MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
NỘI DUNG 2
I. Khái niệm và tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình 2
1. Khái niệm kỹ năng thuyết trình 2
2. Tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình 2
1. Những ưu điểm đạt được trong thuyết trình 6
2. Liên hệ thực tiễn bản thân 8
1. Chu Văn Đức, giáo trình Kỹ năng giao tiếp, Nxb Hà Nội 2005; 9
MỞ ĐẦU
Nhà tỷ phú người Mỹ Warren Buffett đã nói: “Hãy rèn luyện kỹ năng
thuyết trình cho mình mỗi ngày để rút ngắn con đường đến thành công của
bạn”. Câu nói đặt ra cho người nghe nhiều suy nghĩ, nhất là đối với những
con người đang muốn vươn tới những thành công trong tương lai. Việc phân
1
tích kỹ năng thuyết trình sẽ trả lời cho các câu hỏi: Kỹ năng thuyết trình là gì?
Kỹ năng thuyết trình có ý nghĩa gì? Cần phải rèn luyện kỹ năng này như thế
nào để có hành trang vững chắc rút gọn con đường đến thành công? …
NỘI DUNG
I. Khái niệm và tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình
1. Khái niệm kỹ năng thuyết trình
Thuyết trình là trình bày một nhận định, quan điểm, chiến lược phát
triển, lĩnh vực chuyên môn…nhằm thuyết phục người nghe nghe theo mình,
chấp nhận quan điểm, cùng suy nghĩ với mình, hành động theo ý muốn của
mình. Nói cách khác là kỹ năng trình bày, diễn đạt vấn đề, làm cho người
khác hiểu được nội dung mà mình muốn diễn đạt.
2. Tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình
Nếu một vấn đề được người thuyết trình trình bày hấp dẫn, thuyết
phục thì sẽ để lại ấn tượng tốt, sự ủng hộ đồng tình của nhiều người, có thể sẽ
được mọi người tín nhiệm và trở thành người lãnh đạo. Khi lời nói có trọng
lượng sẽ thuyết phục được nhiều người, rất có lợi cho công việc tập thể.
2. Tiến hành bài thuyết trình
a. Mở đầu bài thuyết trình
Khi tiến hành thuyết trình, phần mở đầu của bài thuyết trình là vô
cùng quan trọng. Sự hấp dẫn hay thiếu hấp dẫn ở phần mở đầu sẽ ảnh hưởng
và quyết định đến thái độ, tình cảm của người nghe đối với toàn bộ nội dung
trong bài thuyết trình. Phần mở đầu bài thuyết trình thường diễn ra trong một
khoảng thời gian rất ngắn và để khoảng thời gian ngắn ngủi đó lôi cuốn được
các đối tượng lắng nghe tham gia vào bài thuyết trình của mình thì có một số
cách thức mở đầu sau: Mở đầu bằng những câu hỏi bất ngờ kích thích tư duy
và trí tưởng tượng của người nghe. Những câu hỏi đưa ra không nhất thiết
phải là những câu hỏi đánh đố mà nên đơn giản, hài hước và hướng vào chủ
đề mà ta muốn dẫn dắt người nghe; Mở đầu bài thuyết trình bằng một câu
chuyện hay một tình huống hài hước sẽ tạo tâm lý thoải mái, gần gũi của
người nghe; Mở đầu bài thuyết trình bằng những con số thống kê; Mở đầu
bằng cách đi trực tiếp vào vấn đề…
3
b. Triển khai bài thuyết trình
- Tạo không khí tiếp xúc: Để bắt đầu vào nội dung của bài thuyết trình
thì trước hết cần tạo không khí tiếp xúc đối với người nghe như bao quát được
tất cả khán giả bằng cách sử dụng những từ như “chúng ta”, thay vì sử dụng
từ “tôi”. Ngoài ra, trong quá trình thuyết trình cần sử dụng ngôn từ chính xác:
ngôn ngữ xúc tích, dùng từ chính xác chỉ hiểu theo một nghĩa. Người nói
cũng cần tạo không khí tiếp xúc ngay từ bộ trang phục của mình, một bộ trang
phục phù hợp với nội dung bài nói, cũng như đối tượng nghe.
