Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
MỞ ĐẦU
Qua học tập nghiên cứu lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước
chương trình chuyên viên tại trường Chính trị tỉnh Gia Lai từ ngày 11/6/2012
đến ngày 13/8/2012 cho cán bộ đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị trong tỉnh.
Nội dung chính của khóa học gồm: 29 chuyên đề; với 03 phần: Nhà nước và
pháp luật; Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính; Quản lý nhà nước đối
với ngành, lĩnh vực; 03 chuyên đề do các sở, ngành của Tỉnh báo cáo thực tế.
Bản thân hiện đang công tác tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện với chức
năng tham mưu và tổ chức, hướng dẫn thực hiện công tác tuyên truyền các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân
dân một cách nhanh nhất, chính xác nhất, đặc biệt trong công tác tham mưu và
xử lý các tình huống nẩy sinh trong thực tế là một trong những nhiệm vụ cần
thiết, kịp thời trong công tác của ngành; đồng thời đấu tranh, ngăn chặn các thế
lực thù địch lợi dụng, tuyên truyền, kích động quần chúng nhân dân gây mâu
thuẫn, làm mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực “Giữ vững
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong việc xây dựng đường giao thông
nông thôn trong tình hình hiện nay” tại địa phương đang đặt ra hiện nay là một
trong những vấn đề đáng quan tâm.
Trong hoạt động quản lý nhà nước, thường xuyên xuất hiện các tình huống
quản lý nhà nước. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ công chức nhà nước phải nắm
vững kiến thức pháp luật, kiến thức quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ giỏi và có phẩm chất đạo đức. Trong từng trường hợp, vụ việc cụ thể
mang tính chất phức tạp ngoài những yếu tố trên mỗi công chức nhà nước phải
có thêm sự phán đoán nhạy bén, chuẩn xác, kỹ năng thiết lập các phương án xử
lý tình huống và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, các ngành chức năng tổ
chức triển khai một cách có hiệu quả, không để các thế lực thù địch lợi dụng
xuyên tạc, kích động nhân dân khiếu kiện đông người, gây mất ổn định chính trị
tại địa phương.
Thời gian qua lĩnh vực quản lý đất đai, luôn đặt ra nhiều vấn đề cần quan
tâm giải quyết, đặc biệt là đền bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng để xây dựng các
GIỚI THIỆU, MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Nằm trong kế hoạch phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn của
tỉnh để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với quốc phòng an ninh. UBND
tỉnh G đã quyết định đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn cho
xã B, huyện C của tỉnh bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nhân dân đóng
góp theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để tạo điều kiện thuận
lợi cho nhân dân trong xã đi lại thông suốt, nhất là trong mùa mưa, đồng thời vận
chuyển hàng hóa của nhân dân làm ra được nhanh chóng, thuận tiện tránh được
tư thương ép giá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt
cho nhân dân.
Ngày 26/6/2011 UBND tỉnh G ra quyết định số 1572/QĐ - UBND phê
duyệt dự án xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn và giao cho UBND
huyện C làm chủ đầu tư. Trong dự án này xã B được đầu tư xây dựng 2 tuyến
đường có tổng chiều dài 10.5km đi qua 7 thôn, làng trong xã (trong đó có tuyến
đường dài 2,7 km làm mới và 01 tuyến mở rộng theo quy hoạch) theo tiêu chuẩn
đường miền núi, bề rộng nền đường 6,5 mét, bề rộng mặt đường 3,5 mét. Công
trình được giao cho công ty T thi công sau khi đã hoàn tất thủ tục đấu thầu theo
luật định.
Với mục tiêu xây dựng đường giao thông nông thôn, phục vụ sản xuất,
vận chuyển hàng hóa, đồng thời đảm bảo đi lại cho nhân dân nên tỉnh có chủ
trương vận động nhân dân tham gia với phương châm “Nhà nước và nhân dân
cùng làm”. Trong đó nhân dân đóng góp ngày công, mặt bằng khi mở rộng nền
đường và làm mới 2,7km, Nhà nước chịu trách nhiệm thi công phần đường.
