MỤC LỤC
VĂN BẢN THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PTTH 2
A. KHÁI QUÁT CHUNG 2
I. Tác giả và tác phẩm 2
1. Lí Bạch và “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” 2
1.1 Lí Bạch 2
1.2 Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” 5
2. Đỗ Phủ và “Thu hứng” 6
2.1 Đỗ Phủ 6
2.2 Bài thơ “Thu hứng” 10
3. Thôi Hiệu và “Hoàng Hạc Lâu” 11
3.1 Thôi Hiệu 11
3.2 Bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” 11
B. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ
TRƯỜNG PTTH 13
1. Phương pháp đọc diễn cảm 13
2. Phương pháp so sánh, đối chiếu 14
3. Phương pháp dạy học trực quan 15
4. Phương pháp phân tích 16
5. Phương pháp thảo luận nhóm 17
6. Phương pháp tích hợp 17
C. ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG
PTTH 21
I. “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” 21
II. “Thu hứng” 27
III. “Hoàng Hạc lâu” 31
KẾT LUẬN 37
VĂN BẢN THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG
PTTH
A. KHÁI QUÁT CHUNG
I. Tác giả và tác phẩm
nước Tề, Lỗ, rồi định cư ở Nhiệm Thành. Đến đây Lý Bạch lại được Khổng Sào
Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh - những ẩn sĩ đương thời
- rủ lên núi Tồ Lai thưởng ngoạn, rồi say sưa ở Trúc Khê. Nhóm này được người ta
gọi là "Trúc Khê lục dật".
Năm 741, Lý Bạch lại một phen từ bỏ gia đình, vợ con, ông đến Hồ Nam rồi Giang
Tô, Sơn Đông đi đến đâu danh tiếng lan ra đến đó.
Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (742), ông đến Cối Kê, cùng đạo sĩ Ngô Quân ở ẩn
tại Thiểm Trung. Sau đó cùng bạn về Trường An, ở đây ông gặp thái tử tân
khách Hạ Tri Chương, trở nên đôi bạn rượu-thơ thân thiết. Ông được Hạ Tri
Chương tiến cử lên vua Đường Minh Hoàng, vua Đường nghe danh đã lâu nên rất
thích, vời vào điện Kim Loangiao việc thảo thư từ, sau được phong làm Hàn Lâm,
chuyên giữ việc mật. Được vua Đường và Dương Quý Phi yêu thích. Tại đây, cùng
với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi,Vương Tiến, Tô Tần, Trương Húc, Tiêu
Toại, Lý Thích Chi hợp thành nhóm "Tửu trung bát tiên".
Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày, lại bị Dương
Quốc Trung gièm pha nên Dương Quý Phi cũng phát ghét, chỉ trích luôn luôn làm
Đường Minh Hoàng khó xử. Lý Bạch nhận thấy sự đó, cộng với lòng đam mê du
lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng chiều
theo, lại tặng thêm rất nhiều vàng nhưng thi nhân không nhận, cuối cùng trao cho
ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào đi qua, tiền rượu sẽ do
ngân khố thanh toán.
Trong 10 năm kể từ lúc rời cung, Lý Bạch tha hồ uống rượu và đi chơi, ông
từng qua Triệu, Nguỵ, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ, Thương, Ư, Lạc
Dương, các sông Hoài, sông Tứ Do đi quá nhiều nên ông cũng quen biết và thân
thiết với rất nhiều, trong đó có Đỗ Phủ, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích
Năm Thiên Bảo thứ 13 (755), ông quen với Nguỵ Hạo ở Quảng Lăng, hai người
cùng xoã tóc đi thuyền vào sông Tần Hoài. Sau đó đến Tuyên Thành. Tháng 11
năm này có loạnAn Lộc Sơn, Lý Bạch liền về Lư Sơn, ở ẩn tại Bình phong điệp.
Năm (56 tuổi), tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi mời ông về phủ. Lý Bạch
đành phải đi theo. Đến khi Lân làm phản bị bắt, Lý Bạch chạy trốn nhưng không
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
2. Đỗ Phủ và “Thu hứng”
2.1 Đỗ Phủ
Đỗ Phủ sinh năm 712, không biết rõ nơi sinh, chỉ biết đại khái là ở gần Lạc
Dương, tỉnh Hà Nam (huyện Củng cũng có thể là nơi sinh của ông). Sau này ông
tự coi mình là ngườikinh đô Trường An.Đỗ Phủ xuất thân trong một gia đình quý
tộc (tự cho là dòng dõi vua Nghiêu) đã sa sút. Mẹ Đỗ Phủ mất sớm sau khi sinh
ông, và được người thím nuôi một thời gian. Anh trai cũng mất sớm. Riêng có ba
em trai và một em gái khác mẹ: thường được nhắc đến trong thơ (dù thơ ông không
hề đề cập tới mẹ kế).