- Trình bày nội dung: Triển khai bài thuyết trình, người nói nên diễn
đạt theo dàn ý đã lập sẵn từ trước để đảm bảo sự logic, không bị thiếu hoặc
trùng ý. Tập trung thời gian của bài nói vào những vấn đề trọng tâm để giải
quyết mục đích của bài cũng như tránh sự lan man, mở rộng vấn đề làm cho
bài nói bị loãng. Tuy nhiên để để tránh tạo cảm giác khô khan cho người nghe
thì khi triển khai bài thuyết trình, người thuyết trình cần phải có những kĩ
tâm, tôn trọng mình cũng như từ đó người nói mới cảm nhận được chính xác
phản ứng của người nghe đối với bài thuyết trình của mình. Ánh mắt nhìn của
người nói khi thuyết trình phải tự nhiên, nghiêm túc thể hiện phù hợp với
ngôn từ biện, tránh đảo mắt quá nhanh, liếc ngang, liếc dọc,…
+ Tay trong khi thuyết trình: Người nói nên sử dụng đôi bàn tay để
minh họa cho những điều cần nói, dùng để biểu đạt cảm xúc của mình. Người
nói phải luôn để tay trong khoảng từ trên thắt lưng tới dưới cằm, đưa tay từ
trong ra ngoài và từ dưới lên. Làm như vậy, việc sử dụng tay sẽ đem lại cảm
giác thoải mái, tự nhiên mà không bị gò bó, đè nén. Khi thuyết trình, người
nói có thể vung tay, mổ các ngón tay, giơ ngón tay để biểu thị các con số, tay
đưa lên để biểu thị sự thay đổi hay phát triển, tay đưa ra biểu thị vấn đề ảnh
hưởng tới nhiều người Tuy nhiên, việc sử dụng đôi bàn tay như thế nào là
phụ thuộc vào thói quen của mỗi người nhưng mỗi biểu thị tay đều mang
những ý nghĩa khác nhau, biểu hiện được sự chủ động, tự tin và tăng tính hấp
dẫn của ngôn ngữ nói. Sử dụng phi ngôn từ tay giúp diễn tả cảm xúc nội tâm
một cách chân thật, dễ dàng, giúp điều tiết giọng nói được sắc nét rõ dàng,
5
gãy gọn ý. Nên tránh những cử chỉ tay trong khi hùng biện như: Khoanh tay;
cho tay vào túi quần; chỉ tay vào người; cử chỉ tay tùy hứng;…
- Trả lời người nghe: Một bài thuyết trình thành công là một bài có sự
tương tác, giao lưu giữa người thuyết trình với người nghe. Thỉnh thoảng
người nói nên hỏi xem sự nắm bắt của người nghe tới đâu và đặt câu hỏi liên
quan đến nội dung cần nói, để người nghe được suy nghĩ trước, và họ sẽ cảm
thấy liên quan hơn và dễ tiếp thu hơn.
c. Kết thúc bài thuyết trình
Một bài thuyết trình dù hấp dẫn đến đâu cũng không nên kéo dài quá
lâu gây sự bão hòa đối với người nghe, theo đó người nói cần căn chỉnh thời
gian cho phù hợp để không làm bài thuyết trình của mình không quá dài
nhưng không kết thúc quá sớm. Phần kết thúc bài thuyết trình nên nhắc lại
tóm tắt các ý chính đã trình bày, mô tả khuyến cáo các hoạt động tiếp theo,
người nghe chú ý đến mình. Đó có thể là việc đứng, đi lại hay di chuyển với
cử chỉ và nét mặt biểu cảm, sử dụng cử chỉ của tay, của ánh mắt Cá nhân
luôn phải cố gắng hạn chế việc nhìn vào giấy hoặc bài viết để đọc nội dung
bài làm.
Về nội dung nói luôn được sắp xếp theo trình tự logic từ mở bài (đưa ra
luận điểm) đến thân bài (luận điểm chặt chẽ, thông tin chính xác và mới nhất)
tới kết luận (nêu lại luận điểm, tóm tắt và kết luận hợp lý). Đôi khi xen kẽ vào
đó là những ví dụ cụ thể, sinh động để người nghe có thể hiểu rõ hơn về nội
dung. Ngoài ra nên để một khoảng thời gian tạm dừng trong bài nói để chính
mình và người nghe có một chút thời gian để suy nghĩ và nghiền ngẫm.
c. Kết thúc bài thuyết trình
Kết thúc bài thuyết trình, nên tóm tắt những ý chính giống như khi viết
phần kết của một bài thuyết trình. Phần tóm tắt thường có nội dung bao trùm
cả bài viết chứ không quá chú trọng vào một vấn đề nào đó. Khi thuyết trình
xong, phải cảm ơn người nghe, mời những người nghe đóng góp ý kiến cho
bài làm của mình được hoàn hảo hơn
7
2. Liên hệ thực tiễn bản thân
Tuy đã được rèn luyện kỹ năng thuyết trình, nhưng trong chính bản
thân em vẫn còn những hạn chế sau:
Thứ nhất, khả năng dùng mắt để giao tiếp với người nghe còn kém.
Trên thực tế không dám nhìn trực tiếp vào mắt mọi người nên thường bị
cuống và không tự tin.
Thứ hai,việc cầm giấy đọc có nhiều khi là không cần thiết nhưng em
vẫn không đủ tự tin để thuyết trình tay không, chưa biết nhấn mạnh những
điểm chính, nội dung chủ chốt của bài thuyết trình.
Thứ ba, việc nói chuyện với người nghe, lắng nghe câu hỏi, đáp lại
phản ứng của họ, điều chỉnh và thích nghi em vẫn chưa ứng dụng khi thuyết
trình.
Thứ tư, việc xử lý những tình huống đột xuất khi gặp phải những câu