Xã B là một xã nghèo của huyện C, có 972 hộ với 5.789 nhân khẩu, trong
đó đồng bào các dân tộc thiểu số trong xã chiếm 45%, còn lại là bà con ở các
tỉnh phía Bắc và miền trung vào lập nghiệp. Hệ thống giao thông trong xã chủ
yếu là đường đất nhỏ, bề rộng mặt đường qua các thôn, làng phần lớn chỉ khoảng
từ 3 đến 4 mét. Có một tuyến chính chạy từ đầu đến cuối xã có chiều dài 10,5
km. Tuy nhiên do không được quy hoạch trước nên nhiều đoạn đi vòng qua các
rẫy trồng cà phê, mỳ của nhân dân, mặt khác đường qua 2 suối cạn nên giao
trong việc đi lại, trao đổi hàng hóa và góp phần làm đẹp bộ mặt của xã.
Song song với thời gian tuyên truyền, vận động nhân dân đã có 2 cuộc tiếp
xúc cử tri xã B của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện, các thắc mắc của
cử tri xung quanh việc bố trí đất sản xuất cho những hộ nằm trong diện giải tỏa,
hỗ trợ kinh phí để di dời nhà cửa, vay vốn để phát triển sản xuất ổn định đời sống
và đặc biệt là tỉnh và huyện cần có chính sách cụ thể hỗ trợ cho những hộ có diện
tích cà phê nằm trong diện giải tỏa, vì đây chính là nguồn thu nhập chính của gia
đình họ. Những thắc mắc, kiến nghị của cử tri đều được giải thích thỏa đáng.
Công tác kiểm kê, giải tỏa, cắm mốc được khẩn trương triển khai, đơn vị
thi công tiến hành san ủi mặt bằng, thông tuyến. Công việc đang triển khai thuận
lợi thì xảy ra tình huống bất ngờ. Tuyến đường dài 2,7 km làm mới đã san ủi
được 2,2 km đến phần đất của một số hộ gia đình ở thôn H, làng A, các hộ này
đã ngăn cản đơn vị thi công vì chưa đồng tình với cách tính tiền hỗ trợ, đền bù về
đất, cây công nghiệp và hoa màu, đồng thời vận động bà con trong làng yêu cầu
chính quyền phải bố trí đất ở, đất sản xuất ở những vị trí thuận lợi nhất của xã và
Học viên: Nguyễn XP Trang 4
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
phải hỗ trợ, đền bù theo yêu cầu của người dân thì mới được thi công tiếp. Để
gây áp lực với chính quyền, hộ ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D, ông Siu P
vận động 13 hộ xung quanh làm đơn gửi lên Ủy ban nhân dân huyện đòi bồi
thường thiệt hại hoa màu và đất do làm đường gây ra. Việc làm này đã kéo theo
17 hộ gia đình khác cũng có yêu cầu đòi bồi thường phần đất và hoa màu bị giải
tỏa. Mặt khác một số đối tượng lợi dụng vấn đề chưa được giải quyết đã tuyên
truyền ai thân quen và lót tay cho cán bộ xã thì được đền bù nhiều hơn, tuyên
truyền Nhà nước lấy đất của dân làm cho đồng bào dân tộc thiểu số không có
nhà ở, không còn đất để sản xuất đã gây tâm lý hoang mang, dao động trong một
bộ phận quần chúng nhân dân và làm cho công trình đang thi công bị đình trệ,
gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Nếu những khiếu kiện của các hộ dân không được
giải quyết thỏa đáng thì dễ dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết, làm mất ổn định về
trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến công tác an ninh nông thôn; trong khi tình
đầu tư vào trồng và chăm sóc cà phê đến thời kỳ thu hoạch nếu không được hỗ
trợ sẽ khó có khả năng trả lãi và gốc, diện tích đất để sản xuất còn ít nên yêu cầu
được giải quyết là chính đáng.
