tình hình kinh tế công thương nghiệp đàng trong từ thế kỷ xvii đến đầu thế kỷ xvii - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NÔNG THỊ NHUNG

TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG THƢƠNG NGHIỆP
ĐÀNG TRONG TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XVIII KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Tôi xin cảm ơn tới tập thể lớp K51 - ĐHSP Lịch Sử, gia đình, người thân
đã hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do hạn chế về thời gian, nguồn tư liệu, khả năng nghiên cứu nên khóa
luận không thể tránh khỏi nhiều thiếu xót, tôi rất mọng nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện Nông Thị Nhung MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ, đóng góp của khóa luận 3
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5. Bố cục khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH ĐẠI VIỆT TỪ CUỐI THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU
THẾ KỶ XVIII 5
1.1. Quá trình thiết lập quyền lực của các chúa Nguyễn 5
1.1.1. Công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn 5
1.1.2. Chúa Nguyễn xưng vương, xây dựng cơ nghiệp ở Đàng Trong 8
1.2. Cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài 10

những nhân tố mới mẻ trong nền kinh tế, vừa tạo sự chuyển biến tích cực trong
đời sống của nhân dân. Bởi vậy, nghiên cứu tình hình kinh tế công thương
nghiệp sẽ góp phần làm rõ thực trạng của chế độ phong kiến Việt Nam trong thế
kỷ XVII, XVIII vốn trước đây bị coi là giai đoạn suy yếu, khủng hoảng.
Hơn nữa, nghiên cứu về kinh tế công thương nghiệp Đàng Trong để thêm
một lần khẳng định vai trò của các chúa Nguyễn không chỉ trong công cuộc mở
cõi mà còn trong quá trình xây dựng, phát triển khu vực phía Nam của đất nước.
Đó là một quá trình gian khó song những thành tựu các chúa Nguyễn đạt được
hết sức vẻ vang.
Ngoài ra, việc nghiên cứu kinh tế Đàng Trong và đặt trong sự so sánh với
kinh tế Đàng Ngoài sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn nội lực, thế mạnh và cả những
hạn chế của kinh tế Đại Việt thời điểm đó. Từ đó, đi tìm nguyên nhân tụt hậu
của quốc gia Đại Việt so với các quốc gia phương Tây cùng thời điểm đó.
Trong xu thế hội nhập của đất nước, việc tìm hiểu những vấn đề về kinh tế
trong lịch sử, đặc biệt ở thế kỷ XVII, XVIII - thời điểm khá phức tạp của lịch sử
dân tộc, là điều có ý nghĩa thiết thực để rút ra những bài học thành công từ
những thất bại. Rất nhiều công trình đã nghiên cứu về vấn đề này, vì thế chúng
tôi muốn tiếp tục nghiên cứu để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về
các chúa Nguyễn cũng như công cuộc xây dựng chính quyền, bảo vệ thành quả
của công cuộc Nam tiến.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “ Tình hình kinh tế công thương
nghiệp Đàng Trong từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII ” làm đề tài nghiên cứu. 2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về vấn đề hoạt động kinh tế công thương nghiệp của Đại Việt nói chung
kinh tế công thương nghiệp ở Đàng Trong nói riêng đã có nhiều tài liệu đề cập
đến, song hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ giới thiệu về một
số mặt cơ bản còn chung chung về kinh tế giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài ở

1427 đến năm 1858.
Các bài viết như: “Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác
quyền lực khu vực của PGS.TS. Nguyễn Văn Kim - NCLS số 6 - 2006, “Về hoạt
động thương mại của các công ty Đông Ấn Pháp với Đại Việt” ( nửa cuối thế kỷ
XVII giữa thế kỷ XVIII) của Nguyễn Mạnh Dũng - NCLS số 9/ 2006….
Tất cả những tài liệu trên đã tạo điều kiện thuận lợi đồng thời cũng là
nguồn tài liệu tham khảo phong phú, song không tránh khỏi những ảnh hưởng
của những người đi trước. Nên để có cái nhìn sâu sắc và cụ thể hơn nữa về kinh
tế Đại Việt nói chung và kinh tế Đàng Trong nói riêng, chúng tôi tiếp tục nghiên
cứu vấn đề “Tình hình kinh tế công thương nghiệp Đàng Trong từ thế kỷ XVII
đến đầu thế kỷ XVIII” để làm rõ những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm về
Đàng Trong ở các thế kỷ XVII, XVIII.
3. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ, đóng góp của khóa luận
3.1. Đối tƣợng
Nghiên cứu về tình hình kinh tế công thương nghiệp Đàng Trong từ thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XVIII.
3.2. Phạm vi
3.2.1. Về mặt không gian
Khu vực Đàng Trong cụ thể là từ Sông Gianh (Quảng Bình ngày nay) trở
vào phía Nam đến mũi Cà Mau, thuộc Nam Bộ - Việt Nam ngày nay. Trong đó
điển hình với một số tỉnh như: tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Cà Mau, Kiên Giang,
Mỹ Tho…
3.2.2. Về mặt thời gian
Từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII - Đây được coi là thời kỳ khá phát
triển của nền kinh tế công thương nghiệp Đàng Trong với nhiều thành tựu về
kinh tế và xã hội.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập trung tái dựng lại hoạt động thủ công nghiệp và nội thương,
ngoại thương cũng như việc giao lưu trao đổi buôn bán của nhà nước phong kiến
Đàng Trong với phương Tây và trong các nước trong khu vực.

5. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo khóa luận có
cấu trúc gồm ba chương:
Chương 1. Bối cảnh Đại Việt từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII
Chương 2. Tình hình kinh tế công thương nghiệp Đàng Trong từ đầu thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XVIII
Chương 3. Hệ quả của sự phát triển kinh tế công thương nghiệp ở Đàng Trong

5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH ĐẠI VIỆT TỪ CUỐI THẾ KỶ XVI
ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XVIII

1.1. Quá trình thiết lập quyền lực của các chúa Nguyễn
1.1.1. Công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn
Từ khi chiến tranh Nam - Bắc triều còn đang tiếp diễn, trong nội bộ Nam
triều đã nảy sinh những mầm mống chia rẽ. năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị
sát hại, vua Lê trao mọi quyền binh cho Trịnh Kiểm. Hai họ Trịnh - Nguyễn vốn
đã từng được gắn kết bởi mục đích chung giúp vua Lê dựng lại cơ nghiệp, lại
được thắt chặt thêm bằng mối quan hệ hôn nhân (Trịnh Kiểm là con rể của
Nguyễn Kim), đến đây bị rạn nứt. Để thâu tóm mọi quyền lực, Trịnh Kiểm tìm
mọi cách loại bỏ ảnh hưởng của họ Nguyễn. Mâu thuẫn giữa hai thế lực đạt đến
độ gay gắt khi người con trai trưởng của Nguyễn Kim là Tả tướng Nguyễn Uông
bị Trịnh Kiểm lập mưu giết hại. Em trai của Uông là Nguyễn Hoàng, theo lời
gợi ý của nguyễn Bỉnh Khiêm, đã nhờ chị gái Bảo Ngọc là vợ Trịnh Kiểm xin
cho được ra trấn đất Thuận Hóa. Việc ra đi của Nguyễn Hoàng như lịch sử đã
cho thấy không chỉ để bảo toàn tính mạng, mà thực hiện bước mở đầu cho chiến
lược lâu dài: xây dựng lực lượng chống lại họ Trịnh. Đất Thuận Hóa trở thành
nơi xây dựng cơ nghiệp của họ nguyễn.
Cuối năm 1558, Nguyễn Hoàng đưa gia quyến, tùy tùng và họ hàng thân

tranh đến gần thế kỷ. Phù Nam - Chân Lạp hùng mạnh ở Ðông Nam Á nhờ canh
nông phát triển, nhờ tiếp xúc giao thương với Trung Hoa, Nhật Bản và các nước
Tây Phương. Giáp giới Chiêm Thành và sau này với Ðàng Trong, Phù Nam -
Chân Lạp dù muốn hay không đã tiếp nhận các nhóm di dân tự động từ Ðàng
Trong di cư theo làn sóng Nam Tiến của chúa Nguyễn đến khai phá rừng hoang,
khai canh lập nghiệp, đông đảo nhất vùng Mô Xoài - Ðồng Nai. Đến năm 1658,
vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân nhân cơ hội nước ta có nội chiến, đem quân
xâm chiếm biên giới Thuận Quảng. Chúa Nguyễn Phúc Tần sai Nguyễn Phúc
Yến là phó chưởng dinh Trấn Biên (Phú Yên) đem ba nghìn quân sang đánh Nặc
Ông Chân ở Mỗi Xuy (nay thuộc huyện Phước Chính, tỉnh Biên Hòa). Phúc Yến
bắt được Nặc Ông Chân đem về Quảng Bình nộp cho chúa Nguyễn đang hành
quân ở đó. Phúc Tần thả Ông Chân, sai quân đem về nước, bắt phải xưng thần
triều cống và phải bênh vực người Việt sang làm ăn ở Mô Xoài và Đồng Nai. Từ
bấy giờ trong nước Chân Lạp thường hay xảy ra nội loạn, bọn hoàng thân tranh
nhau chia phe phái, phe thì cầu viện với vua Xiêm, phe thì cầu viện với chúa
Nguyễn. Vì vậy để giữ thế quân bình chính trị và quân sự với Xiêm La, triều
đình Chân Lạp đang cần bang giao thân thiện với các chúa Ðàng Trong nên chúa
Nguyễn nhân cơ hội đó đã lấn dần đất Chân Lạp.
Năm 1674, Nặc Ông Chân chết. Nặc Ông Nộn nối ngôi. Cố người tôn thất
là Nặc Ông Đài cầu viện quân Xiêm về đánh Ông Nộn để cướp ngôi. Ông Nộn
chay sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn sai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn
Dương Lâm đem binh chia làm hai đạo tiến đánh Ông Đài ở Cao Miên, phá

