MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu
AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ASEAN Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam Á
ATM Máy rút tiền tự động
BANKNETVN Công ty chuyển mạch tài chính Quốc gia Việt Nam
BIDV Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
HABUBANK Ngân hàng cổ phần Nhà Hà Nội
HOME - BANKING Dịch vụ ngân hàng điện tử tại nhà
HSBC Ngân hàng Hồng Công và Thượng Hải
INTERNET - BANKING Dịch vụ ngân hàng điện tử qua internet
PHONE - BANKING Dịch vụ ngân hàng điện tử qua điện thoại
POS Máy chấp nhận thẻ
SACOMBANK Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
TECHCOMBANK Ngân hàng Kỹ thương
VIETCOMBANK Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương
Việt Nam
VIETINBANK Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương
Việt Nam
VNBC Liên minh thẻ của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đông Á
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
Trong những thập niên gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ
mà đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo ra một cuộc cách
mạng trong thương mại. Các phương pháp kinh doanh truyền thống đã và
đang dần dần được thay thế bằng một phương pháp mới. Đó chính là thương
mại điện tử, được phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin và internet.
Thương mại điện tử đã đưa ra một giải pháp hữu hiệu trong trao đổi
thông tin, hàng hoá, dịch vụ và mở rộng quy mô thị trường, thị trường không
tử rất cơ bản như dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, dịch vụ ngân hàng qua tin
nhắn, dịch vụ ngân hàng qua internet và thu được kết quả khả quan. Tuy
nhiên, Lãnh đạo Habubank đã quan tâm và đầu tư phát triển dịch vụ ngân
hàng điện tử, nhưng chưa đưa ra được một lộ trình phát triển phù hợp. Do đó,
việc nghiên cứu “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng cổ phần
Nhà Hà Nội” là một yêu cầu khách quan và tất yếu.
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về các dịch
vụ ngân hàng điện tử, vai trò của chúng đối với các ngân hàng và khuynh
hướng phát triển trong thời gian tới. Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ
ngân hàng điện tử ở Habubank, đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển dịch
vụ ngân hàng điện tử trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dịch vụ ngân hàng điện tử tại
Habubank. Không gian nghiên cứu: các dịch vụ ngân hàng điện tử của
Habubank. Thời gian nghiên cứu từ 2005 - 2008 và định hướng đến 2015.
Luận văn có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn trong công tác
5
nghiên cứu về phát triển ngân hàng điện tử thông qua việc hệ thống hoá
những vấn đề lý luận cơ bản về các dịch vụ ngân hàng điện tử, vai trò của
chúng đối với ngân hàng và xu hướng phát triển; đề xuất các giải pháp thúc
đẩy phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Habubank trong thời gian tới;
chia sẻ bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp cổ phần trung bình và nhỏ
trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.1. SỰ THAY ĐỔI CƠ BẢN TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG VÀ KHÁI
NIỆM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành công
nghệ thông tin đã tác động mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống, kinh tế
- xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của
thực hiện bằng phương tiện điện tử. Trong đó, phương tiện điện tử là phương
tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền
dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Nhận thấy khái niệm giao dịch điện tử không chỉ giới hạn trong phạm vi
mạng Internet và các mạng thông tin khác, mà còn mở rộng ra đối với tất cả
các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Do đó, giao dịch điện
tử trong dịch vụ ngân hàng là giao dịch bằng phương tiện điện tử trong dịch
vụ ngân hàng, nói cách khác là dịch vụ ngân hàng được giao dịch bằng
phương tiện điện tử (gọi tắt là “dịch vụ ngân hàng điện tử”). Do đó, dịch vụ
ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng được giao dịch bằng phương
tiện điện tử.
Các nghiên cứu về thị trường ngân hàng còn cho thấy rằng đối tượng
khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử là một thế hệ khách hàng mới,
có trình độ học vấn cao, và đòi hỏi cao về các dịch vụ tài chính ngân hàng.
Người với máy tính điện tử
(mẫu biểu điện tử, Web)
Người với người
(Điện thoại, thư điện tử, Fax)
Máy tính điện tử với
máy tính điện tử
(Thẻ, ATM)
Máy tính điện tử với người
(Fax, thư điện tử)
8
Sơ đồ 1.1: Giao dịch ngân hàng điện tử
1.2. CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
1.2.1. Thanh toán thẻ
Dịch vụ chấp nhận và thành toán thẻ bắt đầu xuất hiện từ năm 1992.
Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch tới Việt Nam. Họ mang theo thẻ tín
ĐẠI LÝ THANH
TOÁN THẺ
NGÂN HÀNG PHÁT
HÀNH THẺ
NGÂN HÀNG CHẤP
NHẬN THẺ
10
1.2.2. Dịch vụ phát hành thẻ và hệ thống máy ATM
Loại hình thẻ được các ngân hàng ở Việt Nam phát hành bao gồm 03
loại thẻ sau đây:
- Thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép chủ thẻ thanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ, rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được ngân hàng phát hành thẻ chấp
thuận theo hợp đồng. Thẻ tín dụng được phân làm hai loại: tín chấp và thế
chấp (hoặc ký quĩ), dựa trên đó ngân hàng sẽ cấp hạn mức tín dụng cho chủ
thẻ. Ngân hàng sẽ không trừ dần các khoản chi tiêu của chủ thẻ vào số tiền ký
quĩ mà hằng tháng chủ thẻ sẽ sử dụng nguồn tiền khác của mình để thanh toán
lại cho ngân hàng, tối thiểu 20% số tiền sử dụng, phần còn lại trả lãi theo lãi
suất của ngân hàng.
- Thẻ thanh toán (thẻ ghi nợ) là loại thẻ được chủ thẻ sử dụng để thanh
toán tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt trong phạm vi số dư trên tài khoản
tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ.
- Thẻ quốc tế (thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng quốc tế) là thẻ do ngân hàng
phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành, được sử dụng, thanh toán trong và
ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc thẻ phát hành ở nước ngoài nhưng sử dụng,
thanh toán tại Việt Nam. Ví dụ như thẻ Visa, MasterCard, American Express.
Thẻ ghi nợ ít rủi ro hơn cho cả ngân hàng lẫn chủ thẻ. Song có hạn chế
là: Nó chỉ có thể chấp nhận bởi các thiết bị thanh toán thẻ của chính ngân
hàng phát hành hoặc một số rất hạn chế các ngân hàng khác. Trong khi đó thẻ
tín dụng được chấp nhận phổ biến trên toàn thế giới.
Hệ thống chấp nhận thẻ được các ngân hàng xây dựng ở Việt Nam bao
hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài.
Khi đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, khách hàng sẽ
12
được cung cấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản và tuỳ theo dịch vụ
đăng ký, khách hàng có thể sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau.
1.2.3.3. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile - banking)
Cùng với sự phát triển của mạng thông tin di động, các ngân hàng tại Việt
Nam đã nhanh chóng ứng dụng công nghệ mới này vào hoạt động trong ngân
hàng. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động là một kênh phân phối sản
phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ thống mạng điện thoại di động. Về nguyên tắc,
dịch vụ này chính là quy trình thông tin được mã hoá, bảo mật và trao đổi giữa
trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động của khách hàng.
Dịch vụ này hiện chủ yếu cung cấp một số thông tin cho khách hàng như
số dư tài khoản, liệt kê giao dịch, các điểm đặt ATM
1.2.3.4. Dịch vụ ngân hàng qua internet (Internet - banking)
Dịch vụ ngân hàng qua internet là loại hình phục vụ giúp khách hàng
giao dịch với ngân hàng tại nhà 24/24 giờ trong ngày. Để có thể sử dụng dịch
vụ, khách hàng đăng ký với ngân hàng để được cấp mật khẩu và mã truy cập.
Qua internet, khách hàng truy cập trang chủ của ngân hàng và thực hiện các
giao dịch tài chính, tìm kiếm các thông tin, liệt kê các giao dịch, thực hiện các
thanh toán tiền điện, nước, tiền bưu điện, đóng các khoản thuế Khi các điều
kiện kỹ thuật và tính pháp lý thông qua các giao dịch điện tử được thừa nhận
và được thực hiện, dịch vụ này giúp việc minh bạch hóa tài chính, và chống
thất thoát, tham nhũng tốt hơn.
Dịch vụ này ở nước ta hiện mới có các giao dịch như: thông tin về tiền
gừi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, các sản phẩm tín dụng, các dịch vụ thanh
toán, dịch vụ thẻ, chuyển tiền cùng với các mục thông tin về lãi suất, tỷ giá,
các loại phí dịch vụ giao dịch ngân hàng.
