Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được chuyên đề thực tập này, em xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô giáo trường đại học kinh tế quốc dân và viện
Ngân hàng Tài chính đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản để lựa chọn và
hoàn thành tốt chuyên đề thực tập này.
Ngoài ra, em cũng chân thành cảm ơn các anh chị trong công ty Cổ phần Du
lịch và Truyền thông quốc tế VietlinkVN đã nhiệt tình chỉ bảo giúp đỡ em tiếp xúc
và tìm hiểu thực tế về nghiệp vụ trong suốt thời gian thực tập tại công ty.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo viên hướng dẫn
TS.Nguyễn Thị Minh Huệ đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực
tập này.
Hà Nội ngày 17 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Anh
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong báo cáo này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực
tiếp của cơ TS.Nguyễn Thị Minh Huệ , giảng viên Viện Ngân hàng Tài chính
Mọi tài liệu tham khảo dung trong chuyên đề này đều được trích dẫn rõ ràng.
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay gian trá, tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội ngày 17 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Anh
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
MỤC LỤC
1
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
xét tới rất nhiều yếu tố. Mỗi một yếu tố có vai trò và mức độ ảnh hưởng
khác nhau tới doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục tiêu khi thành lập,
Qua quá trình học tập ở trường và thời gian thực tập tại công ty Cổ
phần Quốc tế Truyền thông và Du lịch Vietlinkvn em đã chọn đề tài nghiên
cứu : “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty Cổ phần
Quốc tế Truyền thông và Du lịch Vietlinkvn” để làm báo cáo chuyên đề
thực tập.
Kết cấu của báo cáo gồm 3 chương cơ bản:
Chương 1: : Vốn và huy động vốn của trong doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của Công ty Cổ phần Du lịch và
Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Công ty Cổ
phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn TS: Nguyễn
Thị Minh Huệ đã hướng dẫn em và giúp em hoàn thành báo cáo chuyên đề
thực tập này.
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2012
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Anh
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
2
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
CHƯƠNG I
VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Vốn của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về vốn của doanh nghiệp
tiên quyết của mọi quá tình đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Thông qua thị trường, vốn lưu thông rộng rãi và thể hiện đầy đủ bản
chất, vai trò của nó. Các Mác đã khái quát hoá vốn qua phạm trù “Tư bản”:
Tư bản là giá trị mang lại "giá thị thặng dư". Định nghĩa cô đọng này đã
phản ánh được nội dung, các đặc trưng và vai trò, tác dụng của vốn. Tuy
nhiên do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mác quan
niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền
kinh tế.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học tư bản thì không những khu
vực sản xuất vật chất tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế mà còn phải kể
đến cả khu vực dịch vụ
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm khái quát về vốn của doanh
nghiệp như sau:
"Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dựng
vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Vốn thực chất là một số tiền mà
các doanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải được
thu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh."
1.1.2. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Hoạt động của công ty đòi hỏi phải có vốn, đầu tiên là nó giúp cho
hoạt động kinh doanh được thực hiện (xảy ra hoạt động), sau đó là duy trì
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
4
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
hoạt động và xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn. Khi vốn
phát triển, nó sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được sản xuất về cả chiều
rộng và chiều sâu, qua đó lại tác động ngược lại làm tăng lượng vốn sẵn có
của doanh nghiệp. Trong kinh doanh vốn là công cụ cần thiết hàng đầu để
doanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình. Rất nhiều người đã
không thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn. Nói cách khác nó là
"chiếc rìu" của ông tiều phu. Do đó doanh nghiệp phải tổ chức huy động,
nghiệp muốn tồn tại phải có được các bí quyết, các công nghệ tiên tiến để
nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao,
hạ giá thành sản phẩm. Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp cần phải
có vốn để hoạt động và đầu tư.
Huy động vốn có ý nghĩa quyết định đến quy mô hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh nhất là trong thời đại bùng nổ khoa học và công nghệ như ngày
nay thì nhu cầu vốn lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và có xu
thế tăng không ngừng. Nó giúp doanh nghiệp có thể chớp được thời cơ
kinh doanh và tạo lợi thế trong cạnh tranh.