Vì là con trai của một học giả-quan lại bậc thấp, thời trẻ ông được tiếp thu
nền giáo dục của Trung Quốc truyền thống để lúc trưởng thành có thể ra làm quan:
học thuộc lòng các tác phẩm triết học kinh điển Khổng giáo, lịch sử và thi ca. Sau
này ông cho rằng mình đã sáng tác một số bài thơ hay ngay từ khi tuổi còn trẻ,
nhưng không lưu giữ lại.
Đầu những năm 730 ông đi tới vùng Giang Tô/Triết Giang; những bài thơ
đầu tiên của ông, miêu tả một cuộc thi thơ, được cho là đã sáng tác ở cuối thời kỳ
này, khoảng năm 735.
Cùng năm ấy ông đi tới Trường An để dự thi nhưng bất ngờ bị đánh hỏng,
việc này đã gây ra chỉ trích trong nhiều thế kỷ tiếp sau. Có lẽ ông đã trượt bởi vì
cách hành văn thời ấy quá rắc rối và tối nghĩa, nhưng có ý kiến khác lại cho rằng
ông trượt vì đã không tìm kiếm được các mối quan hệ ở kinh đô. Sau kì thi này ông
tiếp tục đi du lịch quanh vùng Sơn Đông và Hà Bắc.
Cha ông mất khoảng năm 740. Theo cấp bậc của cha, Đỗ Phủ có thể được
phép nhận một chức quan dân sự, nhưng ông đã dành ưu đãi này cho một người em
khác mẹ. Bốn năm sau đó ông sống ở vùng Lạc Dương, thực hiện các bổn phận gia
đình.
Mùa thu năm 744 ông gặp Lý Bạch lần đầu tiên, và giữa hai nhà thơ đã nảy
sinh một tình bạn vong niên: Đỗ Phủ còn trẻ tuổi, trong khi Lý Bạch đã nổi tiếng
giá cao, phần vì những đổi mới trong phong cách và hình thức thơ ông. Một số bị
coi là quá táo bạo và kỳ cục đối với giới phê bình văn học Trung Quốc. Chỉ một số
ít tác giả đương thời có nhắc tới ông và miêu tả ông với tính chất tình cảm cá nhân,
chứ không phải như một nhà thơ xuất chúng hay lý tưởng đạo đức. Thơ Đỗ Phủ
cũng ít xuất hiện trong những hợp tuyển văn học thời kỳ đó.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông đối với thi ca Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ, và
tới thế kỷ thứ 9 ông đã trở nên rất nổi tiếng. Những lời ngợi ca đầu tiên dành cho
Đỗ Phủ là củaBạch Cư Dị, người đã ca ngợi những tình cảm đạo đức trong một số
tác phẩm của Đỗ Phủ. Hàn Vũ đã viết bài bênh vực mỹ học trong thơ Đỗ Phủ
và Lý Bạch trước những lời chỉ trích nhằm vào họ. Tới đầu thế kỷ thứ 10, Wei
Zhuang đã cho dựng lại bản sao đầu tiên ngôi nhà tranh của ông ở Tứ Xuyên.
Tới thế kỷ 11, trong giai đoạn Bắc Tống, danh tiếng Đỗ Phủ lên tới cực điểm.
Trong thời gian này các nhà thơ trước đó đã được đánh giá lại một cách toàn diện,
theo đó Vương Duy, Lý Bạch và Đỗ Phủ lần lượt được coi là đại diện cho xu
hướng Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo trong văn hóa Trung Quốc. Cùng lúc ấy,
sự phát triển của Tân Khổng giáo đã đặt Đỗ Phủ lên vị trí cao nhất, vì trong cả
cuộc đời, ông đã không vì đói nghèo cùng khổ mà quên đi quân vương của mình.