1.2.4. Thị trường điện tử liên ngân hàng
13
Hệ thống liên ngân hàng quốc tế (SWIFT), trong đó có 15 ngân hàng Việt
Nam và 21 ngân hàng nước ngoài.
Bằng việc nâng các cấp hệ thống liên ngân hàng trong nước và quốc tế,
thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã, đang được cải thiện theo
chiếu hướng nhanh, gọn và hiệu quả hơn.
1.2.4.4. Hệ thống chuyển mạnh thẻ, kết nối ATM
Việc thanh toán điện tử liên ngân hàng không chỉ thuận lợi cho doanh
nghiệp mà còn là tiết kiệm chi phí đầu tư cho bản thân các ngân hàng. Một ví
dụ, hiện nay việc dùng tài khoản bằng thẻ, nếu dùng của ngân hàng nào thì rút
tiền tại điểm có máy giao dịch thẻ của ngân hàng đó. Điều này dẫn đến sự đầu
tư tốn kém, trong khi vốn của các ngân hàng ở nước ta chưa cao.
Sau một quá trình phát triển tự phát đã hình thành 2 xu hướng liên minh,
liên kết mạng lưới thanh toán thẻ. Hiện tại Việt Nam có 3 đơn vị lớn nhất
đang làm dịch vụ chuyển mạch, thanh toán bù trừ và quyết toán các giao dịch
thẻ có tính chất đa phương, đó là Công ty cổ phần dịch vụ thẻ Smartlink; Liên
minh thẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á (VNBC) và Công ty cổ
phần chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn). Việc tồn tại nhiều tổ chức
thực hiện chuyển mạnh và bù trừ các giao dịch thẻ một mặt tăng khả năng
cạnh tranh giữa các ngân hàng, nhưng mặt khác khiến tính thống nhất chưa
cao (đôi khi có những hình thức cạnh tranh không lành mạnh) làm giảm tốc
độ tăng trưởng về thẻ trong nền kinh tế và lãng phí trong đầu tư. Mặc dù,
Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia và Công ty cổ phần dịch vụ
thẻ Smartlink đã liên kết hệ thống ATM với nhau, nhưng tiến hành nhất thể
hoá hệ thống thanh toán thẻ trên cơ sở liên kết mạng cục bộ của các ngân
15
hàng thương mại trong quan hệ thanh toán, trao đổi hàng hoá dịch vụ trên thị
trường còn rất khó khăn, phức tạp. Vì vậy, việc triển khai thực hiện Đề án xây
dựng Trung tâm chuyển mạnh thẻ thống nhất là mục tiêu dài hạn để phát triển
và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện xây dựng nền tảng
kỹ thuật cho việc triển khai các phương tiện thanh toán hiện đại tại Việt Nam.
rút tiền tự động làm cho dịch vụ ngân hàng trở nên phong phú và phổ biến
rộng rãi.
Với mô hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả năng phát
triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực
kinh doanh là rất cao. Đặc biệt, ngân hàng điện tử có thể cung cấp dịch vụ
chéo. Theo đó các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty
chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích nhằm
đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan: ngân hàng,
bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán Khả năng giữ và thu hút khách hàng của
ngân hàng điện tử cao. Chính nhờ những tiện ích có được từ công nghệ ứng
dụng (phần mềm tối ưu, nhà cung cấp dịch vụ mạng tốt, dịch vụ internet
thông thoáng) sẽ thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với
ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của ngân hàng.
1.3.1.3. Tăng cường khả năng cạnh tranh và tồn tại
Ngân hàng điện tử giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách
hàng rộng rãi và bền vững. Khách hàng sẵn sàng từ bỏ một ngân hàng mà phải
xếp hàng rất lâu chờ rút tiền để đi tới một máy ATM của một ngân hàng khác và
thực hiện nhiệm vụ này trong vài phút. Khách hàng sẽ tới một ngân hàng sẵn
sàng giúp thực hiện giao dịch với đối tác nhanh gọn và chính xác.
