Hoàn thiện các hoạt động truyền thông của CMC Corp. nhằm phát triển thị trường Công nghệ thông tin góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị trường Thương mại điện tử ở Việt Nam. - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi
mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp,
sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại,
thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm
nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa,
đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã
hội. Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng
bước được hình thành nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi
trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực
cho tăng trưởng kinh tế. Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 là một
quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục
hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế… để tạo ra một thể chế năng động,
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Cũng đồng thời cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế chung, lĩnh vực
kinh doanh TMĐT cũng đã dần có những bước phát triển nhất định, dần khẳng định
sự đóng góp của mình trong nền kinh tế quốc dân. Sự tham gia của các doanh
nghiệp cũng như của khách hàng vào TMĐT ngày càng nhiều, chứng tỏ sự tin
tưởng của khách hàng và doanh nghiệp vào TMĐT ngày càng chắc chắn. TMĐT sẽ
nhanh chóng tạo dựng được sự thành công của mình trên nền kinh tế do những lợi
ích tiện lợi mà nó mang lại so với nền thương mại truyền thống. Tuy nhiên để hoạt
động thực sự mạnh mẽ, TMĐT yêu cầu cần có một cơ sở hạ tầng công nghê vững
chắc để đảm bảo cho an ninh và các giao dịch. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chính là
một thị trường cho các doanh nghiệp tham gia và thu được lợi nhuận to lớn.
Bắt đầu được thành lập từ năm 1993, với lịch sử 15 xây dựng và phát triển,
CMC Corp. đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường CNTT bằng chính
1
thực lực mạnh mẽ được khách hang và đối tác tin cậy với hàng loạt các chứng chỉ
và giải thưởng CMC Corp. đạt được. Cũng đồng thời với những thành tích đó,

Tên giao dịch tiếng Anh: CMC CORPORATION
Tên viết tắt: CMC CORP.
Logo:
Trụ sở chính: Số 29 Hàn Thuyên, phường Phạm Đình Hồ, Quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 972 1135 Fax: (84-4) 972 1134
Chi nhánh: 134 Lê Hồng Phong, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh
Điên thoại: (84-8) Fax: (84-8)
Website: www.cmc.com.vn
Vốn Điều lệ (tại thời điểm 31/3/2007): 400.000.000.000 đồng
1.2. Lịch sử phát triển
Năm 1993
Công ty TNHH HT&NT được thành lập năm 1993 và là một trong những tên
tuổi nổi tiếng vào những năm 1993 – 1994. Năm 1995, Công ty TNHH HT&NT
được chuyển đổi thành Công ty TNHH Máy tính Truyền thông – CMC Co., Ltd.
Năm 1995
• CMC thành lập Phòng Tích hợp Hệ thống (CSI).
Năm 1996
• Tháng 1: Phòng Hệ thống và Phát triển phần mềm được ra đời.
3
• Tháng 11: Thành lập Chi nhánh tại Tp Hồ Chí Minh, mang tên Công ty
TNHH TM-DV Máy tính Truyền thông II.
Năm 1998
• Tháng 4: Thành lập công ty Nhật Quang với siêu thị bán lẻ và dịch vụ
BlueSky.
• Thành lập Trung tâm Tích hợp Hệ thống – CSI.
• Thành lập Trung tâm Giải pháp Phần mềm - CMCSoft.
Năm 1999
• Tháng 5: Công ty Hệ thống phân phối máy tính Thế Trung - CDS (Công ty
Máy tính CMS hiện nay) được thành lập chuyên kinh doanh phân phối và sản xuất

• Đào tạo trong lĩnh vực Công nghệ thông tin;
• Kinh doanh, đầu tư, môi giới và quản lý bất động sản; và
• Dịch vụ thuê và cho thuê nhà ở, văn phòng, nhà xưởng, kho bãi.
H1: Các hoạt động chính của CMC
CMC hiện đang tập trung phát triển theo thế ba chân kiềng: CNTT (sản xuất
5
SI
PC &
Electronic

Manufacturin
g
Software
Sevices
eBusiness
Distributio
n
Telecom
Internet
Financial
Investment
Real Estate
Education
phần mềm, dịch vụ phần mềm và gia công xuất khẩu), viễn thông (hạ tầng viễn
thông, dịch vụ dữ liệu và nội dung) và kinh doanh điện tử - e-business (dịch vụ nội
dung số, thương mại điện tử, nhập liệu BPO và dịch vụ cộng đồng). Trong đó, mục
tiêu đến năm 2010 là đạt doanh số 500 triệu USD và giá trị công ty trên thị trường
đạt hơn 1 tỷ USD
1.4. Cơ cấu tổ chức kinh doanh
CMC hiện tại bao gồm 7 công ty thành viên bao gồm:

- Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của CMC Corp.
• Phòng kế toán
- Phòng kế toán là bộ phận tham gia công tác quản lý tài chính CMC Corp
cũng như các công ty thành viên có cổ phần chi phối (>51%). Ngoài ra bộ phận này
còn có trách nhiệm cung cấp thông tin hạch toán kinh tế cho ban tổng giám đốc, ban
tài chính - kế toán (trực tiếp phụ trách bởi Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính -
VP CFO) các cơ quan chức năng của Nhà Nước, các cán bộ quản lý (theo yêu cầu
của ban tổng giám đốc).
• Các ban chuyên môn
- Các ban chuyên môn là nơi chịu trách nhiệm hỗ trợ hội đồng quản trị, ban
tổng giám đốc của CMC Corp xây dựng chính sách chung cho toàn bộ hệ thống tập
đoàn (kinh doanh, công nghệ, truyền thông, tài chính, nhân lực); trực tiếp chỉ đạo
việc thực hiện cũng như kiểm soát các công ty thành viên. Ban chuyên môn được tổ
8
chức thành các ban sau:
 Ban kế hoạch và đầu tư.
 Ban phát triển kinh doanh.
 Ban thương hiệu và quan hệ công chúng.
 Ban tài chính và kế toán. (trực tiếp phụ trách phòng kế toán CMC Corp)
 Ban tổ chức nhân sự.
 Ban pháp luật và kiểm soát nội bộ.
• Văn phòng
- Văn phòng là bộ phận có trách nhiệm hỗ trợ hội đồng quản trị, ban tổng giám
đốc, các ban chuyên môn trong các hoạt động quản trị hàng ngày của CMC Corp
- Hành chính quản trị văn phòng: Quản lý các hoạt động liên quan đến hành
chính quản trị, văn phòng của CMC Corp
- Lễ tân văn phòng: Đảm bảo công tác lễ tân, hậu cần cho mọi hoạt động của
CMC Corp khi có yêu cầu
- Quan hệ cổ đông: Đóng vai trò là đầu mối trong các quan hệ liên quan đến
cổ đông của CMC Corp

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc
11
sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán
trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm
giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình
Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông
qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Theo nghĩa rộng, TMĐT đươc hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại
bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các
hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng. Thương mại điện tử theo nghĩa
rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban
Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL):
“Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát
các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không
có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây:
bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa
hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác
hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công
trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô
nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không,
đường sắt hoặc đường bộ.”
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt
động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ
liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".
Ở bài viết này, người viết xin được trình bày khái niệm TMĐT theo nghĩa
rộng. Điều này đồng nghĩa với việc có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại
điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán
hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương

– G2C (Government-To-Consumer) Chính phủ với người tiêu dùng.
13
– G2B (Government-To-Business) Chính phủ với doanh nghiệp.
– G2G (Government-To-Government) Chính phủ với chính phủ.
4.1.4. Lợi ích của Thương mại điện tử
– Thu thập được nhiều thông tin
TMĐT giúp doanh nghiệp tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường,
đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng
và củng cố quan hệ bạn
hàng. nhờ đó có
thể xây dựng được chiến lược sản xuất và
kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực
và quốc tế.
– Giảm chi phí sản xuất
– Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch
TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng
kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo,
tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch
qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần
nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán
điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông
thường.
– Xây dựng quan hệ với đối tác
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành
viên tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng (Internet/ Web) các
thành viên tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ ) có
thể giao tiếp trực tiếp (liên lạc “ trực tuyến”) và liên tục với nhau, có cảm giác
như không có khoảng cách về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sự
quản lý đều được tiến hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các
cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn

mại bán lẻ là 326 tỷ USD chỉ tăng trưởng 3,1%/năm. Quý 4 năm 2002, doanh thu
trực tuyến đạt 14,3 tỷ USD, bằng 1,6% doanh thu bán lẻ.
Một hãng cẩn trọng trong dự báo là hãng Jupiter dự báo năm 2007, doanh số
15
bán trực tuyến sẽ chiếm 5% doanh số bán lẻ. Hãng Dieringer Research Group mới
đây đã xác nhận dữ liệu thu được từ nhiều năm nay: mỗi một doanh vụ trực tuyến
kéo theo một doanh vụ lớn gấp 2 lần trong các cửa hàng truyền thống. Nghiên cứu
cũng cho thấy, Internet có ảnh hưởng nâng cao giá trị hình ảnh của nhãn hàng.
Khoảng 45% người sử dụng Internet, bằng 1/4 người mua hàng Mỹ, thừa nhận chủ
yếu họ nhận thức được là nhờ các hãng hàng không, khách sạn và các sản phẩm gia
dụng, tài chính và bảo hiểm được cải biến qua mạng (Net). Theo hãng Unity
Marketing, Internet tác động đến 44% người tiêu dùng các sản phẩm cao cấp xa xỉ
nhiều hơn là tác động qua quảng cáo trong báo viết (42%) hoặc trên ti vi (28%).
Năm 2002, đã có 32% sản phẩm thông tin và phần mềm, 17% số vé xem biểu diễn
và 12% số sách được bán qua Internet. Internet cũng ảnh hưởng mạnh đến người
mua ôtô: 63% người dùng Internet của Canađa lên mạng Internet để mở rộng tầm
nhìn, nghiên cứu các mẫu mã và cửa hàng. Hãng Jupiter khẳng định 1/3 trong số 40
triệu xe ôtô hạ giá được bán mỗi năm ở Mỹ là được tìm trên Internet.
Lợi nhuận ở đây là cho 70% thương nhân trực tuyến trong năm 2002, so với
56% của năm 2001. Vépéscistes cũng đã được hưởng lợi từ tiền trực tuyến trong
năm 2001; năm 2002, các cửa hàng truyền thống quảng cáo trên Internet cũng đã
bắt đầu thu được lợi nhuận. Đồng thời, các khách hàng cũng cảm thấy hài lòng: các
kết quả mới nhất về Chỉ số hài lòng của khách hàng của Mỹ (ACSI : American
Customer Satisfaction Index) cho thấy, các nhà bán hàng trực tuyến hài lòng với số
điểm là 83 trên 100, cao hơn 6 điểm so với chỉ số của năm 2001. Thương mại theo
kiểu truyền thống, bị giảm 0,2 điểm, chỉ đạt 74,6 điểm. Hãng Sofres cũng điều tra
thấy ở Pháp 91% người mua hàng trực tuyến cảm thấy hài lòng.
Đặc điểm của kinh doanh điện tử là tạo ra khả năng rất chủ động và năng
động. Đặc điểm này đặc biệt có giá trị đối với những người ở xa các trung tâm lớn.
Uỷ ban Du lịch của tỉnh Eure-et-Loir, ở Pháp, đã thực hiện một nghiên cứu minh

và tiếng Thái, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu và
du lịch. Khách hàng từ các nước trên thế giới có thể dễ dàng mua hàng hay đặt
dịch vụ du lịch ở Thái thông qua Website.
17
Thương mại điện tử càng lúc càng phát triển trên thế giới và doanh thu do
thương mại điện tử mang lại cũng tăng gần gấp đôi mỗi năm, đó là lý do nhiều
nước đang ráo riết khuyến khích, thúc đẩy và xây dựng cơ sở cho việc phát triển
thương mại điện tử. Một trong những nước đang phát triển ở châu á thành công
trong việc phát triển thương mại điện tử là Trung Quốc.
Công ty IResearch vừa đưa ra một nghiên cứu cho biết rằng tổng doanh số
quảng cáo trực tuyến của Trung Quốc đã vượt qua 3 tỷ Nhân dân tệ trong năm
2005, tức khoảng 374 triệu USD. Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc
hiện đang có tốc độ tăng trưởng thuộc dạng hàng đầu thế giới với tổng doanh số
năm 2005 là 3,13 tỷ Nhân dân tệ, tăng 77,1% so với năm 2004 và tăng đến 760%
so với năm 2001. Tỷ lệ của quảng cáo trực tuyến trong tổng doanh số quảng cáo đã
tăng từ 0,5% trong năm 2001 đến 2,3% trong năm 2005.
Tổng doanh số quảng cáo trên mạng Sina đạt đến 680 triệu Nhân dân tệ,
chiếm 21,7% thị phần quảng cáo online Trung Quốc; mạng Sohu chiếm 15% thị
phần; NetEase chiếm 8%; QQ chiếm 3,8% và TOM chiếm 2,2%. Tổng thị phần của
5 mạng lớn nhất Trung Quốc này đã chiếm đến 53,4% thị phần quảng cáo trực
tuyến tại Trung Quốc.
Quảng cáo về nhà đất, sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ trực tuyến là
3 lĩnh vực quảng cáo đứng hàng đầu trong mọi lĩnh vực quảng cáo. Riêng Samsung
đã chi đến 60,35 triệu Nhân dân tệ để quảng cáo cho các sản phẩm của mình, trở
thành công ty đứng hàng đầu về số tiền chi cho quảng cáo online tại Trung Quốc;
tiếp sau là China Mobile với 41,1 triệu Nhân dân tệ và NetEase với 39,13 triệu
Nhân dân tệ. IResearch dự báo rằng quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc trong năm
2006 sẽ đạt gần đến 5 tỷ Nhân dân tệ và con số này sẽ là 36,7 tỷ Nhân dân tệ, tức
khoảng 4 tỷ USD, vào năm 2010.
Chuyển dần sang mua bán trực tuyến