Ảnh hưởng của ông càng tăng do khả năng hòa hợp những mặt đối lập: phe bảo thủ
chính trị bị thu hút bởi sự trung thành của ông với hệ thống tôn ti trật tự sẵn có, còn
phe cải cách nắm lấy mối quan tâm của ông đối với đời sống dân nghèo. Từ khi
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, sự trung thành với quốc gia
và những quan tâm của ông tới người nghèo đã được giải thích sự phôi thai của
chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và ông được tán dương vì ông đã sử dụng
ngôn ngữ giản dị "của nhân dân".
Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp
của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể không bị ảnh
hưởng từ ông. Không bao giờ có một Đỗ Phủ thứ hai, các nhà thơ sau này tiếp nối
truyền thống trong từng khía cạnh cụ thể của thơ ông. Mối quan tâm của Bạch Cư
Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước củaLục Du, các phản ánh cuộc sống hàng ngày
của Mai Nghiêu Thần là một vài ví dụ.
3. Thôi Hiệu và “Hoàng Hạc Lâu”
3.1 Thôi Hiệu
Thôi Hiệu (704 – 754) quê ở Biện Châu (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh
Hà Nam, Trung Quốc).
Đương thời, Thôi Hiệu rất nổi tiếng. Nay thơ của ông chỉ còn lại hơn 40 bài.
Trong đó, Lầu Hoàng Hạc được xem là một trong những bài thơ hay nhất thời
Đường.
3.2 Bài thơ “Hoàng Hạc Lâu”
Bài Hoàng Hạc lâu đã được nhiều người dịch sang Việt ngữ, có người tổng hợp
được hàng trăm bản dịch. Tuy nhiên qua thời gian dài, mọi người đều công nhận
rằng chỉ có bản dịch của Tản Đà theo thể lục bát là thành công hơn hết, nhất là ở
hai câu cuối. Bài thơ của Thôi Hiệu được tuyển chọn vào sách Ngữ văn lớp 10 của
Việt Nam (Nxb Giáo dục, 2008 ), hiện còn đang dạy cho học sinh.
Chữ Hán:
黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。
Hán-Việt:
Hoàng Hạc Lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
năng cơ bản.
Đầu tiên, GV hướng dẫn cho HS có kỹ năng đọc chính xác, tiếp theo GV
hướng dẫn HS cách đọc diễn cảm. Qua việc đọc diễn cảm, HS sẽ nắm bắt được
cảm xúc chủ đạo của tác phẩm va có những cảm nhận đầu tien về nhân vật trữ tình
trong bài. Việc đọc này diễn ra trong suốt giờ học, đọc nhiều lần, đọc đi đọc lại,
bám sát tưng từ từng chữ, đọc đón đầu và dự đoán để tái hiện phạm vi đời sống
khung cảnh, con người, sự kiện nối tiếp với thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Khi phân tích tác phẩm thơ Đường luật, được làm bằng chữ Hán thì một
công việc hết sức quan trọng không thể bỏ qua đó là giáo viên giúp học sinh so
sánh đối chiếu nguyên tác với bản dịch nghĩa, bản dịch thơ để có điều kiện hiểu rõ,
hiểu chính xác nội dung, dụng ý của tác giả. Thực tế trong quá trình giảng dạy có
rất nhiều giáo viên không chú ý đến khâu này, ở trên lớp chỉ bám vào phần dịch
thơ để hướng dẫn học sinh khai thác mà quên đi bản nguyên âm. Cho nên việc khai
thác nội dung nghệ thuật của văn bản rất hời hợt. Qua thực tế giảng dạy một số
năm trước tôi thấy không phải bài thơ Đường luật nào bằng chữ Hán cũng có phần
dịch thơ sát nghĩa với phần phiên âm, lột tả hết được ý nghĩa của phần phiên âm.
Do đó, việc phân tích thơ Đường luật quả là phức tạp, cần có sự đối chiếu nguyên
bản chữ Hán, với bản dịch nghĩa, dịch thơ, để hiểu một cách tường tận ý nghĩa bài
thơ và đánh giá tác phẩm một cách đúng đắn.
Thao tác so sánh không phải nhằm chê người dịch thơ mà là bước đầu tập
dượt một thao tác khoa học nhỏ để rèn kỹ năng khi phân tích một bài thơ Đường
luật và đồng thời để học sinh thấy được bất cứ một cảm nhận văn học nào cũng
phải dựa trên câu chữ có cơ sở để khẳng định. Thao tác này theo cá nhân tôi thiết
nghĩ đó là thao tác vô cùng quan trọng trong một tiết dạy thơ Đường luật. Nếu giáo
viên chưa làm được điều này thì nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của tiết dạy.
