Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
MỤC LỤC
T
Từ viết tắt Từ đầy đủ
1 WTO World Trade Organization
2 TMĐT Thương mại điện tử
3 WWW World wide web
4 WAP Wireless Application Protocol
5 DN Doanh nghiệp
6 B2B Business to business
7 B2C Business to consumer
8 B2G Business to goverment
9 C2C Consumer to consumer
10 G2C Goverment to consumer
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới ( tiếng Anh: World Trade Organization, viết
tắt WTO) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát
các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương
mại. Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương
mại để tiến tới tự do thương mại.
1.1 Nguồn gốc của WTO
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương
mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước.
Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và
Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kì đã không
phê chuẩn hiến chương này.Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc
giới doanh nghiệp Hoa Kì lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử
dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn
của Hoa Kì (Lisa Wilkins, 1997).
ITO suy sụp sớm, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh
kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó.
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1 Khái niệm thương mại điện tử
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách tổng
quát, TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những
phương tiện điện tử. TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền
thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại
được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian
kinh doanh
TMĐT ngày càng được biết tới như một thương thức kinh doanh hiệu quả từ khi
Internet hình thành và phát triển. Chính vì vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ
thể hơn là giao dịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng.
2.2 Lịch sử hình thành TMĐT
Từ khi Tim Berners-Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá
nhân đã tích cực khai thác, phát triển thêm WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ.
Các doanh nghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp,
chia sẻ thông tin, liên lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế. Từ đó,
doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet, WWW
để phục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệm TMĐT. Chính Internet và Web
là công cụ quan trọng nhất của TMĐT, giúp cho TMĐT phát triển và hoạt động hiệu
quả. Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm1994. Công ty Netsscape tung ra các
phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet vào tháng 5 năm 1995. Công ty
Amazon.com ra đời vào tháng 5 năm 1997. Công ty IBM tung ra chiến dịch quảng cáo
cho các mô hình kinh doanh điện tử năm 1997
Với Internet và TMĐT, việc kinh doanh trên thế giới theo cách thức truyền
thống bao đời nay đã ít nhiều bị thay đổi, cụ thể như:
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản
phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác.
• Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc
phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem,
người xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện.
• Cấp độ 3 - chuẩn bị TMĐT: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch
vụ qua mạng. Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để
phục vụ các giao dịch trên mạng. Các giao dịch còn chậm và không an toàn.
• Cấp độ 4 – áp dụng TMĐT: website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong
mạng nội bộ của DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự
can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng
hiệu quả.
• Cấp độ 5 - TMĐT không dây: doanh nghiệp áp dụng TMĐT trên các thiết bị
không dây như điện thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi)v.v… sử dụng giao
thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocol).
• Cấp độ 6 - cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta
có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại
thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch.
Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển TMĐT
• Cấp độ 1 – thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh
nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các
hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống.
• Cấp độ 2 – thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh
nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng,
có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến.
• Cấp độ 3 – thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích
hợp, kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn
- Giảm chi phí thông tin liên lạc:
- Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính
(80%); giảm giá mua hàng (5-15%).
- Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng,
quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá
biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và
củng cố lòng trung thành.
- Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả
đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời.
- Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng
cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực tế, việc thu nếu
triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet.
- Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất
lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các
quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận
thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động
kinh doanh.
2.2.2 Lợi ích đối với người tiêu dùng
- Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử cho phép
khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới.
- Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: Thương mại điện tử cho phép người
mua có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn.
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
- Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách
hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được mức
giá phù hợp nhất.
- Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản phẩm
số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng được thực hiện dễ dàng
thông qua Internet.
các loại hình phổ biến như sau:
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (business to business);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (business to consumer);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước - B2G (business to government);
- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C (consumer to consumer);
- Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân - G2C (government to consumer).
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp. Theo Tổ chức Liên hợp quốc về Hợp tác và Phát triển kinh tế
(UNCTAD), TMĐT B2B chiếm tỷ trọng lớn trong TMĐT (khoảng 90%). Các giao dịch
B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia
tăng (VAN); dây chuyền cung ứng hàng hoá, dịch vụ (SCM), các sàn giao dịch
TMĐT… Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp
đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở một mức độ cao, các giao dịch này có thể
diễn ra một cách tự động. TMĐT B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp,
đặc biệt giúp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp
thị, đàm phán, tăng các cơ hội kinh doanh,…
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các
phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa,
dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa
chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Giao dịch B2C tuy chiếm tỷ trọng ít
(khoảng 10%) trong TMĐT nhưng có sự phạm vi ảnh hưởng rộng. Để tham gia hình
thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở
dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ; tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực
tiếp tới người tiêu dùng. TMĐT B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu
dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày
hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ
cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh
nhiều mặt hàng cùng một lúc.