thương mại điện tử.
Mặc dù doanh thu từ thương mại điện tử đã đạt hàng chục tỷ USD mỗi năm,
song các chuyên gia nghiên cứu thị trường cho rằng, thương mại điện tử là một thị
19
trường vẫn còn rất mới mẻ, đầy tiềm năng và giàu sức hấp dẫn. Đây chính là cơ hội
cho các doanh nhân trẻ và các doanh nghiệp trẻ phát triển và làm giàu.
Nguồn: VnEconomy
4.3. Môi trường TMĐT của Việt Nam
Sự phát triển của Internet và ảnh hưởng của Internet đến cộng đồng vẫn tiếp
tục tăng trưởng rất lớn hàng năm. Các số liệu mới nhất cho thấy, trong 12 tháng
qua, Việt Nam đã có thêm 4 triệu người dùng Internet, trở thành nước đứng thứ 17
thế giới về số người dùng Internet (16 triệu người). Cũng trong 12 tháng qua, dung
lượng truy cập quốc tế tăng 50%, kết nối Internet băng rộng cũng tăng hơn gấp đôi,
từ 310.000 lên 753.000. Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử của chúng ta được
xếp hạng 65/69 quốc gia, tăng 1 bậc so với năm 2006 và được chấm 3,73 điểm, cao
hơn nhiều so với số điểm 3,12 của một năm trước đó.
Song song với sự phát triển của thị trường chung, từ phía Chính phủ các nỗ lực
xây dựng và phát triển TMĐT cũng được đẩy mạnh. Quyết định phê duyệt kế hoạch
phát triển TMĐT của Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ năm 2005 đã nêu rõ
mục tiêu đến năm 2010, khoảng 60% doanh nghiệp có quy mô lớn tiến hành giao
dịch TMĐT B2B, khoảng 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ biết tới tiện ích của TMĐT
và tiến hành giao dịch TMĐT B2C hoặc B2B, khoảng 10% hộ gia đình tiến hành
giao dịch B2C hoặc C2C. Đồng thời, Chính phủ còn ban hành một loạt Luật và
Nghị định tạo khung pháp lý vững chắc hỗ trợ cho TMĐT như: Luật Giao dịch
điện tử, Luật Thương mại sửa đổi, Nghị định TMĐT( 09/06/2006), Nghị định chữ
ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (15/02/2007), Nghị định về Giao dịch điện
tử trong hoạt động tài chính (23/02/2007), Nghị định về Giao dịch điện tử trong
hoạt động ngân hàng (08/03/2007) và đang tiến hành thêm một loạt các dự thảo.
Một số văn bản được ban hành năm 2006
Năm 2006