- Với các hộ dân khiếu nại (chung đơn với ông: Nguyễn Văn C, bà Trần
Thị D, ông Siu P) đòi đền bù là do họ sợ quyền lợi bị thiệt thòi. Đồng thời họ
chưa nắm rõ việc áp dụng Nghị định số 22/CP nên hiểu nhầm là hễ cứ làm công
trình công cộng là có đền bù.
- Các hộ dân còn lại (không có đơn) trực tiếp tới Ủy ban nhân dân xã có ý
kiến đề nghị, đền bù đất, hoa màu cho thấy họ cũng muốn làm đường và việc đòi
đền bù không quyết liệt, có dấu hiệu về gây rối trật tự an ninh nông thôn, song đã
làm ảnh hưởng đến công tác giải quyết chung của vụ việc.
Việc một số hộ dân không thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện làm cản
trở quá trình thực hiện dự án làm đường, mang tính chất khiếu kiện đông người
nhưng chưa hội đủ các yếu tố đặc trưng của điểm nóng. Do vậy cần phải đặt mục
tiêu xử lý tình huống như sau:
- Thời gian còn lại để thực hiện dự án không nhiều, nếu không kịp thời
giải quyết những vướng mắc để tiếp tục thực hiện dự án thì sẽ bị ngưng vốn, làm
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, dễ phát sinh thành
điểm nóng về trật tự an toàn xã hội.
- Lập các phương án giải quyết sao cho các hộ dân khiếu nại chấp nhận và
được nhân dân đồng tình; thu thập chứng cứ để xử lý các đối tượng tung tin thất
Học viên: Nguyễn XP Trang 6
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
thiệt làm ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ cơ sở và gây mâu thuẫn trong nội bộ
nhân dân.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giải thích trong đó phát
huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể, của già làng, những người có uy tín
trong cộng đồng để làm công tác tuyên truyền, đồng thời sử dụng các biện pháp
cần thiết để đảm bảo thực hiện dự án đúng tiến độ. Nâng cao chất lượng hoạt
động của hệ thống chính trị đặc biệt là vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản
vận động giải tỏa đất và hoa màu tại địa phương xã B như sau:
- Xã B vận động nhân dân làm đường thực hiện theo quy chế dân chủ
nhưng vẫn còn một số thiếu sót trong quá trình triển khai đó là:
Số hộ dân có đất và hoa màu trong dự án làm tuyến đường 2,7 km được
nghe về phương án hỗ trợ, đền bù đất, hoa màu trên đất và việc tái định cư, cấp
đất sản xuất trong quá trình làm đường chưa đạt l00%; còn vắng 19 hộ. Như vậy
chưa đạt yêu cầu “dân biết”.
Biên bản họp dân ghi chép không đầy đủ các nội dung cần thiết như ý kiến
của nhân dân bao nhiêu ý kiến đồng ý và không đồng ý, ý kiến khác, tỷ lệ biểu
Học viên: Nguyễn XP Trang 8
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
quyết từng nội dung đã được đưa ra bàn bạc… Như vậy nội dung “dân bàn”
chưa được thực hiện đầy đủ.
Việc giải thích chưa rõ ràng, dân chưa hiểu và cho rằng thu hồi đất để làm
đường thì phải có quyết định thu hồi và phải được đền bù theo tinh thần Nghị
định 22 của Chính phủ… do đó chưa “tự nguyện” chấp hành.
Cán bộ thực hiện việc giải tỏa, đền bù, hỗ trợ còn thiếu kinh nghiệm lại
nặng về mệnh lệnh hành chính mà thiếu công tác tuyên truyền, vận động, thuyết
phục; xử lý không khéo léo làm cho người dân cảm thấy bức xúc nên có những
hành động, lời nói mang tính thách thức chính quyền.
- Các hộ đi họp chiếm đa số đồng tình chủ trương cùng làm đường với xã,
nhưng phần lớn đây lại là các hộ có ít thiệt hại về đất và hoa màu, 17 hộ dân
vắng mặt trong đó có hộ ông: Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D, ông Siu P bị thu
hồi diện tích quá lớn trong đó có nhiều cây cà phê đến thời kỳ kinh doanh, do đó
không còn đất sản xuất và không có tiền để trả nợ ngân hàng nên họ yêu cầu
được đền bù để mua đất khác, đề nghị giãn nợ ngân hàng và hỗ trợ vốn vay để
tiếp tục sản xuất ổn định cuộc sống sau khi bàn giao đất cho đơn vị thi công.