3.1.1 Nộp đơn xin gia nhập
Nộp đơn là bước đầu tiên và bắt buộc đối với một nước xin gia nhập WTO.
Ðồng thời với việc tham gia Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) vào
tháng 7-1995; là thành viên đồng sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) vào tháng
3-1996; tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào
tháng 11-1998; Việt Nam đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc tham gia vào Tổ
chức thương mại thế giới (WTO).
1-1-1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO. WTO tiếp nhận đơn xin gia
nhập của WTO của Việt Nam và Việt Nam trở thành quan sát viên của tổ chức này.
31-1-1995, Nhóm công tác (của WTO) về việc Việt Nam gia nhập WTO được
thành lập.
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
3.1.2 Ðàm phán gia nhập
Ðể gia nhập WTO, tất cả các thành viên xin gia nhập đều phải tiến hành các
cuộc đàm phán. Nói cách khác, để gia nhập WTO, các nước xin gia nhập phải cam kết
đưa ra những nghĩa vụ (cam kết mở cửa thị trường, cam kết tuân thủ các hiệp định của
WTO) mà mình sẽ chấp thuận khi trở thành thành viên của WTO để đổi lấy những
quyền (những ưu đãi do các nước thành viên của WTO dành cho, được hưởng lợi từ hệ
thống thương mại đa biên với các luật chơi của WTO, được sử dụng các quy tắc giải
quyết tranh chấp của WTO ) mà WTO đem lại. Ðể gia nhập WTO, Việt Nam cũng
phải thực hiện các cuộc đàm phán xin gia nhập.
Giai đoạn đàm phán bao gồm các bước sau:
- Minh bạch hoá chính sách:
Minh bạch hoá chính sách là việc chính phủ nước xin gia nhập phải thông báo,
mô tả (phác hoạ) bức tranh chung về các cơ chế, chính sách thương mại, kinh tế của
nước mình có liên quan đến các hiệp định của WTO. Việc minh bạch hoá chính sách
được thực hiện thông qua việc Việt Nam gửi bản Bị vong lục về cơ chế ngoại thương
của Việt Nam (trình bày về hệ thống chính sách thương mại - kinh tế của Việt Nam) tới
Nhóm công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (sau đây gọi là Nhóm công tác) để
Do vậy, nói một cách khác, các cuộc đàm phán song phương nhằm xác định các
lợi ích mà các thành viên của WTO có thể thu được từ việc gia nhập của một thành
viên mới. Khi các cuộc đàm phán song phương này kết thúc và Việt Nam trở thành
thành viên WTO, các cam kết qua các cuộc đàm phán sẽ trở thành cam kết áp dụng
cho tất cả các thành viên WTO. Có khoảng 30 đối tác có yêu cầu đàm phán song
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
phương với Việt Nam. Tính đến 30-10-2005, Việt Nam đã kết thúc đàm phán với 21
đối tác.
Khi bước vào giai đoạn đàm phán, nước xin gia nhập cũng bắt đầu đưa ra Bản
chào. Bản chào là danh mục những cam kết về thuế quan, về thương mại dịch vụ,
đầu tư, sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu của các nước thành viên Nhóm công tác.
Bản chào là cơ sở để tiến hành các cuộc đàm phán mở cửa thị trường. Sau một quá
trình đàm phán, các cam kết, các nghĩa vụ trong Bản chào này sẽ được sửa đổi. Cuối
cùng, các cam kết, nghĩa vụ đưa ra trong Bản chào này sẽ trở thành những cam kết
chính thức khi kết thúc đàm phán.
Ðến nay, sau các phiên họp với Nhóm công tác từ 1998 đến 2001, Việt Nam đã
hoàn thành giai đoạn minh bạch hoá chính sách. Bản chào đầu tiên đã được Việt
Nam gửi tới Ban thư ký của WTO vào tháng 12-2001. Tính đến 12-2005, Việt Nam
đã đưa ra Bản chào thứ tư.