Phát triển ngân hàng điện tử giúp các ngân hàng thích ứng nhanh chóng
17
với những thay đổi của thị trường, điều chỉnh kịp thời phí, lãi suất, tỷ giá phù
hợp với diễn biến của tình hình thị trường. Hạn chế rủi ro do biến động về giá
cả của thị trường gây ra, mang lại lợi ích kinh tế cho ngân hàng và khách hàng
tham gia sử dụng dịch vụ của ngân hàng điện tử. Đây là lợi ích vượt trội so
với ngân hàng truyền thống.
Sự kết hợp hài hoà trong quá trình phát triển các hoạt động dịch vụ ngân
hàng truyền thống và phát triển ngân hàng điện tử, cho phép các tổ chức tín
dụng tiếp cận nhanh với các phương pháp quản lý hiện đại giúp các tổ chức
tín dụng đa dạng hoá sản phẩm, tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả hoạt động
Ngoài những lợi ích chính đối với các bên tham gia ngân hàng điện tử nói
trên, ngân hàng điện tử còn đem lại những lợi ích to lớn tiềm tàng đối với toàn
thể nền kinh tế.
Việc tiêu dùng chủ yếu bằng tiền mặt có rất nhiều hạn chế. Nhà nước
phải bỏ ra một chi phí nhất định hàng năm để in ấn và quản lý số lượng tiền in
ra. Việc khó xác định chính xác lượng tiền lưu hành trong dân khiến chính
phủ gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra các chính sách tài khoá nhằm đảm
bảo một thị trường tài chính ổn định. Ngân hàng điện tử với sự phổ biến sử
dụng tài khoản cá nhân và tiền điện tử sẽ góp phần không nhỏ trong việc tháo
gỡ khó khăn này. Chính tiền điện tử và giao dịch tài khoản làm cải thiện khả
năng thanh toán trong thị trường tài chính.
Ngân hàng điện tử giúp cho nhà nước có thông tin đầy đủ về việc thực
hiện thu nộp thuế một cách nhanh chóng và cập nhật, đồng thời kiểm soát tốt
thu nhập của cá nhân, tổ chức, từ đó giúp chống tham nhũng có hiệu quả.
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển rộng khắp trên toàn thế
giới của thương mại điện tử, ngân hàng điện tử chính là chiếc cầu nối cho sự
19
hội nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế. Ngân hàng điện
tử góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch
phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với khu vực và
thế giới, đặc biệt là thương mại điện tử phát triển.
Phát triển ngân hàng điện tử đã tạo ra một phương thức hợp tác kinh
doanh mới trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính: Các hãng viễn thông cung
cấp các thiết bị cầm tay cùng với đầy đủ các dịch vụ mạng còn các ngân hàng
sẽ quản lý tiền, quản lý các hiệp hội thẻ và cung cấp dịch vụ trực tuyến. Ngân
hàng sẽ thu được nhiều phí giao dịch và lãi từ việc cung cấp tín dụng qua thẻ;
các hãng viễn thông lại thu được phí sử dụng dịch vụ viễn thông.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG ĐIỆN TỬ
Tham gia dịch vụ ngân hàng điện tử có ba thành phần chính. Đó là hệ
nội bộ, mạng liên nội bộ, thiết bị thanh toán điện tử (ATM, POS) và các dịch
vụ truyền thông (thuê bao điện thoại, phí nối mạng, truy cập mạng).
Chi phí phần cứng cho một hệ thống máy tính văn phòng, máy chủ,
mạng nội bộ khoảng 100.000 USD. Một máy POS đặt tại các điểm bán hàng
giá khoảng 50 USD. Một máy ATM giá khoảng 40.000 USD. Chi phí phần
mềm cho hệ thống này khoảng 300.000 USD. Còn phải kể đến chi phí tham
gia các tổ chức thanh toán quốc tế, chi phí bảo dưõng, nâng cấp hệ thống.
Ước tính tổng vốn đầu tư ban đầu lên tới 10 triệu USD cho một ngân hàng.
Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin này chỉ có thể có và hoạt động tin cậy
trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng, bưu chính viễn thông đảm bảo
cung cấp điện năng, thông tin liên lạc đầy đủ, ổn định với mức giá hợp lý.
Thiết lập một nền công nghiệp như vậy năm ngoài tầm kiểm soát của các
21
ngân hàng. Nó đòi hỏi sự đầu tư cả về vốn lẫn thời gian của nhà nước. Điều
này đặc biệt khó khăn với các nước đang và kém phát triển.