- Các hộ khác theo kiện hoặc có ý kiến đòi bồi thường không phải không
đồng ý với chủ trương làm đường nhưng do thiệt hại về hoa màu ở mức độ khác
nhau, thấy các hộ khác cũng đòi đền bù hỗ trợ nên cũng có ý trông chờ được hỗ
Qua điều tra, tìm hiểu thực tế của các phòng chuyên môn, thông qua công
tác tuyên truyền, vận động, nắm bắt tư tưởng của nhân dân đoàn công tác cho
thấy tình huống xảy ra như trên nguyên nhân cơ bản sau:
- Công tác giải phóng mặt bằng, tái định canh, định cư, chế độ chính sách
cho những hộ bị thu hồi đất còn nhiều bất cập; là xã khó khăn, đa số là những hộ
nghèo đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cho nên việc giải tỏa với diện tích
lớn nhưng chưa tính hết yếu tố sau khi hỗ trợ cho dân về đất đai, cây công
nghiệp và hoa màu thì người dân có đảm bảo được cuộc sống ổn định. Do đó
nhiều hộ còn băn khoăn, lo lắng là điều dễ hiểu.
- Ranh giới giữa “được đền bù khi giải tỏa” và “nhân dân đóng góp xây
dựng theo quy chế dân chủ” rất mong manh, không rõ ràng. Tác động đến tâm lý
ỷ lại trong nhân dân. Cùng nâng cấp đường giao thông nông thôn nhưng ở địa
phương này thì được hỗ trợ kinh phí, còn ở địa phương khác thì dân tự đóng góp.
- Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước (nhất là cấp cơ
sở) vẫn còn nhiều hạn chế. Cán bộ làm công tác mặt trận và đoàn thể chưa am
hiểu nhiều về quản lý nhà nước; một số cán bộ chưa gần dân, sát dân và tìm hiểu
tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng công tác và hiệu quả tuyên truyền, vận động, giải thích chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Một số đối tượng bất mãn với chính quyền, một số thanh niên lười lao
động nhưng lại muốn có nhiều tiền đã lợi dụng vấn đề trên để trục lợi vì lợi ích
cá nhân.
Học viên: Nguyễn XP Trang 10
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
3. Những hậu quả.
- Nếu không giải quyết kịp thời với trường hợp khiếu kiện đông người
trong tình huống này, sự việc sẽ lan tỏa theo chiều hướng xấu tới những hộ dân
trong diện phải giải tỏa.
- Vụ việc dây dưa kéo dài làm chậm tiến độ thi công công trình mà thời
hạn vốn vay đã được tính toán sít sao, gây tổn thất về vật chất cho bên thi công.
khiếu kiện, tranh chấp đất đai giữa công dân và Nhà nước.
- Với khả năng trên tuyến đường sẽ không hoàn thành theo kế hoạch,
nguồn vốn sẽ bị cắt.
- Ảnh hưởng đến chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Gây mất lòng tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều
hành của Nhà nước về một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với nguyện
vọng của đa số người dân.