3. Phương pháp dạy học trực quan
Phương pháp dạy học trực quan là một trong những phương pháp được ứng
dụng nhiều trong giảng dạy ở phổ thông. Phương pháp dạy học trực quan là
phương pháp dạy học có khả năng nâng cao chất lượng dạy học của phân môn
- Phân tích thể thơ, niêm luật
- Chỉ ra được phép đối ngẫu và niêm luật của nó.
- Phân tích theo bố cục luật thơ
Để giảng dạy tốt phân môn văn học nước ngoài trong nhà trường PTTH, GV
cần cho HS tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của văn bản. Vì muốn hiểu rõ giá trị
nội dung, nghệ thuật của văn bản cần hiểu rõ tác phẩm đó do ai sáng tác, ra đời
trong thơi kỳ lịch sử, xã hội và văn hóa như thế nào. Hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm quyết định không nhỏ đến cảm xúc trữ tình và giá trị nội dung tư tưởng của
tác phẩm văn học. Từ đó GV cho HS thảo luận để tìm hiểu về thể loại của tác
phẩm về số tiếng, số câu, vần, nhịp thơ… Cho HS đọc, rút ra cách đọc.
Trong phần tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm thì phải tùy
thuộc vào dung lượng thời gian để hướng dẫn HS nắm bắt tác phẩm.
Thông thường là trong tiết giảng thơ Đường luật trên lớp GV hay phân tích
cắt ngang theo bố cục (đối với bài thơ tứ tuyệt gồm có bốn phần: khai- thừa –
chuyển – hợp; đối với bài thơ bát cú cũng có bố cục bốn phần 2/2/2/2 gồm: đề -
thực – luận – kết). Nếu giáo viên trong quá trình giảng dạy bài thơ Đường Luật nào
cũng phân tích theo bố cục trên thì có lúc sẽ rơi vào chỗ gượng ép khiên cưỡng.
Thực tế sáng tác, không phải bài thơ nào cũng có kết cấu bốn phần một cách cứng
nhắc như vậy. Do đó khi phân tích kết cấu của một bài thơ Đường luật phải bám
sát vào thực tế của văn bản, không nên áp đặt cái khuôn bốn phần đó vào bất cứ bài
nào. Như vậy có nghĩa là không phải bài thơ thất ngôn bát cú nào cũng phân tích
theo bố cục đề - thực - luận - kết hoặc bài thơ tứ tuyệt nào cũng phải phân tích theo
bố cục khai – thừa – chuyển – hợp mà giáo viên cần phải linh hoạt để làm nổi bật
nội dung của bài thơ.
5. Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một phương pháp quan trọng trong việc nâng cao các kỹ
năng làm việc theo nhóm của HS. Đồng thời cũng rèn luyện năng lực tư duy, phán
đoán, kỹ năng phân tích, giải quyết một vấn đề cho HS khi dạy học Ngữ văn.
- Bước 1: GV đưa ra hệ thống câu hỏi cho các nhóm thảo luận trong một
thời gian cụ thể.
+ Cách 2: Ta có thể lồng phần giải nghĩa của các yếu tố Hán Việt trong khi
phân tích văn bản. Phân tích đến đâu giáo viên có thể lồng ghép cho học sinh đọc
phần giải thích các yếu tố Hán Việt có liên quan.
- Tích hợp văn: liên hệ bài thơ đang dạy với các bài thơ cùng thể loại.
Tóm lại dạy văn rất cần thiết tích hợp giữa văn bản với tiếng Việt đặc biệt
dạy thơ Đường luật thì điều đó lại càng cần thiết vì muốn học sinh hiểu được ý
nghĩa của văn bản thì học sinh phải nắm vững được nghĩa của từ. Mà khi nắm
được nghĩa của từ thì học sinh sẽ hoàn toàn chủ động khai thác kiến thức.
C. ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG
PTTH
* Mục tiêu chung
1. Về kiến thức
- Định hướng cho học sinh tự tìm hiểu và nhận diện thể thơ Haiku của Nhật Bản và
phần nào chiếm lĩnh được vẻ đẹp của các bài thơ Haiku về nội dung và nghệ thuật.
- Đặc biệt là nét độc đáo riêng trong phong cách sáng tác thơ Đường của các
nha thơ Trung Quốc (ý tại ngôn ngoại).
2. Về kỹ năng
- Rèn luyện năng lực liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo, nhập tâm vào văn bản thơ,
khơi dậy khả năng khám phá, phát hiện của học sinh.