Huy động vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động hay việc đa dạng
hoá ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, khi muốn tham
gia kinh doanh vào một lĩnh vực mới nào, doanh nghiệp cũng phải có một
lượng tiền lớn cho việc đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xây
dựng hệ thống phân phối sản phẩm. Nếu không có khả năng tài chính mạnh
doanh nghiệp khó có thể thực hiện được hoạt động này dù là ngay ở những
bước đầu tiên như phân tích thị trường, xây dựng phương án kinh doanh.
Cuối cùng, việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh
nghiệp chống đỡ được những tổn thất, rủi ro trong quá trình hoạt động, đặc
biệt là những lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro như ngân hàng.
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
6
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
Như vậy, có thể thấy, huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa đối với
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tiễn nền kinh tế
trong những năm qua cũng cho thấy doanh nghiệp nào có lượng vốn càng
lớn thì càng có thế chủ động trong kinh doanh và có thể thắng được trong
cạnh tranh. Ngược lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh, không có
chiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất vai trò của
mình trên thị trường, mất bạn hàng thường xuyên ổn định, không tạo ra sức
toàn cho các món nợ. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đóng
góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh
chủ yếu sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Như vậy, nguồn vốn chủ sở hữu cũng
là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ nợ vay của công ty.
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn chủ sở hữu có nguồn
gốc khác nhau:
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư ban đầu là vốn đầu
tư của ngân sách Nhà nước, nên Nhà nước là người nắm quyền lãnh đạo.
Trong doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư ban đầu là vốn của chủ sở
hữu duy nhất của doanh nghiệp bắt buộc phải có khi thành lập doanh
nghiệp, gọi là vốn pháp định. Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà Nhà
nước quy định một mức vốn riêng. Chẳng hạn, theo điều 9 khoản 2 Luật
doanh nghiệp Tư nhân (1994) quy định: “ Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù
hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không
được thấp hơn vốn pháp định do Chính phủ quy định ”.
Đối với Công ty cổ phần, nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình
thức vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty cổ phần phát
hành cổ phiếu để huy động thông qua việc bán những cổ phiếu đó.
Đối với doanh nghiệp liên doanh: vốn đầu tư ban đầu được biểu hiện
dưới hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa
các chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành một doanh nghiệp mới.
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
8
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
Bên cạnh nguồn vốn đầu tư ban đầu, công ty có thể bổ sung nguồn vốn
của mình bằng một số phương thức sau:
- Huy động nội bộ: Theo phương thức này công ty sẽ tăng nguồn vốn
của mình bằng cách trích một phần lợi nhuận thu được trong năm vào quỹ
đầu tư phát triển. Để làm được điều này, trước tiên công ty phải làm ăn có
lãi. Sau đó, công ty có thể giảm tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ khen
nhu cầu vốn bổ sung của công ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đa
công ty được phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trường.
Bên cạnh đó còn phải xem xét các nhân tố khác đặc biệt là “nhiệt độ” trên
thị trường chứng khoán.
1.2.2. Các hình thức huy động vốn nợ
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp hay
một công ty nào có thể hoạt động được mà không vay vốn ngân hàng. Việc
huy động vốn bằng hình thức này giúp doanh nghiệp, công ty tăng khả
năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất
kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô
kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ khi đến hạn và giảm số lượng
vốn vay.
Công ty có thể vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng
cho nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, song phải đáp
ứng được những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác như phải có phương án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toán
độc lập… và các yêu cầu về tài sản thế chấp, cầm cố. Trên cơ sở các điều
kiện xin vay được thực hiện đầy đủ, ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanh
nghiệp dưới các hình thức chủ yếu sau:
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
10
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
- Tín dụng hạn mức là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ
sở hợp đồng tín dụng, trong đó công ty được phép sử dụng dư nợ trong một
giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai. Chỉ khi nào doanh
nghiệp hay công ty sử dụng mới được coi là tín dụng cấp phát và mới được
tính lãi.
- Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn, trong đó
công ty chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân
đó công ty sẽ đứng ra chịu trách nhiệm trước ngân hàng khi công ty không
hoàn lại được số yiền mà ngân hàng đã bảo lãnh cho công ty hoạt động
kinh doanh. Công ty phải nộp bộ chứng từ vào ngân hàng thông báo L/C
cho đến khi được ghi có trên tài khoản phải trải qua một khoảng thời gian
nhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ. Công ty cần tiền có thể thương
lượng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng trước tiền tại ngân hàng đã được
chỉ định rõ trong L/C hoặc ở bất kỳ ngân hàng nào.