- Phá vỡ quy hoạch của huyện trong việc xây dựng hệ thống giao thông
nông thôn; làm phát sinh chi phí khi phải mở đường vòng và làm mất mỹ quan
khu trung tâm của xã
2. Phương án 2 :
Đoàn công tác của huyện phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trên cơ sở
Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của Chính phủ "về Quy chế dân
Học viên: Nguyễn XP Trang 12
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
chủ ở cơ sở'', Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ ''về
việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích Quốc
phòng, An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng'', các quyết định, thông báo
của Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện để tiếp tục vận động các hộ có đơn khiếu nại
hiểu rõ hơn về chủ trương, mục đích của việc làm đường để họ tự nguyện rút
đơn, thực hiện làm đường theo quy chế dân chủ '' Nhà nước và nhân dân cùng
làm''. Đồng thời giao cho Ủy ban nhân dân xã B có biện pháp giải quyết khó
khăn về đất sản xuất, đất ở cho các hộ có thiệt hại nhiều về đất sản xuất mà
không đền bù bằng tiền; làm việc với ngân hàng NN&PTNT huyện để giãn nợ,
khoanh nợ và cho vay mới đối với những hộ bị thiệt hại nhiều về diện tích cà phê
để họ tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo ổn định cuộc sống. Đồng thời
xác định danh tính những đối tượng lợi dụng việc khiếu kiện để tung tin gây tâm
lý hoang mang trong nhân dân để xử lý theo pháp luật quy định.
Ưu điểm:
- Đảm bảo tính công bằng đối với các hộ hiến đất làm các công trình phúc
Trần Thị D, ông Siu P và các hộ dân có khiếu nại.
- Sớm có thể tiếp tục khởi công làm đường.
Hạn chế:
- Việc đền bù sẽ dẫn đến hậu quả các hộ dân còn lại của xã B đã làm
đường xong sẽ khiếu nại để được đền bù.
- Ngân sách sẽ không thể cáng đáng nổi khỏan tiền phải đền bù.
- Chủ trương vận động “Nhà nước và nhân dân cùng làm” sẽ không thực
hiện được.
- Tạo ra tiền lệ xấu về sau khi triển khai làm đường giao thông nông thôn
theo quy chế dân chủ.
Học viên: Nguyễn XP Trang 14
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
PHẦN V
KẾ HOẠCH, TỔ CHỨC PHƯƠNG ÁN ĐƯỢC LỰA CHỌN
Với các phương án nêu trên, cần phải so sánh các phương án, để lựa chọn
những phương án có nhiều ưu điểm nhất, đảm bảo được quyền lợi của nhân dân
nhưng phải đảm bảo tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa.
Qua phân tích ba phương án ở trên một cách cụ thể cho thấy cả ba phương
án đều có những ưu điểm và hạn chế. Nhưng rõ ràng phương án thứ hai có nhiều
ưu điểm nhất vì:
- Đáp ứng được mục tiêu xử lý tình huống đó là dự án làm đường tiếp tục
được triển khai mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Đảm bảo tính công bằng trong xã hội và tính hài hòa giữa lợi ích cá nhân
và tập thể.
- Khẳng định quyền lực Nhà nước, giữ vững và tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
- Đảm bảo được tính dân chủ.
Phương án này tuy cũng có hạn chế, song có thể khắc phục được trong quá
- Rà soát lại các quy trình tiến hành tổ chức họp dân theo quy chế dân chủ.
Các văn bản liên quan, quy trình tiến hành kiểm kê, giải tỏa để rút kinh nghiệm
cho các bước tiếp theo, ngoài công tác tuyên truyền của các đơn vị thì UBND
huyện cần có công văn đề nghị báo, đài đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo ra sự đồng thuận cao trong nhân dân
về chủ trương của Đảng và chính quyền trong việc thực hiện dự án, đồng thời
đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của một số phần tử quá khích nhằm trấn an
dư luận trong nội bộ cán bộ và nhân dân của xã M.
- Tổ công tác của huyện, Ban vận động giải tỏa mặt bằng cùng với các ban
ngành, đoàn thể xã B tiếp tục chịu trách nhiệm giải thích, vận động đối với từng
hộ khiếu nại và các hộ có ý kiến khác. Chú ý tập trung vận động các hộ bị thu
hồi diện tích lớn, nhất là hộ ông: Nguyễn Văn C, bà Trần Thị D, ông Siu P thông
qua Hội Người cao tuổi, già làng, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ xã, đoàn TN
tác động các hộ nằm trong diện giải toả ủng hộ đất và hoa màu, nếu có khó khăn
về đất sản xuất, các bên sẽ cùng giải quyết hợp lý, đảm bảo đời sống gia đình
cho người dân.