7
được thành Gô Bích rồi tiến vây thành Nam Vang. Ông Đài thua rồi chết em là
Ông Thu ra hàng nên được chúa Nguyễn phong cho làm chính quốc vương,
đóng đô ở Long Úc, còn Ông Nộn được phong làm Phó quốc vương đóng đô ở
Sài Gòn cả hai hàng năm phải triều cống.
Năm 1678 có bọn quan binh nhà Minh, Tổng binh thành Long Môn (Quảng
Tây) là Dương Ngạn Địch cùng các phó tướng không chịu làm tôi nhà Thanh,


8
chừng và ngăn chặn ảnh hưởng của Xiêm La. Mạc Cửu lĩnh chức, xây thành lũy,
dựng dinh thự, mở mang phố xá, dân các nơi kéo đến ngày một đông. Không
bao lâu Hà Tiên trở thành nơi đô hội thịnh vượng thuận lợi cho việc phát triển
ngoại thương. Hơn nữa, ở Cao Miên lúc nấy giờ vẫn luôn có sự tranh ngôi đoạn
quyền nên thế nước rất yếu. Năm 1733, Phúc Trú phát binh đánh lấy các miền
Mỹ Tho và Vĩnh Long của Cao Miên để lập làm châu Định Viễn, dinh Long Hổ.
Năm 1750, lấy cớ rằng vua Cao Miên hay cho binh lấn đất Côn Nam là đất
người Chiêm Thành còn chiếm tại miền Tây Bình Thuận thì Phúc Khoát sai
Thiện Chính làm Tổng binh và Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, thống xuất
quân và lợi dụng người Côn Nam làm ứng viện để đánh chiếm Cao Miên, định
mở rộng thêm bờ cõi. Quân Việt đánh thẳng vào Nam Vang. Ông Nguyên phải
chạy ra Hà Tiên nương nhờ Mạc Thiên Tứ (con của Mạc Cửu) rồi xin dâng đất
Lôi Lạp, và xin trở về nước vào năm 1757. Sau đó con ông là Ông Tôn tránh
nạn ở Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ bao dung và nhờ quân Việt giúp nên mới
được trở về nước làm vua, lại dâng đất Tầm Hào (tức nơi tỉnh lỵ Vĩnh Long
ngày nay) và đặt thêm ba đạo là Đông Khẩu đạo ở Sa Đéc, Tân Châu đạo ở Tiền
Giang và Châu Đốc đạo ở Hậu Giang. Ông Tôn lại đem các đất Hương Ức, Cần
Bột, Trực Sâm, Linh Quỳnh và Sài Mạt để tạ ơn Mạc Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ
lại dâng những vùng đất ấy cho Phúc Khoát điều lệ thuộc về chấn Hà Tiên. Thế
là tất cả miền Nam Bộ ngày nay đã là lãnh thổ của dân tộc Việt.
Như vậy, chúa Nguyễn đã lấn chiếm cả phần nửa nước Chân Lạp tương
đương với đất Nam Bộ ngày nay và đã hoàn thành song công cuộc Nam tiến của
dân tộc Việt Nam.
1.1.2. Chúa Nguyễn xưng vương, xây dựng cơ nghiệp ở Đàng Trong
Để lôi kéo nhiều người đến Thuận Hóa làm ăn sinh sống, Nguyễn Hoàng và
những công sự của ông đã thực thi một số biện pháp và chế độ cai trị khoan hòa,
khuyến khích sản xuất như: “ Chúa vỗ về thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng,
được dân mến phục, thường gọi là chúa tiên ”[20: tr138]. Lượng thấy sức lực