3.1.3 Kết nạp
Theo thông lệ, khi Nhóm công tác đã kết thúc việc xem xét chế độ ngoại thương
của nước xin gia nhập, đồng thời các cuộc đàm phán đa phương, song phương về
mở cửa thị trường đã kết thúc, Nhóm công tác sẽ dự thảo một Báo cáo gia nhập của
nước xin gia nhập, bao gồm một Nghị định thư gia nhập và các danh mục ghi các
cam kết của nước xin gia nhập (là tổng hợp kết quả của các thoả thuận trong các
phiên đàm phán đa phương và các cam kết trong các phiên đàm phán song phương).
Các văn bản này sẽ được trình lên Ðại hội đồng hoặc Hội nghị bộ trưởng. Tại
cuộc họp của Hội nghị bộ trưởng, nếu 2/3 số thành viên của WTO chấp thuận, quyết
định về việc gia nhập sẽ được thông qua. Sau đó, Nghị định thư gia nhập của Việt
có thể phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam theo
quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, những hạn chế trên của Việt Nam ít tác động tới sự phát triển thương
mại điện tử trong nước cũng như các giao dịch mua bán trực tuyến giữa Việt Nam với
các nước khác.
3.2.2 Phương thức cung cấp qua hiện diện thương mại
• Dịch vụ pháp lý
Ngoại trừ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hay đại diện cho khách
hàng của mình trước Toà án Việt Nam và dịch vụ giấy tờ pháp lý và công chứng liên
quan tới pháp luật Việt Nam.
*Việt Nam cam kết: Tổ chức luật sư nước ngoài được phép thành lập hiện diện
thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức: chi nhánh; công ty con; công ty luật nước
ngoài; công ty hợp danh giữa tổ chức luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh của
Việt Nam.
*Tác động: Bên cạnh những lợi ích to lớn, mua bán trực tuyến cũng có nhiều rủi
ro, chẳng hạn như nạn vi phạm bản quyền, thông tin cá nhân bị sử dụng bất hợp pháp,
lừa đảo trên mạng, thư rác, mất tài sản “ảo”, v.v Tại một số nước tiên tiến, các luật sư
đã có khá nhiều kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp thương mại trong lĩnh vực công
nghệ cao, bao gồm thương mại điện tử. Trong khi đó, các luật sư Việt Nam chưa có
kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử.
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh
Nghiên cứu về tác động của Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới thương mại điện tử
Cam kết thông thoáng trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý sẽ thu hút các tổ chức luật
sư nước ngoài vào Việt Nam, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ này, gián tiếp hỗ trợ
giải quyết các tranh chấp thương mại điện tử giữa các đối tác trong nước với nhau và
đặc biệt là giữa đối tác trong nước với nước ngoài.
• Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan
*Việt Nam cam kết: Việt Nam không hạn chế tiếp cận thị trường và hạn chế đối
xử quốc gia đối với phân ngành dịch vụ này, ngoại trừ: Trong vòng 2 năm kể từ ngày
gia nhập WTO, các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp dịch
• Các dịch vụ chuyển phát
*Việt Nam cam kết: Việt Nam mở cửa hoàn toàn đối với việc cung cấp dịch vụ
chuyển phát theo phương thức cung cấp qua biên giới.
Việt Nam cũng không hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với việc
cung cấp theo phương thức hiện diện thương mại, ngoại trừ tỷ lệ vốn góp của phía nước
ngoài trong liên doanh có thể bị hạn chế ở mức 51% trong vòng 5 năm sau khi gia nhập.
5 năm sau khi gia nhập, cho phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa, Việt Nam cam kết dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên
sẽ được dành cho sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho Bưu chính
Việt Nam hoặc các công ty con của Bưu chính Việt Nam đối với các hoạt động cạnh
tranh.
*Tác động: Thương mại điện tử là một môi trường hoàn hảo để tiến hành mua
bán các sản phẩm vô hình, đặc biệt là các sản phẩm số hoá – khi mà toàn bộ chu trình
mua bán có thể tiến hành hoàn toàn trực tuyến. Đối với sản phẩm hữu hình, tồn tại một
số khâu trong chu trình mua bán không thể tiến hành trên mạng được, điển hình là việc
chuyển hàng hoá từ người bán tới người mua.
GVHD: Đặng Vân Anh SVTH: Trần Văn Đô - Trần Huy Đông - Vũ Tuấn Anh