- Sau khi tuyên truyền, giải thích, vận động trong dân, sẽ tổ chức cuộc họp
để công khai tất cả các nội dung đã giải quyết đối với các hộ dân có đơn khiếu
nại. Trong cuộc họp này, chú ý xây dựng lực lượng nòng cốt để phát biểu ý kiến,
tranh thủ sự động tình của đa số hộ dân về thực hiện các biện pháp của phương
án. Đặc biệt cần phân tích, nhấn mạnh vấn đề: dự án làm đường là một cơ hội
hiếm có cho địa phương, nếu các hộ dân không đồng tình ủng hộ và sớm quyết
định thì khoản kinh phí đầu tư sẽ bị cắt, không biết đến bao giờ địa phương mới
có đủ kinh phí để làm con đường này như mong ước bấy lâu nay của nhân dân
trong xã.
- Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, chủ đầu tư công trình có điều chỉnh về
thời gian, kinh phí cho phù hợp thực tế tiến độ thi công.
2. Các kiến nghị:
Theo Nghị định số 79/2003/NĐ-CP có quy định trong quá trình thực hiện
những vi phạm quy chế dân chủ sẽ bị xử lý, đây là một yêu cầu cần thiết để đảm
tiến tới giảm dần khoảng cách giữa hai khu vực này Nhà nước cần có sự quan
tâm và chính sách hỗ trợ thích đáng đối với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,
các công trình phúc lợi ở nông thôn.
Có quy chế xác định rõ quy mô, tính chất của công trình do Nhà nước đầu
tư xây dựng, công trình cần vận động nhân dân đóng góp theo phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, công trình do nhân dân tự làm để tạo sự công
bằng và nhân dân chủ động quyết định.
- Cải cách theo hướng đơn giản quy trình triển khai các công trình xây
dựng cơ bản, nghiệm thu quyết tóan công trình từ nguồn vốn nhân dân tự nguyện
Học viên: Nguyễn XP Trang 18
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
đóng góp để cơ sở chủ động phát huy dân chủ, tự nguyện đóng góp xây dựng và
giám sát chất lượng công trình ở địa phương.
- Trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội
trọng điểm cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, đưa công tác này đi
trước một bước để làm cho người dân nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa xã
hội to lớn của các chương trình này, thấy được lợi ích cụ thể đối với bản thân,
đồng lòng ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện.
- Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho
nhân dân, giúp nhân dân nâng cao hiểu biết pháp luật.
- Quan tâm đến chế độ chính sách đối với các cán bộ cơ sở để thu hút cán
bộ có trình độ, đồng thời tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo, từng bước
chuẩn hóa trình độ chuyên môn, chính trị, văn hoá, đạo đức nhằm nâng cao năng
lực cán bộ cơ sở, chú trọng đến công tác bổ nhiệm các chức danh quản lý Nhà
nước đúng với trình độ chuyên môn, yêu cầu thực tế đặt ra; kể cả cán bộ làm
công tác Mặt trận, đoàn thể.
- Cần tiếp tục xây dựng, củng cố thực lực chính trị ở cơ sở, đồng thời tăng
cường công tác dân vận của các cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là các cơ
quan Nhà nước, nơi hàng ngày trực tiếp tiếp xúc, giải quyết những vấn đề thiết
thực liên quan đến đời sống, văn hoá tinh thần của nhân dân.
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Giám khảo 1:
* Nhận xét của Giám khảo 2: ………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Giám khảo 2:
Học viên: Nguyễn XP Trang 21
Tiểu luận cuối khóa Giảng viên hướng dẫn: TNK
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Trang 01
PHẦN I: GIỚI THIỆU, MÔ TẢ TÌNH HUỐNG Trang 03
PHẦN II: XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG Trang 05
PHẦN III: PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ Trang 08
1. Phân tích tình huống: Trang 08
2. Những nguyên nhân: Trang 10
3. Những hậu quả: Trang 11
PHẦN IV: XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN Trang 12
1. Phương án 01: Trang 12
2. Phương án 02: Trang 12