có Hoành Sơn và Linh Giang, phía nam có núi Hải Vân và Thạch Bi, địa thế
hiểm cố, thật là một nơi để cho người anh hùng dụng võ. Nếu biết dạy bảo
nhân dân, luyện tập binh sĩ, kháng cự lại họ Trịnh thì gây dựng được cơ
nghiệp muôn đời” [20: tr139]. Người trực tiếp thực hiện lời di huấn đó là
Nguyễn Phúc Nguyên. Phúc Nguyên là con trai thứ 6 của Nguyễn Hoàng. Ngay
từ lúc còn trẻ đã tỏ ra là một anh kiệt. Năm 1602 được Nguyễn Hoàng giao cho
làm trấn thủ xứ Quảng Nam, Phúc Nguyên đã có nhiêu công lao trong việc mở
mang thương cảng Hội An và phát triển thương mại quốc tế. Nên khi lên ngôi
theo tư tưởng và cách thức của cha, Phúc Nguyên tìm mọi cách từng bước ly
khai với thế lực của chúa Trịnh, thoái thác việc cống nạp, không đóng góp tài
phú binh dịch để cống quốc nữa khiến chúa Trịnh ngày càng thấy rõ mối nguy
của sự phân lập của chúa Nguyễn.
Ngay sau khi thay cha trấn thủ Thuận - Quảng, Phúc Nguyên cho sửa thành
lũy, sắp đắt lại hệ thống quan ải, cải tổ lại bộ máy cai trị. Năm 1614 ba ty Đô,
Thừa Hiến theo hệ thống của nhà Lê bị bãi bỏ, thay băng ty Xa sai, ty Tướng
thần và ty Lệnh sử. Về sau quy chế về chức trách và quyền hạn của các phủ,

10
huyện được ban hành. Năm 1618, chính quyền họ Nguyễn tiến hành đo đạc lại
ruộng đất hai Xứ, làm cơ sở cho việc quản lý. Đối với nhà Lê khác với cha,
Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách thoái thác việc cống nạp. Tình hình trở nên
căng thẳng vào năm 1620 khi Trịnh Tráng sai Đô đốc Nguyễn Khải đem 5000
quân đến của biển Nhật Lệ để uy hiếp. Có lúc nhân họ Trịnh rối ren (Trịnh Tùng
chết năm 1623), Phúc Nguyên toan cất công tấn công ra Bắc nhưng rồi lại thôi.
Trịnh Tráng lên thay Trịnh Tùng thi hành chính sách cứng rắn với họ Nguyễn.
Nhưng đến năm 1627, chiến tranh nổ ra. Trên thực tế đó khiến cho đất nước bị
chia cắt thành hai miền, vùng từ đèo Ngang trở ra Bắc năm dưới quyền cai trị
của chính quyền Lê - Trịnh gọi là Đàng Ngoài. Đất Thuận - Quảng được gọi là
Đàng Trong.
Từ đây, những công tích to lớn của các chúa Nguyễn trên dải đất Đàng

hành lấn át vua Lê. Nguyễn Hoàng nhận thấy họa sát thân đang đến gần, xui sử
các tướng Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê đang đóng quân ở cửa
Đại An tạo phản, xin cầm quân đi đánh rồi giả vờ thua, theo đường biển chạy
về Thuận Hóa. Trước sự rạn nứt mới trong quan hệ với triều đình Thăng Long
và họ Trịnh, bất chấp việc làm của Trịnh Tùng, cuộc tranh giành quyền lực
trước giờ được tiến hành một cách ngấm ngầm, nay có thể trở thành cuộc đối
đầu công khai, tình hình chính trị căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi Nguyễn
Hoàng ra đi. Chiến tranh có thể xảy ra bất cứ khi nào, Nguyễn Hoàng đã khôn
khéo tránh sự đụng độ đao binh và xoa dịu mâu thuẫn với việc gả Ngọc Tú cho
Trịnh Tráng (cô lấy cháu) và hằng năm nộp thuế đều đặn. Nguyễn Hoàng dời
dinh sang phía Đông, bắt đầu thực hiện một chính sách cai trị mới, tách khỏi
ràng buộc của họ Trịnh.
Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên tự ý bổ dụng các chức quan ở Thuận
Hóa, thải hồi các quan lại do vua Lê, chúa Trịnh phong trước đây. Chúa Nguyễn
đã có ý ra mặt công khai đối đầu với họ Trịnh. Năm 1620, họ Trịnh cho quân
vào Nam nhằm lật đổ Phúc Nguyên, dựng Phúc Anh lên, nhưng không thành.
Họ Nguyễn lấy cớ này không nộp thuế nữa, mâu thuẫn giữa hai họ Trịnh -
Nguyễn trở nên cẳng thẳng hơn. Sau khi lên nối nghiệp, chúa Trịnh Tráng (1623
- 1657) có ý đưa quân vào Nam đánh họ Nguyễn. Năm 1627, Trịnh Tráng lấy cớ
họ Nguyễn không nộp thuế mà phát binh, chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra.
Kể từ đó họ Trịnh và họ Nguyễn thường xuyên đem quân đánh nhau, gây biết
bao nhiêu đau thương, tang tóc cho nhân dân hai miền, làm cho đất nước chìm
trong cuộc nội chiến đẫm máu và bị chia cắt kéo dài hơn một thế kỷ.
Trong vòng 45 năm quân Trịnh đã tấn công quy mô lớn vào Đàng Trong. Nhìn
toàn cục, quân Trịnh mạnh hơn, có thời quân Trịnh đã huy động đến 20 vạn
quân thủy bộ với 600 chiến thuyền, 500 thuyền vận tải và 500 voi cho một trận
đánh. Trong khi đó, quân đội thường trực của Đàng Trong chỉ có khoảng 4 vạn
binh với 200 thuyền chiến. Nhưng do phải điều động quân đi xa và gặp rất nhiều
khó khăn trước hệ thống phòng ngự kiên cố của quân Nguyễn nên quân Trịnh
không lần nào giành được thắng lợi quyết định. Vào năm 1655, quân Nguyễn