Nói chung, hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp được
các ngân hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn
vốn vay ngân hàng có đặc điểm là tương đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tục
phức tạp, điều kiện vay chặt chẽ, nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp
khi muốn vay vốn. Do đó thông thường khi thiếu vốn các doanh nghiệp
thường nghĩ đến nguồn vốn tự có trước khi nghĩ đến ngân hàng. .
- Phát hành trái phiếu công ty:
Như chúng ta đã xét ở trên, nguồn vốn vay ngân hàng mặc dù rất linh
hoạt song chỉ đáp ứng nhu cầu kinh doanh trong ngắn hạn của các daonh
nghiệp mà thôi, do vậy mà nó có rất nhiều nhược điểm đó là nó không đmr
bảo việc chi trả dài hạn cho công ty mà nó có thể đảm bảo sự an toàn cho
khách hàng khi khách hàng sử dung dich vụ của các doanh nghiệp. Để khắc
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
phục nhược điểm này doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức huy động
vốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty.
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp phát
hành để huy động vốn của các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục
vụ nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Thời hạn của trái
phiếu công ty được xác định từ ngày phát hành đến ngày thanh toán lại cho
người mua. Khi huy động vốn bằng phương thức này, doanh ngiệp phải
trái phiếu được biết. Thời hạn và giá cả khi chuộc lại cũng phải được quy
định rõ ngay từ lúc phát hành. Thông thường, người ta quy định thời hạn
tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi, ví dụ trong thời gian 36 tháng.
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu có thể chuyển đổi
thành một lượng nhất định các cổ phiếu thường. Việc huy động vốn bằng
hình thức này có ưu điểm là công ty có thể gắn bó người mua trái phiếu
một cách lâu dài và đến một thời gian thích hợp họ có thể mua cổ phiếu để
trở thành cổ đông của công ty. Hơn nữa, do hấp dẫn hơn, hình thức này có
thể huy động được nguồn vốn có chi phí thấp hơn các hình thức khác đồng
thời đa dạng hoá các công cụ huy động vốn.
Ngoài các trái phiếu chủ yếu trên, công ty còn có thể lựa chọn một số
loại khác như trái phiếu có bảo đảm (là trái phiếu được bảo đảm bằng tài
sản của công ty) hoặc trái phiếu không có bảo đảm (là loại trái phiếu không
được bảo đảm bằng một loại tài sản cụ thể nào).
Nói chung, huy động vốn cách phát hành trái phiếu công ty có ưu
điểm là tiết kiệm được chi phí đầu tư; kiềm chế được lạm phát (do không
làm tăng lượng tiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả
hơn lượng tiền sẵn có trong lưu thông); chủ động khai thác trực tiếp nguồn
vốn có sẵn và tiềm năng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nếu
tận dụng được những ưu điểm này thì đây sẽ là phương thức tối ưu và khả
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
thi cho giải pháp về vốn dài hạn của từng doanh nghiệp trong nước, đồng
thời có lợi cho tổng thể nền kinh tế nước nhà.
- Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể tăng nguồn vốn
của mình bằng cách khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi
là tín dụng nhà cung cấp. Nguồn vốn này được khai thác một cách tự nhiên
trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp.
thương trường là thương phiếu. Thương phiếu là sự cam kết tín dụng của
người mua trước khi hàng hoá được chuyển đến. Trong thương phiếu,
người bán ghi rõ số tiền và hạn trả tiền mà người mua phải thực hiện. Sau
đó, thương phiếu được gửi đến ngân hàng của người mua cùng với các hoá
đơn chứng từ về việc đó chuyển hàng cho người mua. Có hai loại thương
phiếu cơ bản là thương phiếu trả ngay (người bán yêu cầu bên mua trả tiền
ngay) và thương phiếu có thời hạn (người bán không yêu cầu người mua trả
tiền ngay). Khi thương phiếu đã được người mua hứa trả tiền vào một ngày
nào đó trong tương lai thì nó được gọi là chấp nhận thương mại. Người
mua sẽ gửi chấp nhận thương mại lại cho người bán. Người bán có thể giữ
chấp nhận thương mại để đợi đến ngày lấy tiền hoặc cũng có thể bán nó
cho một người khác hoặc đến chiết khấu ở ngân hàng thương mại trong
những trường hợp cần thiết.