1.4.1.3. Vấn đề an toàn và bảo mật
Giao dịch bằng phương tiện điện tử đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất
là hoạt động qua mạng. Nhiều người sợ không dám mua bán qua mạng, thanh toán
bằng thẻ qua máy điện tử, máy rút tiền. Người mua thì lo các chi tiết của thẻ tín
dụng của mình bị lộ, và kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua
không thanh toán cho các hợp đồng hay giao dịch đã được ký kết theo kiểu điện tử.
Điều lo sợ ấy là có căn cứ, vì số vụ tấn công vào Internet hay các vụ làm
và sử dụng thẻ giả ngày càng gia tăng. "Giặc máy tính" dùng nhiều thủ đoạn
khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu, tạo vi rút máy tính, giả mạo địa chỉ
Internet, dập thẻ giả, móc nối với người bán hàng tạo ra các giao dịch "ảo"
Kỹ thuật mã hoá hiện đại, với khoá dài tối thiểu 1024 bit thậm chí 2048
bit cộng với các công nghệ SSL (Secure Socket Layer), SET (Secure
Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này. Các ngân hàng phát
hành thẻ đang khuyến khích phát hành và sử dụng thẻ có các "chip" điện tử
thay thế cho các dải từ. Một chiến lược về mã hoá và giải mã kèm theo các
tới việc sử dụng thử và cuối cùng là chấp nhận sản phẩm và dịch vụ đó.
Ngân hàng điện tử là một khái niệm rất mới đối với đại bộ phận người
tiêu dùng. Không phải ai cũng có cái nhìn đầy đủ về ngân hàng điện tử. Một
trong những trở ngại lớn nhất của ngân hàng điện tử là thái độ hoài nghi, lưỡng
lự khi chuyển đổi từ hình thức giao dịch cũ truyền thống sang hình thức mới.
Khách hàng sau khi đã nhận thức được ngân hàng điện tử họ sẵn lòng
dùng thử. Song, sẽ trở nên khó khăn cho họ khi hệ thống thanh toán ngân
hàng điện tử không ổn định và sẵn có. Một khách hàng sau khi mua thẻ tín
23
dụng sẽ thấy nghi ngờ dịch vụ ngân hàng điện tử nếu thẻ của họ thường xuyên
bị từ chối vì lý do trục trặc kỹ thuật của thiết bị thanh toán điện tử hay chán
nản vì không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị chấp nhận thẻ
tín dụng. Họ sẽ rất bực mình khi kiểm tra số dư tài khoản qua điện thoại mà
điện thoại ngân hàng bị hỏng và vô cùng hoang mang số thẻ tín dụng bị đánh
cắp sau một lần mua hàng qua internet.
1.4.3. Các quy định của Nhà nước
Nhà nước đóng vai trò thiết lập "luật chơi". Do vậy, việc tạo ra một môi
trường canh tranh lành mạnh, một hành lang pháp lý và các quy định khung
có ảnh hưởng lớn tới các thành viên tham gia dịch vụ này, từ đó quyết định sự
phát triển nhanh và đúng hướng của dịch vụ ngân hàng điện tử.
Ngân hàng điện tử chỉ có thể thành công khi nhà nước đồng ý cho phép
tạo điều kiện và bảo vệ loại hình dịch vụ này
Trước hết chính phủ phải quyết định xem xét thương mại điện tử nói
chung và ngân hàng điện tử nói riêng là cơ hội hay hiểm họa. Điều đó không
dễ vì không phải quốc gia nào cũng đồng ý với ý tưởng "toàn cầu hoá". Ngay
như Pháp phải tới năm 1998 mới quyết định tuyên bố internet là một cơ hội.
Để thúc đẩy phát triển ngân hàng điện tử, những việc đầu tiên mà chính
phủ các nước phải làm là:
- Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch ngân hàng điện tử;
- Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (tức chữ ký dưới dạng số đặt
năm tới. Doanh số dịch vụ ngân hàng điện tử năm 1997 là 8 tỷ USD, 1998 là 14
tỷ USD, 1999 là 31 tỷ USD và tới 2002 là 90 tỷ USD, hiện 200 tỷ USD.
1.5.2. Dịch vụ ngân hàng điện tử ở một số nước
1.5.2.1. Mỹ
25