dinh Thủy và bộ Quảng Bình, dinh Bố Chính, phát tiền cho quân cùng cấp lính
các xã, quản lý tài chính, thu thuế, cấp phát lương bổng.
Ty lệnh sử: Có quan Nha úy đứng đầu chuyên phụ trách các hoạt động văn
hóa, lễ nghi, tế tự, lễ tiết, phát lương tháng cho quân ở Chánh Dinh và coi các
quan điền.
Mỗi ty ngoài các quan đứng đầu còn có 60 nhân viên giúp việc: câu kê 3
người, cai hợp 7 người, thủ hợp 10 người và ty lại 40 người. Năm 1669, chúa
Nguyễn Phúc Tần đặt thêm một ty mới: Ty Nông lại để trông coi việc thu thuế
ruộng đất. Năm 1638, Chúa Nguyễn Phúc Lan đặt thêm 4 chức quan mới làm tứ

13
trụ đại thần, gồm nội tả, ngoại tả, nội hữu, ngoại hữu là chức quan cao nhất
trong chính quyền Thuận Hóa.
Ngoài ra, Chính Dinh còn có thêm Ty Nội lệnh sử coi các loại thuế, hai ty
Tả, Hữu lệnh sử chia nhau thu nộp tiền sai dư (thuế thân) của các xã hai xứ để
nộp cho Nội quan. Ty Lệnh sử đồ gia (Nhà đồ) giữ việc thu phát vật liệu, phẩm
vật (như sắt, đồng, vàng thiếp, đồ đồng, than, gỗ, dầu sơn) quản lý kho. Tiếp đó
vào năm 1744 chúa Phúc khoát xưng vương, thành lập triều đình, đổi các chức
kí lục, nha úy, đô ti. Cai bạ là Lai Bộ, lễ Bộ, Hình Bộ, Hộ bộ và đặt thêm hai bộ
binh và bộ công, đặt Hàn lâm viện.
Về bổ nhiệm quan lại, nửa đầu thế kỷ XVII, quan lại được bổ nhiệm theo
tiến cử, thân tộc. Năm 1646, chúa Nguyễn Phúc Lan bắt đầu định phép thi cử
gồm 2 cấp: Chính đồ (khoa thi lấy người đậu ra làm quan) và Hoa văn (khoa thi
lấy học trò viết chữ tốt ra làm lại). Xây dựng vùng đất Đàng Trong trong bối
cảnh phải đương đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài và tự mở mang thêm lãnh thổ
nhằm tạo thế lực nên Nguyễn Hoàng và các chúa kế nghiệp đã xây dựng một thể
chế đậm tính quân sự, lấy quân đội làm chỗ dựa và ưu tiên việc điều binh.
- Tổ chức chính quyền ở địa phương:
Bao gồm có: Các dinh trấn đều có trấn thủ, cai bạ, kí lục cai quản.Ở các
huyện có tri huyện, đề lai, thông lai, huấn đạo, lễ sinh.