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiện
như là một công cụ tín dụng thương mại. Hợp đồng này đảm bảo cho doanh
nghiệp duy trì quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá của mình cho đến khi
người mua trả hết tiền. Các hợp đồng bán hàng hoá có điều kiện thường
được trả làm nhiều lần và mỗi lần đều có một chi phí lãi suất tương ứng
trong mỗi lần chi trả.
- Nguồn vốn tín dụng thuê mua:
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác. Người
cho thuê (chủ sỡ hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sử
dụng tài sản) được sử dụng trong một thời gian nhất định và người thuê
phải trả cho chủ sở hữu tài sản một khoản tiền thuê tương xứng với quyền
sử dụng. Hình thức thuê mua giúp doanh nghiệp tránh được những sai lầm
khi tự đi vay và tự tìm mua sắm thiết bị vì các công ty thuê mua không chỉ
Thuê hoạt động có hai đặc trưng chính:
- Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu
ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một
thời gian ngắn.
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuê
phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm,
thuế tài sản cùng với mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản.
- Thuê tài chính (Finance Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn
theo hợp đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản,
thiết bị mà người mua cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua
lại tài sản từ người cho thuê. Trong nhiều trường hợp, một công ty bán
ngay tài sản của mình cho người thuê rồi thuê lại. Trong hợp đồng thuê tài
chính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn đời sống
hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải
đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính người cho thuê thường ủy
quyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản. Nếu người thuê quản lý sử
dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn nhiều so với giá
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
18
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bán
được giá cao hơn họ sẽ được hưởng phần chênh lệch.
Trong hợp đồng thuê tài chính, các loại chi phí bảo dưỡng, vận hành,
phí bảo hiểm, thuế tài sản cũng như những chi phí rủi ro khác đối với tài
sản do bên thuê phải chịu cũng như tương tự của công ty mua sắm.Cũng vì
lý do đó các khoản tiền thuê mà người cho thuê nhận được coi là giá trị
thừa của tài sản nên hình thức thuê này cũng được gọi là thuê mua thuần.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau.
(Official development finance) – Tài trợ phát triển chính thức) nào khác.
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối
lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại
(còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác
định dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần
trả nợ trong các năm và tỷ suất chiết khấu.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm
các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục
chuyển giao vốn và thị trường ). Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này
với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể.
Nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài
cho nền kinh tế. Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội
dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn,
vừa đảm bảo được các mục tiêu có tính nguyên tắc.
1.3.Hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.1.Khái niệm hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so
sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số,
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
20
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí /kết quả, mỗi cách so sánh đều cung cấp
các thông tin có ý nghĩa khác nhau.
Vì vậy, hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp được thể hiện ở khả
năng đáp ứng cao nhất nhu cầu cho hoạt động củadoanh nghiệp, khả năng
đú được thể hiện thông qua sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Đây chính là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất để
đánh giá hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp, ngoài ra được thể hiện
ở cơ cấu vốn hợp lý, an toàn và chi phí vốn đảm bảo khả năng sinh lời của
phí sử dụng vốn trung bình ( WACC ) thấp nhất, và được xác định theo
công thức:
WACC = Wd.Kd.(1-t) + Ws.Ks + Wp.Kp
Kd.(1-t) là Chi phí nợ vay sau thuế
t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp,
Kp là chi phí cổ phiếu ưu tiên
Ks là chi phí lợi nhuận giữ lại
Wd, Ws, Wp tương ứng là tỷ trọng của nợ vay, cổ phiếu thường và cổ
phiếu ưu tiên
1.3.2.3. Chi phí vốn hợp lý
Chi phí vốn nói chung được hiểu là chi phí cơ hội của việc sử dụng
vốn, phân chia theo nợ và vốn chủ sở hữu thì bao gồm có chi phí của nợ và
chi phí của vốn chủ sở hữu.
Chi phí của vốn chủ sở hữu coi bằng lợi nhuận kỳ vọng của chủ sở
hữu trên khoản đầu tư. Có ba cách để xác định mức lợi nhuận kỳ vọng này
là phương pháp CAPM, phương pháp luồng tiền chiết khấu và phương
pháp lấy lãi suất trái phiếu cộng phần bù rủi ro. Chi phí vốn chủ có thể xác
định dễ dàng hơn nếu như có một thị trường tài chính phát triển với đầy đủ
thông tin và công cụ. Còn đối với những nước có thị trường tài chính chưa
SV: Đỗ Thị Anh Lớp: TCDN K21B
22