- Rèn luyện kỹ năng trình bày, giải quyết một vấn đề; kỹ năng, phương pháp
đọc thơ Đường.
3. Về thái độ
- -Hiểu được ý nghĩa và cảm nhận được vẻ đẹp của thơ Đường để từ đó thêm
yêu và trân trọng vẻ đẹp của các nền thơ lớn trên thế giới.
C. ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG
PTTH
I. “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”
1. Phương pháp đọc diễn cảm
Giọng đọc chậm rãi, buồn, trong sáng thể hiện sự da diết,bâng khuâng khi đưa
tiễn.
- Gợi được sự dịch chuyền chầm chậm, xa mờ dần, hút tầm mắt của cánh buồm.
- Hình ảnh đối lập:
Cô phàm >< Bích không tận
Nhỏ bé, cô đơn mênh mông, rợn ngợp
- Tô đậm sắc thái cô dơn, bé nhỏ của con thuyền
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: sự cô đơn, nhỏ bé của con người, trước thiên nhiên
bao la.
3. Phương pháp trực quan
GV cho HS xem một số tư liệu hình ảnh về nhà thơ Lí Bạch và bài thơ
“Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”. Chú ý giới thiệu bản
tiếng Hán và phần dịch nghĩa để HS bước đầu nắm được khái quát bài thơ.
4. Phương pháp phân tích
a. Hai câu đầu:
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”
(Bạn từ lầu Hoàng Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng)
* GV: Đọc hai câu đầu, em nhận thấy thời gian, nơi tiễn, nơi đến của Mạnh Hạo
Nhiên như thế nào?
- Không gian đưa tiễn:
+ Nơi đi: phía tây lầu Hoàng Hạc.
• Theo quan niệm của người phương Đông là nơi có cõi Phật, cõi tiên - nơi
thoát tục.
• Là nơi có vùng đất hoang sơ, bí hiểm, với nhiều núi cao, xưa chỉ dành riêng
cho những ẩn sĩ tu hành- nơi ẩn chứa những tâm hồn thanh cao, trong sạch.
Lầu Hoàng Hạc: di chỉ thần tiên, thắng cảnh thuộc huyện Vũ Xương - Hồ
Bắc (Trung Quốc), tương truyền là nơi Phí Văn Vi tu luyện thành tiên rồi cưỡi hạc
vàng bay đi.
+ Nơi đến: Dương Châu - nơi phồn hoa đô hội, cuộc đời trần tục.
• Không gian chia li:
nét nghĩa của từ không?
- “Trường Giang” chỉ sự mênh mông kì vĩ. Bản dịch không thể hiện dược từ
này.
5. Hoạt động nhóm
6 Phương pháp tích hợp
Muốn có sự cảm nhận sâu sắc về một bài thơ, trước hết phải hiểu “nội dung”
của nó. Trong thơ Đường, điển tích, điển cố rất nhiều đòi hỏi người giáo viên phải
hiểu sâu hiểu kỹ mới có thể cắt nghĩa lý giải được.
Vì thế, để hiểu hết một bài thơ Đường GV phải giúp HS tiếp cận với vấn đề
một cách khoa học và hướng dẫn học sinh phân tích vấn đề một cách thấu đáo, chi
tiết. Có thể tìm hiểu thơ Đường qua các cách khai thác sau:
Khai thác bài thơ luật Đường dựa vào tìm hiểu vần, địa danh, hình ảnh:
* GV: Trong bài thơ nói đến những địa danh nào?
Trước hết, các địa danh được nói đến trong bài đó là: Hoàng Hạc, Dương Châu,
đều là những địa danh giàu sức gợi. Nói đến lầu Hoàng Hạc, người ta có thể liên
tưởng ngay đến nỗi sầu li biệt. Cũng vậy, ở trong bài thơ này, sự xuất hiện của địa
danh Hoàng Hạc làm ho cuộc chia li của tác giả với bạn thêm xúc động và da diết
hơn. Địa danh Dương Châu cũng gợi ra nỗi buồn vì nó giúp ta liên tưởng đến cảnh
từ biệt.
* GV: Hình ảnh cánh buồm ngày càng xa gợi lên điều gì?
Hình ảnh càng ngày càng xa thực chất để gợi lên cái tình của nhà thơ: có yêu
quý bạn mới đứng lâu như vậy để dõi theo “bóng buồm” của bạn cho đến lúc
không còn nhìn thấy nữa.