tất yếu cho sự tồn tại của bất cứ một chính quyền nào, nếu không có nguồn thu
để nuôi chính quyền, cũng như quân đội thì họ Nguyễn khó có thể tồn tại được.
Tuy dân cư còn ít nhưng việc thu thuê cũng như tuyển chọn quân lính đối với
chính quyền họ Nguyễn hết sức quan trọng.
- Về quân đội : Quân đội của chúa Nguyễn gồm 3 loại : Quân Túc vệ hay
Thân quân, quân chính quy ở các dinh và thổ binh hay tạm binh. Các loại quân
đều chia thành cơ, đội, thuyền.
Cũng như ở Đàng Ngoài, quân đội Đàng Trong gồm bộ binh, thủy binh,
tượng binh và pháo binh. Thủy binh rất mạnh đã từng đánh bại một hạm thuyền
Hà Lan trong một trận. Đầu thế kỷ XVII, người Đàng Trong học được cách đúc
súng, các thuyền lớn đều có 5 khẩu đại bác. Một đặc điểm của Đàng Trong là
vùng nam sông Gianh có rất nhiều lũy, trên lũy có đặt đại bác. Chúa Nguyễn
cũng thường tổ chức các cuộc thi bắn súng huấn luyện thủy quân.
Như vậy, từ sau khi Nguyễn Hoàng từ bỏ đất Bắc, trở lại Thuận Hóa họ
Nguyễn dần xây dựng được đất Đàng Trong thành một lãnh địa riêng có chính
quyền độc lập, quân đội riêng và phát triển mạnh đảm bảo cho xứ Đàng Trong
có điều kiện tập trung xây dựng và phát triển nền kinh tế trong đó chủ yếu là
kinh tế nông nghiệp và công thương nghiệp.

15
CHƢƠNG 2. TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG THƢƠNG NGHIỆP Ở ĐÀNG
TRONG TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XVIII
2.1. Thủ công nghiệp
2.1.1. Thủ công nghiệp nhà nước
Kế tục truyền thống của các triều đại trước, chúa Nguyễn đều thành lập các
công xưởng thủ công phục vụ cho nhu cầu của nhà nước. Chúa Nguyễn Đàng
Trong cũng thiết lập nhiều xưởng đóng thuyền ở khắp nơi, đặt Nhà đồ chuyên
chế tạo vũ khí, làm đồ trang sức, đồ gỗ phục vụ chúa, đặt ti Nội pháo tượng, một
ti thợ đúc súng, lấy dân hai xã Phan Xá và Hoàng Giang lành nghề đúc súng vào
làm (vừa đúc đại bác vừa đúc súng Tây). Ở thế kỷ XVII, một người Bồ Đào Nha

1746 đến năm 1748, đã đúc được 72.396 quan tiền” [29: tr 212]. Ban đầu được
lưu thông với chất lượng đảm bảo, sau đó số lượng tiền đúc ra không đủ, nhà
giàu tranh nhau mở các lò đúc tiền kẽm, nên dẫn đến tệ tiền có trộn chì, mỏng,
dễ gẫy nên dân bỏ không tiêu nữa. Đến mùa xuân năm Bính Thân (năm 1776),
sau khi quân Trịnh đến chiếm Thuận Hóa, gom các vật dụng bằng đồng của họ
Nguyễn mở các xưởng đúc tiền ở phía hữu trấn dinh, lấy thợ giỏi ở các xã, trả
lương đúc mỗi tạ 7 quan tiền với công thức pha chế kim loại khi đúc tiền được
tính như sau: 100 cân đồng + 15,12 cân thiếc + 43,1 chì đúc được 38 quan tiền.
Tổng cộng số tiền đúc được tại xưởng năm đó là 30,362 quan. Từ đây nhân dân
đi vào sử dụng tiền đồng phổ biến và rộng dãi.
Xƣởng đúc súng:
Ở Đàng Trong chúa Nguyễn đã cho xây dựng xưởng đúc súng vào năm
1631. Về tổ chức trong các xưởng thì theo sách Đại Nam thực lục có ghi: “ Đặt
ty Nội pháo tượng (thợ đúc súng ở trong nội) và hai đội tả, hữu pháo tượng. lấy
dân hai xã Phan xá, Hoàng Giang (thuộc huyện Phong Lộc) lành nghề đúc súng
sung bổ vào” [29: tr213]. Tổng cộng số người trong xưởng là 80 người. Theo
cuốn lịch sử Việt Nam tập IV thế kỷ XVII - XVIII có viết rằng: “ Xưởng đúc
súng của các chúa Nguyễn được sự trợ giúp về kỹ thuật của một người Bồ Đào
Nha là Joao da Cruz và mỗi khẩu đại bác phải dùng số nguyên liệu là 15 khối
sắt, 10 cân gang, 3 quan 5 tiền than. Súng tay đúc 10 khẩu phải dùng 30 khối
sắt, 30 cân gang và 10 quan tiền than. Chính nhờ xưởng đúc này mà chúa
Nguyễn đã có hơn 200 khẩu trọng vào khoảng năm 1642” [29: tr213]. Chính
nhờ những xưởng đúc súng này đã tạo nên sức mạnh về mặt quân sự cho các
chúa Nguyễn ở Đàng Trong trong các cuộc nội chiến kéo dài gần nửa thế kỷ.
Ngoài những công xưởng trên, cả Đàng Trong và Đàng Ngoài thời kỳ này
đều có những công trường xây dựng lớn, chiêu tập nhiều thợ khéo đủ các ngành
nghề như : thợ mộc , thợ nề, thợ đá, thợ rèn, thợ sơn… để xây dựng các đền đài,
cung vua, phủ chúa…. Các đội thợ vàng bạc, thợ may, thợ chạm khắc chuyên
làm việc chế tác các đồ trang sức, mũ áo, đồ nghi trượng, trang trí nhà cửa cho
các quý tộc cung đình… họ chịu sự quản lỳ chặt chẽ của Hộ phiên. Cụ thể như ở

