tạo nên hoa và
ghi tên các bộ phận đó lên bảng (Theo mục 1 SGK) việc phân tích hoa bưởi
được học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Học sinh vừa quan sát
vừa trả lời các câu hỏi vào phiếu làm việc:
- Hoa được sắp xếp trên bộ phận gì?
- Trên cuống hoa có phần loe rộng gọi là gì?
Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh dùng dao nhọn cắt một vòng không
sâu lắm ở phía trên đế hoa. Sau đó cắt một lát dài trên phần màu lục của hoa và
tách cẩn thận, cho các em gọi tên bộ phận này (đài hoa). Tương tự như vậy các
em tách những phần còn lại và gọi tên (tràng, nhị và nhuỵ).
Đồng thời với việc quan sát các em vẽ các bộ phận và ghi chép vào vở.
Cuối cùng học sinh tách hết các bộ phận và đi đến kết luận: Hoa có 4 bộ
phận chính: Đài, tràng, nhị và nhuỵ.
Nhưng cơ quan quan trọng nhất là nhị và nhuỵ.
Giáo viên hỏi: Vì sao?
Học sinh trả lời và giáo viên gợi mở vấn đề này cho bài hôm sau.
Giáo viên hỏi: em có nhận xét gì về một số loài hoa như: Hoa bưởi, hoa
huệ, hoa ngô, hoa bí đỏ.
Giáo viên hướng vào nhận xét các bộ phận của hoa (Một số hoa có thể
thiếu tràng, đài nhưng không thể thiếu nhị và nhuỵ).
Cụ thể như thế nào ta nghiên cứu các bài tiếp theo và hướng dẫn các em
làm bài tập về nhà theo mẫu của hoa bưởi đã phân tích.
Cuối tiết “Tổ chức cuộc thi nhỏ” cắt các bộ phận mô phỏng hoa bằng giấy
sau đó cho các nhóm ghép lên bảng tạo thành hình bông hoa hoàn chỉnh. Tổ
chức chấm về thời gian và thẩm mỹ, chính xác.
3. Đổi mới phương pháp dạy học phải đi đôi với đổi mới phương
pháp kiểm tra đánh giá:
%:#01jd8#?
;N?8#51K519
6&
OMMn)*?8#1E))
1:B:?B#0)*?8#1
:;#1g2(p>#8% )
>)s&
‡&‡&•ij?B1?8#c
RA8#::#0??8#)d
8 !52`#u#0&
‡&}&Gi$?B1&
]49N8##i$?B1&Rd8A
?B18*?B$B?t#):;
<?n)M;?Q>:/E
]F]|
GMD# #%$* M2?8#)
M;#DD#$`N]FRGS1Fd
N]FRGdc
C.Kết luận
Đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh
giá cần phải được thực hiện đồng loạt từ dưới lên trên, từ giáo viên trẻ đến giáo
viên lớn tuổi, từ năm này qua năm khác, đổi mới phương pháp giảng dạy có thể
từ một vài bài ở một vài tiết học rồi nhiều hơn nữa, thậm chí có thể chỉ cần nảy
sinh ý tưởng đổi mới và áp dụng một vài thay đổi trong một tiết dạy học đã là
đổi mới. Tuy nhiên một số giáo viên cho rằng cứ phải giảng dạy bằng giáo án
điện tử thì mới gọi là đổi mới phương pháp, trong khi đó phương pháp thì không
có gì đổi mới chỉ thay bằng một dụng cụ hỗ trợ giảng dạy khác hiện đại hơn.
Đổi mới phương pháp dạy và học phải thật sự là thay đổi “cách dạy” và
“cách học” không xa rời, chê bỏ phương pháp cũ mà phải dựa trên phương pháp
cũ để đánh giá mức độ thành công của phương pháp mới, so sánh phương pháp
lực
cũ và phương pháp mới để nhận biết được vấn đề cần phải thay đổi, đổi mới sao
cho có hiệu quả.
Đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh
giá là một quá trình lâu dài đòi hỏi phái có thời gian quá độ để giáo viên và học
sinh có thể đổi mới và thích ứng kịp thời.