1/8/2006
Công văn của Bộ Bưu chính Viễn thông số 1515/BBCVT-VT về việc
hướng dẫn thực hiện
Thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến
Ngày 25/06/2007, Bộ Nội vụ kí quyết định thành lập Hiệp hội Thương mại
điện tử Việt Nam (VETCO) nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết, hợp tác, hỗ trợ, bảo
vệ các thành viên thuộc hội để phát triển lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên TMĐT sẽ là
cầu nối giúp mở rộng thị trường, tham gia hội nhập tích cực. Với một chi phí rất
thấp, khả thi, bất cứ một doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có thể nhan chóng
tham gia TMĐT để đem lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.
Tương quan giữa đầu tư và doanh thu của TMĐT
21
TMĐT ở Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Số người tham gia truy
cập Internet còn thấp nên chưa tạo được một thị trường nội địa. Mặt khác
các cơ sở để phát triển TMĐT ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện: hạ tầng viễn
thông chưa đủ mạnh và cước phí còn đắt, hạ tầng pháp lý còn đang xây dựng, hệ
thống thanh toán điện tử chưa phát triển. Tất cả điều là những rào cản cho phát
triển TMĐT. Việt Nam đang trong quá trình tích cực hội nhập vào kinh tế khu
vực và thế giới. Các doanh nghiệp nước ngoài, mạnh về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm sẽ thông qua TMĐT để đi vào thị trường Việt Nam, cạnh tranh với các
doanh nghiệp Việt Nam.
Việt Nam đang được đánh giá là nơi có tiềm năng cho phát triển TMĐT. Tốc
độ tăng trưởng sử dụng Intetnet cao nhất trong khu vực ASEAN là: 128,4% và trên
1,9 triệu thuê bao Intetnet là thuận lợi cho sự phát triển TMĐT. Tập đoàn IDG đánh
giá về tăng trưởng thị trường CNTT Việt Nam đến năm 2008 đạt mức chi tiêu nằm
trong topten các nước tăng trưởng hàng đầu thế giới, với tỷ lệ tăng trưởng đạt 16%.
Một số số liệu thống kê liên quan đến TMĐT Việt Nam năm 2006
- Số người sử dụng Internet ở VN chiếm 17,5% bình quân dân số (khoảng 14.5
triệu người), vượt qua ngưỡng trung bình của Châu Á và đạt ngưỡng trung bình

có thể tham gia TMĐT để:
23
o Giới thiệu hàng hoá và sản phẩm của mình.
o Tìm hiểu thị trường: nghiên cứu thị trường, mở rộng thị trường.
o Xây dựng quan hệ trực tuyến với khách hàng.
o Mở kênh tiếp thị trực tuyến.
o Tìm đối tác cung cấp nguyên vật liệu nhập khẩu.
o Tìm cơ hội xuất khẩu.
Vấn đề khó khăn nhất đối với việc triển khai TMĐT là có được một cơ sở hạ
tầng vững chắc để tạo tiền đề cho sự phát triển của TMĐT. TMĐT có yêu cầu rất
cao đối với nền CNTT nhằm có được cơ sở hạ tầng chắc chắn, đảm bảo tính bảo
mật, an toàn cho các giao dịch điện tử xảy ra. Và việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho
TMĐT chính là một thị trường mang lại doanh thu rất lớn cho CMC khi mà Việt
Nam đang có những yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng. Chính việc tiên phong, nhanh
chóng đi đầu của CMC vào một thị trường mới, đầy tiềm năng – thị trường cơ sở hạ
tầng CNTT Việt Nam sẽ mang lại lợi nhuận to lớn.
PHẦN 2
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY
I. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong những năm gần đây, doanh số của CMC luôn đạt những mức tăng
trưởng rất vững mạnh. Năm 2007, CMC đạt doanh số 1.340 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần
so với năm 2006 và lợi nhuận tăng gấp 3 lần. Năm 2008, CMC đặt mục tiêu đạt
doanh số tăng gấp đôi so với năm 2007, lên đến 2.800 tỷ đồng (170 triệu USD), với
khoảng 2.000 nhân viên. Sở dĩ đạt được kết quả như vậy một phần là do sự mở rộng
hoạt động và nhân công nhưng không thể phủ định rằng hoạt động của CMC ngày
càng hiệu quả và sẽ vượt bậc trong tương lại gần.
24
Tổng hợp số liệu CMC Corporation
( Đơn vị: Triệu đồng)

Thuế khác 394 526
6 Thuế còn phải nộp ngân sách 3.712 8.413 20.489
Thuế GTGT 2.768 2.589
Thuế thu nhập DN 142 2498
Thuế xuất nhập khẩu 426 2.665
Thuế khác 375 661
7 Vốn lưu động 248.543 376.319 602.110
8 Vốn đăng kí 53.000 53.000
9
Vốn đầu tư ( Vốn đầu tư ra
bên ngoài )
1.777 9.367 11.356
10 Vốn chủ sở hữu 53.810 65.527 78.664
11 Số lao động 642 725 814
12 Lương nhân viên 3,3 3.3 3.5
13 Tổng tài sản 264.563 400.451 640.721
14 Tổng nợ phải trả 208.643 330.182
Bảng phân tích dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status