cả cho Nhật Bản, gửi sang cả vương quốc Lais và từ nước này còn được đưa
sang cả đến Tây Tạng” hoặc theo P. Poavrơ nhận xét rằng: “tơ của họ rất đẹp,
từ nay họ còn cung cấp được nhiều hơn nữa, nếu như Đàng Trong có thị trường
tiêu thụ” [25: tr 367, 368]. Các xứ Quảng Bình, Thuận Hóa,…đều có những
làng sản xuất tơ lụa nổi tiếng. Mặt hàng tơ lụa gồm nhiều loại như: lụa trắng, lụa
vàng, the, lĩnh, lượt, lụa hoa, nhiễu, đoạn, vải nhỏ, vải trắng, vải nhỏ, vải quý,
vải hoa, vải sợi đôi, tơ mộc trắng, tơ mộc vàng,…kĩ thuật trình độ dệt, theo như
nhận định của Lê Quý Đôn là “không thua kém gì Quảng Đông”. Hay theo nhận
xét của P.Poavrơ “ máy dệt của họ na ná giống máy của ta, có hơi đơn giản
hơn… Tôi có nói với người thợ dệt về hàng tơ lụa của Trung Quốc và của chúng

18
ta, vừa mềm mại, vừa đẹp, tốt… và hỏi người ấy có làm được không. Người ấy
trả lời: làm được” [22: tr165].
Về tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính cá thể, gia đình. Nhưng cũng có
những trường hợp cá biệt như theo Lê Quý Đôn khi vào Phú Xuân có chứng
kiến một trường hợp đáng chú ý là “có 3 ấp, mỗi ấp 10 nhà, mỗi nhà có 15 thợ
dệt”[15: tr66]. Có nghĩa, đây là một hình thức phường hợp tác mang tính tự
nguyện của thợ thủ công chứ không phải mầm mống của công trường thủ công
hay hợp tác xã đơn giản có chủ thầu hàng. Thế nhưng những hạn chế của nhà
nước về khổ vải, độc quyền thu mua tơ và bán tơ cho thương nhân nước ngoài,
thuế má, lao dịch… đã làm cho nghề dệt không phát triển mạnh lên để chuyển
sang một phương thức sản xuất mới.
- Nghề làm đƣờng: Đây vốn là nghề thủ công cổ truyền có tiếng từ thời
Bắc thuộc, nghề làm đường phát triển rộng ở các thế kỷ XVII, XVIII. Mía được
trồng ở nhiều nơi, nhân dân dùng trâu bò kéo máy ép và làm lò nấu đường, nấu
mật để làm ra mật hay đường phên. Ở Đàng Trong, vùng Quảng Nam, Quảng
Ngãi, nghề làm đường đặt biệt phát triển. Hàng năm, nhà chúa đã thu 15.922 cân
đường phên, 7960 cân đường cát thuế của châu Xuân Đài (Quảng Nam) 24.438
cân đường phên của xã Đông Phiên (Quảng Nam)…tính chung toàn miền Nam,

gốm lúc này đã được chuyên môn hóa, có nhiều sản phẩm đẹp, mẫu mã tinh xảo.
Phần lớn sản phẩm được lưu thông tiêu dùng trong nước và cả xuất khẩu.
- Nghề làm đồng hồ: Tuy không phổ biến và không tồn tại lâu dài, song là
một nghề mới xuất hiện. Từ thế kỷ XVII đến đầu XVIII, một giáo sĩ xã Đại Hào
huyện Đăng Xương (Thừa Thiên), tên là Nguyễn Văn Tú được sang Hà Lan 2
năm, học được nghề làm đồng hồ. Ông đã từng chế tạo nhiều đồng hồ lớn đặt ở
đài Thiên Văn của Đàng Trong quanh phủ chúa hay tại các sở tàu vụ lớn. Ngoài
ra Văn Tú còn chế ra những đồng hồ nhỏ theo cách thức trước nhưng bớt đi 5
bánh xe và 6 quả chuông. Đặc biệt hơn sau khi chữa đồng hồ cho chúa Nguyễn,
Văn Tú còn làm ngay một chiếc đồng hồ khác giống như vậy, nhưng thêm 2
bánh xe đồng có lỗ thông hơi với mặt ngoài để chỉ ngày. Tuy trình độ kĩ thuật
của Văn Tú khá cao, song cũng như nhiều nghề khác của nước ta lúc bấy giờ,
nghề làm đồng hồ của Văn Tú không được truyền ra ngoài, không được tổ chức
khuyến khích, cũng không có nguồn tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu nên chẳng
bao lâu sau cũng hoàn toàn biến mất.
- Nghề khai mỏ: Ở Đàng Trong ít mỏ nhưng công cuộc khai quặng cũng
giữ một vị trí quan trọng. Ở Phú Bài (Thừa Thiên) có mỏ sắt, dân khai mỏ hàng
năm nộp thuế sắt và được miễn phu dịch. Ở Bố Chính (Quảng Bình) cũng có mỏ
sắt, một năm dân nộp thuế 500 khối sắt. Vàng rải ra ở nhiều nơi từ Thừa Thiên
cho đến Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam. Nhân dân ở đây lập thành các thuộc
(gọi là kim hô) với số dân thực nạp hơn 5000 người chuyên đào đất, đãi vàng,
lao động giản đơn. Vào nửa sau thế kỷ XVIII, nhân cái lợi lớn của các nguồn có
vàng, quốc phó Trương Phúc Loan đã lấy nguồn Thu Bồn làm ngụ lộc, cho
người nhà trưng thu hơn 20 năm “ được vàng không biết bao nhiêu mà kể”. Một
người địa phương là Giang Huyền bèn dựa vào đó, mua một ngọn núi “tự khai

20
thác lấy đem bán các nơi, đến cả Hội An bán cho khách buôn, hàng năm không
dưới hơn 1000 hốt. Những người các thôn phường kim hộ đều do hắn sai khiến,
nộp thuế công chẳng qua 1- 2 phần 10” [25: tr371].

Dương, chợ Man Giả
 Phủ Diên Khánh có 3 chợ: chợ Dinh Nha Trang, chợ Vĩnh An, chợ Phú Vinh
 Phủ Gia Định có 5 chợ: chợ Lạch Cát, chợ Sài Gòn, chợ Phú Lâm, chợ
Lò Rèn, chợ Bình An

21
Đến thế kỷ XVIII, ở Gia Định còn có thêm chợ Bến Nghé, chợ Cây Đa, chợ
Bến Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Thị Nghè, chợ Tân Kiểng, chợ Bình An, chợ Sài
Gòn, chợ Nguyên Thực.
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã dẫn đến sự hình thành các luồng buôn
bán lưu thông hàng hóa giữa các vùng trong nước. Gia Định trở thành đầu mối
thị trường gạo, gạo từ đây chuyển ra vùng Thuận Quảng và các nhu yếu phẩm từ
Thuận Quảng được mang vào tiêu thụ ở Nam Bộ. “Không có nơi nào giá thóc rẻ
như thế. Ở đó gạo trắng và mềm,…” [22: tr175]. Dù bị các chúa Trịnh và chúa
Nguyễn ngăn cấm, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài vẫn có luồng buôn bán trao
đổi không chính thức. Gạo từ Gia Định được bán ra Bắc Hà để đổi lấy lụa, đĩnh,
đoạn, quần áo.
Ngoài việc buôn bán bằng xe ngựa, xe bò, gồng gánh, các thương nhân
thường sử dụng thuyền để chở hàng đi các vùng xa. Người miền xuôi thường
chở gạo, muối, hải sản, bát đĩa, ấm chén, vải vóc, tơ lụa… lên bán cho dân miền
núi và mua các thứ lâm sản chở về xuôi. Dân buôn thường chở gạo thóc từ Gia
Định ra bán cho dân Thuận Quảng và mua các hàng phương bắc trở vào. Một số
người chuyên nghề chở thuyền thuê xuất hiện. Họ đóng thuyền lớn và chở thuê
hàng hóa cho các thương nhân. Chúa Nguyễn đã định lệ đánh thuế thuyền buôn
như sau: “ thuyền rộng 11 thước nộp thuế 11 quan, thuyền rộng 5 thước nộp
thuế 5 quan, thuyền rộng 4 thước nộp thuế 4 quan” [22: tr176]. Nhờ vậy, mà
đến năm 1768 riêng thuế vận tải về thuyền chúa Nguyễn đã thu được 2.639 quan
tiền. Việc đánh thuế thuyền buôn trở thành một nguồn lợi lớn của nhà nước.
2.2.2. Ngoại thương
Nhận thấy những hạn chế của điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status